1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của c mác về tha hoá, giải phóng con người và ý nghĩa của nó đối với phát triển con người việt nam hiện nay

45 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Của C. Mác Về Tha Hóa, Giải Phóng Con Người Và Ý Nghĩa Của Nó Đối Với Phát Triển Con Người Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Ths. Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 535,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời Mác cũng phê phán quan niệm của các nhà kinh tế học tư sản khi coi sự phát triển của hệ thống tín dụng, hệ thống ngân hàng là những nấc thang khắc phục sự tách rời của con ngườ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Ths.Nguyễn Thị Thanh Huyền

QUAN NIỆM CỦA C MÁC VỀ THA HOÁ, GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

VIỆT NAM HIỆN NAY

Hà nội 2005

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do ch ọn đề tài

1 Lý luận Mác-Lê Nin về hình thái kinh tế -xã hội là lý luận khoa học đã

phản ánh chính xác, sâu sắc bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, chỉ ra xu

hướng vận động của nó và dự đoán về sự ra đời của xã hội mới xã hội cộng sản

chủ nghĩa Đó là xã hội phát triển cao hơn về chất so với các hình thái xã hội

trước đó Trong xã hội đó con người được sống đúng bản chất của mình được tự

do phát triển và hoàn thiện mình Khi phân tích thực trạng xã hội tư bản chủ

nghĩa, Mác và Ăng Ghen đã vạch ra mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là mâu thuẫn

giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ

chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất Chính chế độ sở

hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất đã dẫn đến bất công, áp

bức, đến sự tha hoá con người Và triết học Mác- Lê Nin đã chỉ ra cho nhân loại

con đường thực hiện giải phóng con người khỏi mọi sự tha hoá, khỏi mọi bất

công và áp bức, phát triển toàn diện con người Điều đó phù hợp với mong

muốn của nhân dân lao động và với mong muốn của cả loài người tiến bộ Lý

luận Mác- Lê Nin vì vậy đã là kim chỉ nam cho các dân tộc bị áp bức trên con

đường phát triển của mình

Từ sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu,

nhiều người nghi ngờ về một chế độ xã hội tốt đẹp mà học thuyết Mác đã chỉ ra

Trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ, do những yếu tố chủ quan và điều kiện

khách quan khác nhau, hiện tượng quan liêu, tha hoá của bộ máy nhà nước đã là

một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống chính trị Đặc biệt

với những thành tựu mà xã hội tư bản hiện đại đạt được, với những điều chỉnh

trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội, với việc tận dụng những thành tựu

mới của cách mạng khoa học và công nghệ để thích nghi, để điều hoà mâu

thuẫn, các nước tư bản chủ nghĩa đã vươn lên khá hơn Chính vì vậy,nhiều quan

điểm cho rằng học thuyết Mác về bản chất xã hội tư bản chủ nghĩa không còn

đúng, rằng bản chất của chủ nghĩa tư bản đã thay đổi Vì vậy học thuyết Mác về

Trang 3

hình thái kinh tế- xã hội không còn giá trị, rằng thời đại ngày nay không phải là

thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

2.Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước nhằm thực hiện

mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Sau hai mươi năm thực hiện

đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, chúng ta đã đạt

được những thành tựu quan trọng Nhờ đổi mới kinh tế, Việt Nam đã vượt qua

những thập niên khủng hoảng, bước vào thời kỳ mới- thời kỳ ổn định và phát

triển Cùng với những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, diện mạo đất nước có

nhiều thay đổi trên mọi lĩnh vực, tạo nên bước phát triển vượt bậc được bạn bè

thế giới ghi nhận Tuy nhiên từ thực tiễn xây dựng đất nước, đặc biệt với việc

phát triển nền kinh tế thị trường, những mặt trái của đời sống xã hội như: sự tha

hoá lối sống, đạo đức của một bộ phận cán bộ, nhân dân; hiện tượng phân hoá

giàu nghèo; hiện tượng tham nhũng, lãng phí; gây sách nhiễu phiền hà cho

dân đang là những vấn đề nổi cộm thu hút sự quan tâm của cả xã hội

Như vậy thực tiễn xây dựng đất nước, đang đặt ra rất nhiều vấn đề mà lý

luận cần giải đáp : Nhận thức như thế nào về sự tha hoá trong thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội để có thái độ ứng xử đúng với biểu hiện của nó trong xã hội

Việt Nam hiện nay; Sau khi tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

chúng ta cần tiếp tục làm gì để kết thúc thời kỳ quá độ; Thoát khỏi tình trạng

một nước nghèo để tiến tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn là một vấn đề

lớn nhất hiện nay Song bứt phá bằng cách nào, bằng con đường nào để có sự

giàu có chung của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam chứ không phải sự giàu

có của một thiểu số như trong XHTB; Bằng cách nào để loại bỏ một cách cơ bản

tình trạng quan liêu, tha hoá trong một bộ phận của bộ máy Đảng và Nhà nước

3.Những vấn đề thực tiễn trên thế giới và Việt Nam trên đây, đòi hỏi

chúng ta cần nhận thức sâu sắc hơn quan điểm của các nhà kinh điển Mác xít,

đặc biệt những tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn của C.Mác và

Ph Ăng Ghen để khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã

hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Đồng thời quan điểm của các nhà kinh

điển Mác- Lê Nin sẽ tiếp tục soi sáng để chúng ta nhận thức và giải quyết những

Trang 4

nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển con người Việt Nam Chính

vì vậy việc nhận thức và nhận thức lại tư tưởng của C.Mác vàPh Ăng Ghen một

cách sâu sắclà vấn đề không bao giờ trở thành vấn đề đã song, đã cũ Mà đó là

vấn đề đã đang và sẽ còn cần đuợc tiếp tục nghiên cứu Xuất phát từ những lý do

đó, chúng tôi chọn đề tài “Quan niệm của C.Mác về tha hoá, giải phóng con

người và ý nghĩa của nó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay”

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA C.MÁC

VỀ THA HOÁ

Trang 5

1.QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ THA

HOÁ(TỪ 1843 ĐẾN THỜI KỲ XUẤT BẢN “TƯ BẢN”)

Vấn đề về sự tha hoá đã được Mác quan tâm từ rất sớm, ngay từ những

tác phẩm thời kỳ Mác chưa chuyển sang lập trường của chủ nghĩa duy vật ông

đã đề cập đến những hình thức biểu hiện khác nhau của hiện tượng tha hoá Tư

tưởng về tha hoá của Mác được hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của chủ

nghĩa Mác

1.1.Th ời kỳ trước năm 1844

Tư tưởng về tha hoá của Mác xuất hiện từ rất sớm ngay trong những bài

báo và tác phẩm ở thời kỳ trước năm 1844- thời kỳ ông chưa chuyển hẳn sang

lập trường của chủ nghĩa duy vật Trên tờ “ Báo mới vùng Ranh” và “Những

cuộc tranh luận về luật cấm trộm gỗ rừng”, Mác đề cập đến thái độ bái vật giáo

của con người đối với các quan hệ kinh tế hiện thực và đến tính chất bái vật giáo

của tiền tệ Tiếp theo trong tờ “Niên giám Pháp- Đức”, Mác tiến gần đến tư

tưởng về tính chất bái vật giáo hàng hoá, Mác coi những ảo tưởng tôn giáo cũng

là một dạng tha hoá

-Trong tác phẩm “ Về vấn đề Do thái”, khái niệm tha hoá đã được Mác

phác thảo khá rõ nét Ở đó, Mác đã đề cập đến các thứ bậc khác nhau của tha

hoá Mác tiến hành phê phán tha hoá tôn giáo, theo đó tôn giáo là “ biểu hiện

của sự tách rời và đẩy xa nhau giữa con người” Và gắn liền với nó là sự tha hoá

xã hội –chính trị- nền tảng “ thế tục” của tôn giáo Theo Mác thì sự tha hoá xã

hội-chính trị, biểu hiện ra ở sự đối lập giữa con người của xã hội công dân và

con người chính trị Sự tha hoá biểu hiện ở chính sự “rạn nứt”, sự phân đôi của

bản chất con người Từ đó, Mác đặt vấn đề về mối quan hệ giữa giải phóng

chính trị và giải phóng con người, và đi đến tư tưởng nhân đạo về sự giải phóng

con người khỏi sự tha hoá chính trị Trong tác phẩm này, Mác chưa đi đến tư

tưởng về tha hoá kinh tế, nhưng ở đây những hiện tượng bái vật giáo hàng hoá

đã được thể hiện như là những hiện tượng phái sinh từ những quan hệ thuần tuý

kinh tế, còn bái vật giáo hoá tiền tệ được lý giải như là “ bản chất đã tha hoá của

Trang 6

lao động và của tồn tại con người ra khỏi con người” thông qua các quan hệ của

sự vật “ sự tha hoá của các vật là thực tiễn của sự tha hoá của con người”

-Tác phẩm “góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê

Ghen”(1843), là sự tiếp tục tư tưởng tha hoá xã hội-chính trị của Mác trong tác

phẩm “ Về vấn đề Do thái” Trong tác phẩm này vấn đề tha hoá nhà nước- biểu

hiện tập trung của tha hoá xã hội-chính trị được Mác khảo sát trên cơ sở phê

phán quan niệm nhà nước pháp quyền của Hê Ghen Theo đó tư tưởng của Mác

thể hiện sự đối lập với quan niệm của Hê Ghen khi lý giải về nguồn gốc của nhà

nước, không phải nhà nước là nền tảng của xã hội công dân mà ngược lại xã hội

công dân mới là nền tảng của nhà nước Và như vậy, sự tha hoá nhà nước biểu

hiện chính ở sự tách rời giữa xã hội công dân và nhà nước chính trị Sự tách rời

đó biểu hiện ở sự rạn nứt nội tại diễn ra trong con người xuất hiện trong hai vai

trò, nhưng dưới một hình thức duy nhất và như nhau: như thành viên của “tổ

chức công dân” và như thành viên của “tổ chức nhà nước” Tư tưởng về sự tha

hoá nhà nước gắn liền với tư tưởng về sự tiêu vong của nhà nước , với tư tưởng

về xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn nhà nước( với tư cách bộ máy bạo lực)

của Mác sau này

Tác phẩm này là sự mở đường cho việc xem xét tha hoá chính trị như là

kết quả của các quá trình kinh tế

Kết luận: Trong những tác phẩm thời kỳ trước năm 1844, khái niệm tha

hoá đã được Mác phác thảo khá rõ nét, các thứ bậc của tha hoá cũng đã được

ông khảo sát, theo đó tư tưởng của Mác về tha hoá đi theo thời gian cùng với sự

chuyển biến lập trường thế giới quan của ông, từ tha hoá tôn giáo đến tha hoá xã

hội chính trị Những nghiên cứu của Mác ở giai đoạn này mới chỉ là bắt đầu, nó

là tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu nền tảng của mọi dạng tha hoá - tha hoá

kinh tế ở giai đoạn sau năm 1844

1.3.2 Th ời kỳ những năm 1844-1848:

Thời kỳ này đánh dấu việc hình thành những quan niệm duy vật lịch sử

của Mác Sự chuyển biến đó tiếp tục đưa Mác đến việc luận giải nền tảng của

tha hoá tư tưởng và tha hoá chính trị- xã hội là tha hoá kinh tế và những tiền đề

Trang 7

cho xoá bỏ tha hoá Khái niệm và nội dung quan niệm tha hoá được Mác phân

tích khá rõ ràng trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844”, nhưng

trước đó những tư tưởng về tha hoá lao động đã được ông khảo cứu trong cuốn “

Tóm tắt quyển sách của Giêm-Xơmin “những nguyên lý của khoa kinh tế chính

trị học” Trong đó tha hoá được thể hiện dưới hình thái của sự sùng bái tiền tệ “

sự sùng bái vị thần đó trở thành mục đích tự thân” Đồng thời Mác cũng phê

phán quan niệm của các nhà kinh tế học tư sản khi coi sự phát triển của hệ thống

tín dụng, hệ thống ngân hàng là những nấc thang khắc phục sự tách rời của con

người với vật, của tư bản với lao động, của sở hữu tư nhân với tiền tệ, của tiền tệ

với con người, của con người với con người Mác cho rằng đó chỉ là vẻ bề

ngoài của sự khắc phục tha hoá, mà “ đó càng là sự tha hoá, sự phi nhân hoá hèn

hạ hơn và cực đoan hơn” Ở đây Mác đã đi đến tư tưởng về mối quan hệ giữa

tha hoá và sở hữu tư nhân Tư tưởng đó tiếp tục được ông luận giải sâu sắc hơn

trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế triết học 1844”

-Tác phẩm” Bản thảo kinh tế triết học 1844” có ý nghĩa lớn đối với sự

phát triển của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật Tác phẩm

cũng đánh dấu bước nhảy vọt về chất trong quan niệm tha hoá từ Hê Ghen đến

Mác Mác đã không dừng ở sự phê phán tha hoá tôn giáo và tha hoá xã

hội-chính trị, cùng với việc hình thành quan niệm duy vật lịch sử, Mác đi đến cơ sở

của mọi dạng tha hoá- tha hoá kinh tế Trong đó, Mác tập trung xem xét nhân tố

cơ bản của tha hoá kinh tế là tha hoá lao động Và chỉ ra bản chất, hậu quả của

tha hoá lao động là dẫn đến tha hoá bản chất loài của con người và sự xa lạ của

con người với con người Mác coi sự tha hoá lao động là phạm trù cơ bản để

khảo sát mối quan hệ nội tại giữa tích luỹ tư bản và bần cùng hoá công nhân

Ông cho rằng những của cải mà nhà tư bản tích luỹ được là sự bóc lột sản phẩm

lao động của công nhân; tình trạng dốt nát và bần cùng hoá của công nhân được

“ bắt nguồn từ bản chất của chính lao động hiện tại”[38,81] “ sự bần cùng của

công nhân tỷ lệ thuận với sức mạnh và quy mô sản phẩm của anh ta”[38,126]

Mác xem xét quá trình tha hoá lao động của người vô sản như là sự dần dần đạt

tới cực đỉnh của tha hoá lao động của người lao động nói chung, còn ranh giới

Trang 8

về chất giữa tha hoá trong các hình thái tư bản chủ nghĩa và tiền tư bản chủ

nghĩa mới chỉ được ông lưu tâm tới Trên cơ sở đó, Mác luận chứng cho sứ

mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản Điều đó cho thấy, Mác gắn liền

hữu cơ giữa giải phóng con người khỏi mọi tha hoá với sự nghiệp giải phóng

giai cấp vô sản

Trong tác phẩm này, Mác chưa đề cập nhiều đến giá trị lao động, nhưng

ông đã chỉ ra một cách sâu sắc rằng, trong nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu,

các phạm trù hàng hoá, tiền tệ, chẳng qua là hình thức biểu hiện được quy định

bởi hai nhân tố cơ bản: chế độ tư hữu và sự tha hoá lao động Quan hệ giữa các

vật tự nhiên được biểu hiện trong trao đổi hàng hoá, trên thực tế chỉ là sự phản

ánh của các quan hệ giữa những chủ tư hữu hàng hoá; quan hệ tiền tệ được hình

thành trên thực tế do “ bản chất có tính loài của con người bị biến thành một

bản chất xa lạ với con người”

Hệ vấn đề được Mác chú ý xem xét trong “ Bản thảo kinh tế triết học

1844”, là khái niệm “tha hoá” và “bản chất tộc loài” của con người Đây là hai

khái niệm cặp đôi, một khái niệm thể hiện mặt chính diện của bản chất con

người, còn một khái niệm thể hiện mặt phản diện của bản chất con người Thông

qua việc sử dụng hai khái niệm này, Mác thể hiện tiến trình phát triển chung của

lịch sử nhân loại với tư cách là sự vận động của bản chất tộc loại thông qua tha

hoá và lột bỏ tha hoá

Trong tác phẩm “ Bản thảo kinh tế triết học 1844”, Mác khi phân tích

khái niệm lao động tha hoá đã thực hiện sự phê phán quan niệm của kinh tế

chính trị học tư sản, của phép biện chứng Hê Ghen và quan niệm tha hoá của

Phoiơbắc

Hệ vấn đề tha hoá, đối tượng hoá và vật hoá trong tác phẩm này đã được

Mác chú ý đến Vật hoá có nghĩa là hoạt động của chủ thể, tức là hoạt động sản

xuất vật chất của loài người, lại bị coi là một sản phẩm hoặc một đối tượng nào

đó Lao động sản xuất là hoạt động cơ bản, quan trọng hàng đầu của loài người

vì sự sinh tồn của mình, do đó là hiện tượng mà bất cứ xã hội nào cũng có

Trong quá trình lao động con người đã thực hiện sự đối tượng hoá hoạt động của

Trang 9

mình Còn tha hoá là sản phẩm sản sinh ra trong những điều kiện nhất định, là

sản phẩm của chế độ tư hữu, trong đó người lao động bị chính sản phẩm lao

động của mình, bị chính hoạt động của mình nô dịch

-Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”(1845) Mác và Ăng Ghen vẫn duy trì

quan niệm về tha hoá như là một trong “những nhân tố chủ yếu của lịch sử nhân

loại” ở đây các nhà kinh điển Mác xít vẫn tiếp tục quan niệm tha hoá đã được

đưa ra trong “ Bản thảo kinh tế triết học1844” Tuy nhiên từ tác phẩm này “tha

hoá” không còn được Mác dùng như một khái niệm phản tư mà đã chuyển sang

ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực Quan niệm về tha hoá gắn liền với những

quan niệm duy vật lịch sử Mác đã hiện thực hoá cách tiếp cận việc giải quyết cơ

chế các quá trình bị tha hoá Mác vạch ra cội rễ sâu xa của tha hoá là sự phân

công lao động tiền tư bản, thậm chí tiền phân chia giai cấp Tha hoá lao động có

cội nguồn từ sự phân công lao động đã được Mác phác thảo trong “Bản thảo

kinh tế triết học1844”, đến tác phẩm này ông đi sâu phân tích mối quan hệ giữa

phân công lao động có tính chất đối kháng trong xã hội tư bản chủ nghĩa với sở

hữu tư nhân Theo đó “Sự phân công lao động và sở hữu tư nhân là những từ

ngữ cùng nghĩa người ta dùng từ ngữ thứ nhất để nói về mặt hoạt động và dùng

từ ngữ thứ hai để nói về mặt sản phẩm của hoạt động”

Nếu trong “ Bản thảo kinh tế triết học 1844”, Mác mới chỉ phác hoạ ra

biện pháp cho xoá bỏ tha hoá là xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây

dựng chủ nghĩa cộng sản, thì đến “ Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Ăng Ghen đã chỉ

ra những tiền đề thực tiễn cho việc xoá bỏ tha hoá mà thiếu nó thì mọi tư tưởng

chỉ là ảo tưởng Trong đó các ông đặc biệt nhấn mạnh đến tiền đề thực tiễn tuyệt

đối cần thiết để giải phóng con người khỏi tha hoá là sự phát triển vượt bậc của

lực l;ượng sản xuất Những hình thức phái sinh của tha hoá kinh tế cũng được

Mác khảo sát trong tác phẩm đánh dấu sự hình thành những quan niệm duy vật

lịch sử này

Trong Hệ tư tưởng Đức, Mác đi từ việc giải thích về những quan hệ khả

biến thiết lập giữa những giai cấp khác nhau và giưã những cá nhân của một giai

cấp để diễn giải sự tiến triển của sự tha hoá trong xã hội tư bản chủ nghĩa Mác

Trang 10

trình bày những mối quan hệ này như sau: Trước hết đó là những cá nhân tạo

thành giai cấp Một giai cấp mới chỉ xuất hiện dưới những hình thức cá nhân độc

lập, phân tán đây đó trong lòng những giai cấp của xã hội cũ Giai cấp mới này

chưa thể bắt các cá nhân phụ thuộc vào nó, hoặc chỉ là phụ thuộc một cách hình

thức: nó đang trong quá trình hình thành Ở đây theo Mác chưa có giai cấp “cho

nó”, mà mới chỉ là giai cấp “tự nó”, tiềm tàng Trong tình thế này chính là giai

cấp phụ thuộc vào các cá nhân hơn là các cá nhân phụ thuộc vào giai cấp Mác

dành quá trình này để mô tả sự hình thành giai cấp tư sản trong thời kỳ trung cổ

Tiếp đó là thời kỳ thứ hai trong đó giai cấp được cấu thành và tự chủ hoá:

các cơ quan công cộng và chính quy hình thành Ở thời kỳ này giai cấp trở thành

một chủ thể tự hoạt động với những thiết chế của nó Nó bắt những cá nhân

trong xã hội là thành viên của nó phải phụ thuộc vào nó Thời điểm thành viên

cá nhân lệ thuộc vào giai cấp cũng chính là thời điểm lệ thuộc của các giai cấp

bị trị vào các giai cấp thống trị, và của giai cấp thống trị vào các điều kiện tồn tại

khách quan, và đây là trường hợp phụ thuộc vào tư bản Những hình thức tha

hoá hiện đại sinh ra và phát triển như vậy

Trong tác phẩm “ Hệ tư tưởng Đức”, tha hoá được khái quát là sự đối lập,

xa lạ của những lực lượng xã hội với con người, những lực lượng ở bên ngoài

mà con người không thể chế ngự được, những lực lượng chẳng những độc lập

với ý chí và hành động của con người mà còn điều khiển ý chí và hành động ấy

-Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”(1848), đây là tác phẩm được

coi là bước đệm chính trị cho “Tư bản”, “vì ở đó Mác và Ăng Ghen đã triển khai

sự phê phán khoa học đối với chủ nghĩa tư bản, sự phê phán được tiến hành

phần nhiều nhờ các hình tượng tha hoá”[41,371] Mác và Ăng Ghen trong tác

phẩm này đã không quên nhấn mạnh tính chất tiến bộ của chủ nghĩa tư bản Chủ

nghĩa tư bản đã đưa nhân loại tiến lên một bước lớn lao so với tất cả các phương

thức sản xuất trước đó Tuy nhiên nó đã không loại bỏ được những tha hoá xã

hội Nó đã làm đậm nét những sự tha hoá đó bằng cách tăng cường bóc lột lao

động và gia tăng sự bần cùng hoá các giai cấp lao động bằng cách hạ thấp các

điều kiện sinh hoạt của các tầng lớp nghèo khổ Và bị tước đoạt trong giai cấp tư

Trang 11

sản Những sự tha hoá dồn chất lên cả về thể xác và tinh thần Các ông đã vạch

trần bản chất của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm cho phẩm giá con

người trở thành giá trị trao đổi, mọi quan hệ giữa con người đều tan biến đi

trước “ lợi ích lạnh lùng”, trước những đòi hỏi cứng rắn “ thanh toán sòng

phẳng”, bằng cách nhấn chìm mọi tình cảm “ tronglàn nước băng giá của sự tính

toán ích kỷ” Cũng trong tác phẩm này Mác và Ăng Ghen đã tiến hành phê phán

chính trị đối với ý thức bị tha hoá của các nhà tư tưởng tư sản Tha hoá là hiện

tượng phổ biến trong xã hội, nó không chừa một ai Nhà tư bản lại chính là nạn

nhân đầu tiên của nó: anh ta không thể tự giải phóng mình Người giải phóng là

nô lệ chứ không phải là ông chủ

Kết luận: Các tác phẩm của Mác và Ăng Ghen vào thời kỳ thứ hai của quá

trình hình thành chủ nghĩa Mác( 1844-1848) là những nấc thang cho cách hiểu

về phạm trù tha hoá của Mác Tư tưởng của các ông trong những tác phẩm này

là tiền đề triết học cho quan niệm của Mác về tha hoá trong “ Tư bản”

1.3.3.Th ời kỳ hình thành và xuất bản bộ “Tư bản”-Sự hoàn thiện quan

ni ệm của Mác về tha hoá

-Các bản thảo kinh tế năm 1857-1858 là sự chuẩn bị tích cực cho Tư bản

trên bình diện kinh tế- chính trị và cả trên bình diện triết học Trong bản thảo

này, vấn đề tha hoá lao động được Mác diễn giải dưới hình thức của sự “ sùng

bái hàng hoá” Mác đã chỉ ra nguồn gốc lý luận và thực tiễn nảy sinh “sùng bái

hàng hoá”, “Các thứ chủ nghĩa duy vật thô thiển của những nhà kinh tế học coi

những quan hệ sản xuất xã hội cuả con người và những tính quy định mà các vật

có được khi chúng phục tùng những quan hệ ấy, là những thuộc tính tự nhiên,-

cái chủ nghĩa duy vật ấy cũng giống hệt cái chủ nghĩa duy tâm cũng thô thiển

như thế và thậm chí giống thứ bái vật giáo từng gán cho các vật những quan hệ

xã hội với tính cách là những tính quy định nội tại của chúng và qua đó thần bí

hoá những vật ấy”[41,342] Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự sùng bái

hàng hoá đạt đến đỉnh thái cao nhất Mác đi sâu vạch rõ bản chất của sự sùng bái

tư bản trong “Bản thảo kinh tế những năm 1861-1863”, sau khi đã khảo sát sự

“sùng bái hàng hoá” trong quyển thứ nhất Phê phán khoa kinh tế chính trị Ông

Trang 12

cho rằng, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa “ Sức sản xuất của lao động xã hội

và những hình thức đặc biệt của nó biểu hiện ra dưới hình thức các lực lượng

sản xuất và các hình thức của tư bản, của lao động vật hoá, của các điều kiện vật

chất của lao động; với tư cách là thành tố biệt lập như vậy, sau khi được nhân

cách hoá trong nhà tư bản, những điều kiện vật chất ấy của lao động đối lập với

lao động sống Ở đây chúng ta lại đụng phải sự xuyên tạc những quan hệ được

biểu hiện ra ở cái mà ngay khi xem xét tiền tệ chúng tôi đã gọi là bái vật giáo”

[42,65]

Trong Bản thảo kinh tế những năm 1857-1858, lần đầu tiên Mác nêu ra

nội dung cơ bản của lý luận sức lao động Lý luận hàng hoá sức lao động, là nền

tảng của học thuyết quan trọng vạch trần nguồn gốc giá trị thặng dư, khám phá

ra bí mật của quá trình tư sản bóc lột lao động làm thuê

-Lý thuyết tha hoá được Mác mô tả hoàn bị trong bộ Tư bản Trong tác

phẩm này, Mác đã vạch ra cội rễ và tiền đề sâu xa của tha hoá lao động ngay ở

chương I Đó là sự phân đôi lao động thành lao động trừu tượng và lao động cụ

thể diễn ra khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá Sau đó sự tách rời ấy có hình

thức của sự tách rời giá trị khỏi giá trị sử dụng, và tiếp theo hình thức ấy phát

triển thành mâu thuẫn giữa các hình thái giá trị, cho đến khi cuối cùng phải xuất

hiện sự tha hoá thông qua việc tiền tệ tách khỏi hàng hoá

-Nếu ở Bản thảo kinh tế- triết học 1844, Mác mới chỉ dừng ở việc mô tả

kết quả của tha hoá lao động biểu hiện ở đối lập xa lạ, sự nô dịch của sản phẩm

lao động, của hoạt động lao động đối với người lao động thì đến Tư bản, với

những nghiên cứu kinh tế chính trị học, Mác vạch ra cội nguồn, cơ chế của sự

tha hoá đó như thế nào Xuất phát từ tính chất hai mặt của lao động sản xuất ra

hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá, Mác đã phân tích khá chi tiết sự biểu

hiện của hình thái giá trị của hàng hoá Từ đó, Mác chỉ ra tính chất bái vật giáo

của hàng hoá và toàn bộ bí mật của nó Theo đó bái vật giáo là hiện tượng gắn

liền với nền sản xuất hàng hoá, xuất hiện từ rất sớm trước khi xuất hiện nền sản

xuất hàng hoá phát triển hoàn thiện nhất- nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ

nghĩa Theo đó thì tính chất bái vật giáo hàng hoá là do tính chất của chính hình

Trang 13

thái hàng hoá tạo nên Tính chất thần bí của hàng hoá không phải do giá trị sử

dụng của nó quy định mà chính là ở hình thái giá trị của hàng hoá Gía trị của

một sản phẩm hàng hoá là do lao động trừu tượng của người lao động tạo nên,

nó là lao động xã hội của con người kết tinh trong hàng hoá Tuy nhiên “ tính

bình đẳng của các loại lao động khác nhau của con người lại mạng hình thái vật

có tính vật thể giống nhau của giá trị của những sản phẩm lao động.Thước đo

các chi phí về sức lao động của con người bằng độ dài của các chi phí ấy lại

mang hình thái đại lượng giá trị của các sản phẩm lao động; cuối cùng những

mối quan hệ của những người sản xuất trong đó những tính quy định xã hội của

lao động của họ được thực hiện, lại mang hình thái một quan hệ xã hội giữa các

sản phẩm lao động” [34,115]

Thực chất đối với hàng hoá, quan hệ giá trị giữa những sản phẩm lao động

được biểu hiện ra chỉ là một quan hệ xã hội nhất định của con người, nhưng

dưới con mắt của họ thì quan hệ ấy lại mạng cái hình thái kỳ ảo của mối quan hệ

giữa các vật Mác ví tính chất bái vật giáo hàng hoá cũng giống như lĩnh vực tôn

giáo, sản phẩm của con người thể hiện ra thành những sinh vật độc lập, có cuộc

sống riêng của chúng, có những mối quan hệ nhất định với con người và giữa

chúng với nhau Tính chất bái vật giáo hàng hoá là sự vật hoá vào trong ý thức

những mối quan hệ của con người bị tha hoá

Với lý luận giá trị, Mác đã chỉ ra toàn bộ bí mật của tính chất bái vật giáo

của hàng hoá và đồng thời thực hiện sự phê phán đối với quan niệm của kinh tế

học tư sản về vấn đề đó

-Trong bộ Tư bản, Mác nghiên cứu những mặt khác nhau của tha hoá gắn

liền với cái gọi là “ sự phụ thuộc của tư bản vào lao động” Sự phụ thuộc này thể

hiện dưới hai hình thức kế tiếp nhau theo thời gian của tư bản: hình thức tư bản

chiếm hữu giá trị thặng dư tuyệt đối và hình thức tư bản chiếm hữu giá trị thặng

dư tương đối Ở hình thức đầu tiên thì sự phụ thuộc của lao động vào tư bản là

sự lệ thuộc hình thức Trong thời gian đầu, sự phụ thuộc như vậy là độc lập với

quá trình cụ thể của lao động Loại hình phụ thuộc này là loại hình thuộc thời kỳ

trong đó tư bản được hình thành về mặt lịch sử., nói chung là từ thời kỳ Trung

Trang 14

cổ đến thế kỷ XVII Loại hình phụ thuộc thứ hai là sự phụ thuộc thực tế, tư bản

chiếm hữu không chỉ lao động thặng dư mà cả lực lượng sản xuất của lao động

xã hội Bản thân tư bản tổ chức quá trình lao động, sự hợp tác, lao động tập thể(

nhà máy, xưởng máy) và chiếm hữu những lực lượng sản xuất xã hội nó chung (

máy móc, khoa học) để gia tăng không ngừng giá trị thặng dư tương đối Qúa

trình cụ thể của lao động như thế được thực hiện dưới sự phụ thuộc vào tư bản

Những hình thức của quá trình này xuất hiện như quá trình phát triển của tư bản

Lực lượng sản xuất của lao động thể hiện ra như là lực lượng độc chiếm của tư

bản Trong quá trình biến đổi này, lực lượng sản xuất trở thành lực lượng tự chủ,

thành những thế lực khách quan đối mặt với người lao động, thành những lực

lưỡng xa lạ, áp đặt điều kiện lao động Đối với bản thân nhà tư bản cá biệt cũng

như vậy: anh ta đối mặt với tư bản xã hội như một lực lượng chống lại anh ta.Tư

bản, được vật chất hoá ở các “vật” ở bên ngoài có một quyền lực và trở nên linh

hoạt nhờ sự tự vận động hoàn toàn thoát khỏi những cá nhân riêng biệt Sự phụ

thuộc của lao động và tất cả các quá trình xã hội vào tư bản đã trở thành hiện

thực

Kết quả lịch sử của mọi sự phát triển tư bản chủ nghĩa là sự phục tùng

ngày càng phổ biến của lao động đối với tư bản, tư bản chỉ có một động cơ duy

nhất là tìm kiếm lợi nhuận, điều này càng làm cho con người cá nhân bị tha hoá

về mặt kinh tế Tất cả các hình thức tha hoá khác đều từ đó mà ra Sự phục tùng

đối với quy luật của lợi nhuận, tiền tệ cho vay lãi và tín dụng, trở thành phổ

biến

Hai hình thức tha hoá này theo Mác có cội nguồn từ sự bóc lột của nhà tư

bản với lao động dưới hai hình thức: một mặt là sự kéo dài ngày lao động và mặt

khác là sự tăng cường độ lao động

-Những nghiên cứu của Mác về tha hoá gắn liền với ý đồ của Mác trong

“Tư bản” là phân tích toàn diện hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa, từ đó chỉ rõ

bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư Hiện

tượng tha hoá trong xã hội tư bản chủ nghĩa gắn liền với hiện tượng bóc lột

Nguyên nhân chính của sự phát triển tha hoá ở đây là sự tăng cường bóc lột giai

Trang 15

cấp công nhân của nhà tư bản Những luận chứng về mặt kinh tế phạm trù tha

hoá lao động trong Tư bản của Mác trở thành học thuyết về tha hoá những người

bị áp bức, bóc lột, vì vậy đã là cơ sở kinh tế luận chứng cho học thuyết của ông

về giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng loài người khỏi mọi áp bức bất công và

mọi sự tha hoá

Kết luận: Sự hình thành, phát triển quan niệm của Mác về tha hoá gắn liền

với những nghiên cứu của Mác trên lĩnh vực triết học, chủ nghĩa xã hội khoa

học và kinh tế chính trị học Có thể nói hệ vấn đề về tha hoá là biểu hiện tập

trung nhất sự thống nhất của ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác, nó là sự

luận giải sinh động cho vấn đề con người vừa là điểm xuất phát vừa là mục đích

cuối cùng của học thuyết Mác

1.3.Tính hai mặt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa- cơ sở thực tiễn cho

nghiên cứu của C.Mác về tha hoá

1.2.1 N ền sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra những tiền đề cho sự phát triển

con ng ười đồng thời làm tha hoá con người

*Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra tiền đề cho sự phát triển con người

-Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của lục lượng

sản xuất, chính sự phát triển đó của lực lượng sản xuất là tiền đề cho sự phát

triển con người

-Cuộc cách mạng công nghiệp mà giai cấp tư sản thực hiện đã buộc

những người sản xuất nhỏ ( những người mà trước khi diễn ra cuộc cách mạng

công nghiệp diễn ra đã sống một cuộc sống thầm lặng, tách biệt với tất cả những

gì đang diễn ra, một lối sống “ không xứng đáng với một con người”), phải từ bỏ

lối sống trước đây và ý thức về, đòi hỏi về địa vị làm người của mình.Nếu gạt bỏ

mặt tiêu cực của nó thì đây có thể coi là mặt tích cực của cuộc cách mạng công

nghiệp đối với sự phát triển con người

-Do nhu cầu phát triển sản xuất, giai cấp tư sản mở rộng thị trường ở khắp

mọi nơi tạo ra thị trường thế giới rộng lớn vì vậy mối quan hệ giữa con người

được mở rộng, giúp cho việc giao lưu và tiếp thụ thành tựu văn minh của loài

người giữa các quốc gia, dân tộc để phát triển

Trang 16

-Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, con người cá nhân được đề cao, tính tích

cực xã hội của con người tăng lên mạnh mẽ Ngoại trừ mặt hạn chế của nó là tạo

nên những con người cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ hẹp hòi thì chính việc khẳng

định tính độc lập của mỗi cá nhân lại là tiền đề tất yếu, là điểm xuất phát cho sự

phát triển của cá nhân

-Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giữa lợi ích cá nhân và yêu cầu chung của

xã hội không thống nhất mà mâu thuẫn với nhau Tình trạng không thể giải

quyết mâu thuẫn ấy trở thành nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển của cá nhân, con

người ý thức hơn về sự tồn tại của mình

-Việc chuyên môn hoá nghề nghiệp trong xã hội tư bản chủ nghĩa hướng

các cá nhân vào các hoạt động nhất định khiến họ hiểu biết sâu sắc hơn về nghề

nghiệp của mình Sự khác nhau về nghề nghiệp cũng như các mặt khác nhau của

cá nhân là điều kiện làm phong phú quan hệ xã hội, làm giàu thêm kinh nghiệm

sản xuất, kinh nghiệm xã hội và tinh thần và những thành tựu ấy lại mở ra khả

năng phát triển mới cho từng cá nhân

Tóm lại: C.Mác nhấn mạnh những mặt tiêu cực của nền sản xuất tư bản

chủ nghĩa như thế nào, thì ông cũng chứng minh một cách rõ ràng như thế rằng

hình thái đó là cần thiết để phát triển các lực lượng sản xuất của xã hội tới một

trình độ cao đến mức nó sẽ làm cho tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể đạt

tới một sự phát triển ngang nhau, một sự phát triển xứng đáng với con người

*N ền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm con người phát triển phiến diện và bị

tha hoá

-Trước hết là tác động tiêu cực của tiến bộ kỹ thuật đối với sự phát triển

con người Việc sử dung máy móc trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho

con người bị kiệt quệ, con người trở thành lệ thuộc vào máy móc, sự lệ thuộc đó

làm cho lao động trở thành cực hình đối với người lao động

-Sự phân công lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa làm cho người lao

động bị phát triển phiến diện, họ bị biến thành “ một bộ phận phụ tùng của cái

máy” Người lao động phát triển không cân đối cả về thể lực và trí lực, làm mất

đi năng khiếu và bẩm sinh sáng tạo của họ

Trang 17

- Việc sử dụng máy móc trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã “cướp giật” nốt

các phần hoạt động độc lập của người lao động làm cho họ không còn thời gian

để phát triển nhân cách cũng như phát triển thể chất, họ chỉ còn giống như cái

máy

-Những tác động tiêu cực của các thành tựu kỹ thuật đối với con người là

biểu hiện của lao động bị tha hoá Sự tha hoá đó là kết quả của sự phân công lao

động có tính chất đối kháng trong xã hội tư bản chủ nghĩa

-Sự tha hoá lao động dẫn đến sự tha hoá con người, nó biến người lao

động thành những con người cùng khổ, biến giai cấp tư sản và các tầng lớp khác

trở thành những cá nhân ích kỷ hẹp hòi., tìm cách khống chế đánh bại lẫn nhau

vì lợi ích riêng của mình Trong xã hội tư bản không phải chỉ có người công

nhân mà cả giai cấp tư sản và các tầng lớp khác cũng bị tha hoá

1.2.2 Nguyên nhân c ủa tha hoá

+Nguyên nhân của sự tha hoá :- Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là

nguyên nhân của tha hoá lao động- nền tảng của tha hoá chính trị-xã hội và tha

hoá ý thức, tư tưởng Theo Mác nếu từ sự phân tích khái niệm tha hoá thì thấy

sở hữu tư nhân biểu hiện ra là hậu quả của lao động tha hoá, nhưng đến giai

đoạn phát triển cao nhất của sở hữu tư nhân( xã hội tư bản chủ nghĩa), thì lao

động tha hoá lại biểu hiện ra là kết quả của sở hữu tư nhân Vì vậy để xoá bỏ tha

hoá thì phải xoá bỏ chế độ tư hữu tư sản, để giải phóng triệt để và toàn diện con

người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

-Phân công lao động có tính chất đối kháng trong chủ nghĩa tư bản, làm

cho con người bị lệ thuộc, bị nô dịch bởi điều liện lao động và trở nên những

con người bị phát triển phiến diện

- Sự tự phát của phát triển xã hội Điều này đã đến con người không tự

kiểm soát được hoạt động của mình

+Bản chất, hậu quả của sự tha hoá: Tha hoá là quá trình ,trong đó các kết

quả hoạt động của con người, bản thân hoạt động ấy cũng như những khả năng,

sức lực duy trì hoạt động ấy bị tách khỏi con người Sản phẩm của sự tách rời ấy

Trang 18

vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người và sau đó thống trị trên những lực

lượng con người đã sinh ra chúng

Kết quả của sự tha hoá dẫn đến tha hoá con người, làm con người trở nên

xa lạ với con người

Tóm lại: Xuất phát từ thực tiễn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác

chỉ rõ thành tựu của chủ nghĩa tư bản là tạo ra tiền đề thực tiễn cho sự phát triển

con người, mặt khác cũng chỉ rõ mặt trái của nó là dẫn đến sự tha hoá của con

người Từ đó, Mác chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội của hiện tượng đó Những

nghiên cứu đó của Mác là cơ sở thực tiễn cho luận giải của ông về xoá bỏ tha

hoá, giải phóng con người

Kết luận chương1: Quan niệm của Mác về tha hoá là kết quả của quá trình

nghiên cứu lâu dài cùng với sự hình thành, phát triển cuả chủ nghĩa Mác Theo

thời gian, những tư tưởng của Mác về tha hoá gắn liền với những giai đoạn hình

thành, phát triển quan niệm duy vật lịch sử và được hoàn thiện ở bộ “Tư bản”

Quan niệm của Mác về tha hoá thể hiện sự khác biệt về chất so với quan niệm

tha hoá của Hê Ghen và Phoiơbắc Sự khác biệt đó được thể hiện qua sự phân

tích của ông về bản chất và những hình thức biểu hiện của tha hoá dưới đây

Trang 19

CHƯƠNG2 QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ CÁC HÌNH THỨC THA

HOÁ VÀ VẤN ĐỀ KHẮC PHỤC THA HOÁ, PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

2.1.Quan niệm của C.Mác về các hình thức tha hoá

1.2.1.Tha hoá tôn giáo và tha hoá xã h ội- chính trị

*Tha hoá tôn giáo- biểu hiện của tha hoá ý thức,tư tưởng: C.Mác nghiên cứu

về tha hoá tôn giáo khi ông còn ở phái Hê Ghen trẻ., do việc ông chịu ảnh hưởng

của tư tưởng của Phoi-ơ-bắc về đấu tranh chống sự tha hoá tôn giáo Mặt khác,

đây là vấn đề lớn của thời đại lúc đó, C.Mác cũng không thể không say mê với

các vấn đề của thời đại ông và của phái Hê Ghen trẻ Sự phê phán tôn giáo dẫn

đến luận điểm: Không phải chúa trời đã tạo ra con người mà con người tạo ra

chúa dựa theo hình ảnh của mình Chúa trời- một thực thể siêu nhiên, chính là

biểu tượng tôn giáo do con người sáng tạo ra, là sự tuyệt đối hoá những đặc

điểm và những tính chất của con người dưới một hình thức lý tưởng hoá, nghĩa

là dưới hình thức một điển hình lý tưởng.Như vậy tha hoá tôn giáo biểu hiện con

người đã tự làm mình nghèo đi, bởi vì con người đã tước bỏ những đặc điểm

riêng của mình để chiếu hình của chúng vào trí tuệ mình Sản phẩm đó mang

hình thức một tín ngưỡng xã hội, nó tự “trí hoá” sự tồn tại của nó đối với chính

kẻ sáng tạo ra nó, biểu hiện ra với con người như một lực lượng xa lạ, nhiều khi

đối địch và bắt đầu thống trị con người Một khi đã được tạo ra và được khách

quan hoá để mang tính xã hội, những tín ngưỡng tôn giáo trở nên không những

xa lạ với con người, nhiều khi đối địch và bắt đầu thống trị con người

Nội dung nhân đạo của việc chống tha hoá tôn giáo cũng được trình bày

rõ ràng ở Ăng Ghen, điều này cho thấy sự tương đồng trong tư tưởng của hai

ông ngay khi còn trẻ

*Tha hoá xã h ội-chính trị:

Trang 20

+Quan niệm của C.Mác về sự tha hoá này xuất phát từ chính quan niệm

của ông về sự “rạn nứt” nội tại diễn ra trong con người xuất hiện trong hai vai

trò, nhưng dưới một hình thức duy nhất và như nhau: như thành viên của “tổ

chức công dân” và như thành viên của “tổ chức nhà nước” Trong tổ chức thứ

nhất thì đối với người công dân, nhà nước thể hiện ra là mặt đối lập hình thức;

trong tổ chức thứ hai thì đối với nhà nước, bản thân người công dân thể hiện ra

là mặt đối lập vật chất Sự phân đôi những vai trò của con người dẫn tới sự xung

đột nội tại và tới cái tâm trạng khốn khổ chứng tỏ rằng ngay trong thế giới của

những sản phẩm bị tha hoá của con người, con người cũng cảm thấy xa lạ bởi vì

con người bị tha hoá đối với “thực thể” của mình

C.Mác không tự giới hạn vào việc ghi nhận “sự phân đôi” của con người

xuất phát từ hiện tượng tha hoá, mà ông còn rút từ đấy ra những kết luận cấu

thành nền tảng của cương lĩnh hành động của ông vào thời đó, và đã đưa ông

tiếp sau đó, tới chủ nghĩa cộng sản, “Sự giải phóng nhân loại chỉ được thực hiện

lúc mà con người đã nhận ra và đã tổ chức những lực lượng xã hội và vì vậy

không còn tách lực lượng xã hội dưới dạng những lực lượng chính trị ra khopỉ

bản thân mình” [20,558]

+Sự tha hoá xã hội-chính trị biểu hiện tập trung nhất là ở sự tha hoá nhà

nước Theo một ý nghĩa nào đó nhà nước tương ứng với một đội vũ trang( quân

sự, cảnh sát ), cơ quan hành chính , quyền lực của nó càng lớn thì sự tha hoá

của nó càng nguy hiểm, nó càng với tư cách một lực lượng tự trị , thoát khỏi sự

kiểm soát của con người.Nhà nước, với tư cách là một bộ máy cưỡng bức có khả

năng thống trị mọi cá nhân “ nổi loạn”, và càng ngày càng là hiện thực của bộ

máy tha hoá cai quản những sự vật không tách rời khỏi sự cai trị con người

Khi nói đến sự tha hoá nhà nước, Mác đặc biệt chú ý phân tích sự tha hoá

của “ giới quan chức”- “xã hội công dân của nhà nước” Ông coi giới quan chức

tạo thành một xã hội đóng kín trong nhà nước Nhà nước chỉ còn tồn tại dưới

hình dạng những lực lượng quan chức cụ thể khác nhau và đối với mỗi quan

chức cụ thể thì mục đích của nhà nước biến thành mục đích của cá nhân y

Trang 21

Mác cho rằng sự tha hoá nhà nước là biểu hiện tập trung của tất cả các

vấn đề tha hoá xã hôi- chính trị, bởi vì nhà nước gắn liền với vấn đề giai cấp và

đấu tranh giai cấp và việc phân chia giai cấp gắn liền với nền sản xuất, với kinh

tế

Cuộc đấu tranh của Mác và Ăng Ghen chống sự tha hoá trong chủ nghĩa

tư bản gắn liền với quan điểm về việc xoá bỏ nhà nước tư sản- xoá bỏ sự thjống

trị chính trị, đồng thời gắn liền với sự “tiêu vong” của nhà nước trong chủ nghĩa

xã hội

2.1.2.Tha hoá lao động- biểu hiện tập trung của tha hoá kinh tế:

Khi lý giải về sự tha hoá nhà nước, Mác nhìn thấy mối liên hệ giữa nhà

nước và xã hội công dân Theo ông không phải nhà nước chi phối xã hội mà trái

lại chính xã hội công dân chi phối nhà nước.Quan niệm duy vât đó hướng Mác

tới nền kinh tế: nền tảng của sự tha hoá trong xã hội tư bản là sự tha hoá kinh tế

Chính tha hoá kinh tế là cơ sở của tha hoá xã hôi-chính trị, chính nó quy định sự

tha hoá ý thức tư tưởng Trong tha hoá kinh tế Mác tập trung lý giải nhân tố cơ

bản nhất của nó là lao động Mác đưa ra quan niệm của mình về tha hoá lao

động trên những bình diện sau:

2.1.2.1 S ự tha hoá của người công nhân đối với sản phẩm lao động của

mình

-Sự tha hoá thể hiện ở chỗ, người công nhân quan hệ với sản phẩm lao

động của mình như một vật xa lạ Sản phẩm lao động đứng đối lập với lao động

như một tồn tại xa lạ, như một lực lượng không phụ thuộc vào người sản xuất

-Sự tha hoá biểu hiện ở sự thống trị của sản phẩm lao động đối với người

sản xuất Từ chỗ là chủ thể của sản phẩm lao động, con người trở thành phụ

thuộc vào sản phẩm, phục tùng các quy luật riêng của nó, thậm chí uy hiếp sự

tồn tại của con người

2.1.2.2.Tha hoá c ủa người công nhân biểu hiện trong hành vi lao động

c ủa mình

-Với quan niệm coi lao động là bản chất của con người, lao động của con

người là lao động sáng tạo, Mác cho rằng trong điều kiện của xã hội tư bản chủ

Trang 22

nghĩa, lao động vốn là hoạt động bản chất của con người đã không ở trong con

người mà là cái ở bên ngoài người lao động Lao động trở thành gánh nặng đè

lên thể xác và cả tinh thần của người lao động, làm cho họ kiệt quệ, què quặt

-Lao động không còn là nhu cầu, là bản chất con người mà trở thành một

lực lượng xa lạ, đối lập và nô dịch con người, nó chỉ còn là phương tiện để thoả

mãn nhu cầu tồn tại thể xác của con người Vì vậy lao động của người công

nhân trở thành lao động cưỡng bức, và bản thân người lao động cũng né tránh

lao động Người lao động chỉ cảm thấy tự do khi ở ngoài quá trình lao động

-Lao động tha hoá còn biểu hiện ở chõ: Lao động đó không thuộc về bản

thân người lao động mà thuộc về người khác, và bản thân anh ta trong quá trình

lao động , không thuộc về anh ta mà thuộc về người khác Vì vậy hoạt động lao

động của người lao động là hoạt động tự đánh mất bản thân mình Đó là quá

trình tự tha hoá

2.1.3.Tha hoá b ản chất con người và tha hoá con người với con người

-Lao động bị tha hoá dẫn tới giới tự nhiên chỉ còn là phương tiện để duy

trì sự tồn tại thân xác cuả con người Lao động bị tha hoá làm cho lao động trở

thành đối lập với giới tự nhiên, lao động không còn là hoạt động cải tạo tự

nhiên, chiếm lĩnh tự nhiên phục vụ cho đời sống con người và thông qua đó mà

còn người hoàn thiện chính mình nữa.Lao động tha hoá, khiến cho con người vì

là một sinh vật có ý thức, chỉ biến chính hoạt động sinh sống của mình, bản chất

của mình thành phương tiện để duy trì sự tồn tại thân xác của con người, mọi

hoạt động tinh thần khác bị loại khỏi đời sống con người Như vậy lao động tha

hoá đã biến cái thế hơn của con người so với con vật thành cái tiêu cực đối vơí

con người

-Sự tha hoá lao động dẫn tới kết quả “ Bản chất có tính loài của con

người- giới tự nhiên cũng như tài sản tinh thần có tính loài của con người- bị

biến thành một bản chất xa lạ với con người, thành phương tiện duy trì sự tồn tại

của cá nhân con người Lao động bị tha hoá làm cho thân thể của bản thân con

người, cũng như giới tự nhiên ở bên ngoài con người, cũng như bản chất tinh

Ngày đăng: 07/01/2024, 12:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.Nguyễn Đức Bình(chủ biên)(2002), Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
4. Phạm Như Cương chủ biên(1978), Về vấn đề xây dựng con người mới, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề xây dựng con người mới
Tác giả: Phạm Như Cương
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1978
5. Nguyễn Sinh Cúc(2005), 20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 n"ă"m "đổ"i m"ớ"i và s"ự" hình thành th"ể" ch"ế" kinh t"ế" th"ị" tr"ườ"ng "đị"nh h"ướ"ng xã h"ộ"i ch"ủ" ngh"ĩ"a
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
6. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý đồng chủ biên(1997), Những quan điểm cơ bản của C.Mác và Ph.Ăng Ghen, V.I.Lê Nin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản của C.Mác và Ph.Ăng Ghen, V.I.Lê Nin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
9. Nguyễn Thành Duy(2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ư" t"ưở"ng H"ồ" Chí Minh v"ớ"i s"ự" nghi"ệ"p xây d"ự"ng con ng"ườ"i Vi"ệ"t Nam phát tri"ể"n toàn di"ệ"n
Tác giả: Nguyễn Thành Duy
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam( 1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1991
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam(1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành trung ương khoá VII, Nxb ST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb ST
Năm: 1993
12. Đảng Cộng sản Việt Nam( 2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới ( Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "Đả"ng th"ờ"i k"ỳ đổ"i m"ớ"i ( "Đạ"i h"ộ"i VI, VII, VIII, IX)
Nhà XB: Nxb CTQG
16. Nguyễn Văn Huyên(2002), Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2002
17.Hồ Ngọc Hương( 1989), “Tha hoá và chủ nghĩa xã hội”, tạp chí Triết học, (số3), tr.32-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tha hoá và chủ nghĩa xã hội”, "t"ạ"p chí Tri"ế"t h"ọ"c
18. Bùi Bá Linh(2003), Quan niệm của C.Mác, Ph. Ăng Ghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quan ni"ệ"m c"ủ"a C.Mác, Ph. "Ă"ng Ghen v"ề" con ng"ườ"i và s"ự" nghi"ệ"p gi"ả"i phóng con ng"ườ"i
Tác giả: Bùi Bá Linh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
19. Nguyễn Văn Long(1998), “Nguồn gốc xã hội của tôn giáo và việc giải phóng con người khỏi tôn giáo”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận( số4), tr.34-36) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc xã hội của tôn giáo và việc giải phóng con người khỏi tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Năm: 1998
21. C.Mác và Ph. Ăng Ghen( 1995), toàn tập, T2, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph. Ăng Ghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
22. C.Mác và Ph. Ăng Ghen(1995), toàn tập, T3, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph. Ăng Ghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
23. C.Mác(1995), “Sự khốn cùng của triết học”, C.Mác và Ph. Ăng Ghen, Sđd tập 4, Tr. 101-258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khốn cùng của triết học”, "C.Mác và Ph. "Ă"ng Ghen, S"đ"d
Tác giả: C.Mác
Năm: 1995
24. C.Mác và Ph.Ăng Ghen( 1995), “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”,Sđd,tập 4 . Tr.595-746 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn của đảng cộng sản
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng Ghen
Năm: 1995
25. C.Mác(1993), “ Lao động làm thuê và tư bản”, Sđd, tập 6, tr.537-576 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động làm thuê và tư bản
Tác giả: C. Mác
Nhà XB: Sđd
Năm: 1993
26. C.Mác(1993), “ Lời nói đầu, trích các bản thảo kinh tế năm 1857-1858”, sđd tập12, tr.854-892 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời nói đầu, trích các bản thảo kinh tế năm 1857-1858
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: sđd tập12
Năm: 1993
43. Nguyễn Thế Nghĩa(2003), “ Quan niệm của C.Mác về tha hoá và sự giải phóng con người khỏi tha hoá trong Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844”, Tạp chí Triết học( số10), tr.18- 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của C.Mác về tha hoá và sự giải phóng con người khỏi tha hoá trong Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844
Tác giả: Nguyễn Thế Nghĩa
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2003
44. Nguyễn Anh Tuấn(2003), “ Tha hoá theo quan niệm của C.Mác”, Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng Ghen, tr.342- 384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng Ghen
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w