MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đảng chính trị là một tổ chức chính trị tự nguyện, liên minh những người cùng tư tưởng, quan điểm và lợi ích, đấu tranh để giành và giữ chính quyền, nhằm thực hiện tư tưởng, quan điểm và lợi ích của mình. Đảng chính trị có đường lối, có cách tổ chức và hoạt động, cách tập hợp quần chúng thích hợp. Thực chất của đảng chính trị là công cụ và phương tiện để đấu tranh giành quyền lực chính trị của giai cấp. Đảng chính trị ra đời từ trong cách mạng tư sản và nền dân chủ tư sản. Ngày nay, đảng chính trị chi phối sâu sắc đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của các nước. Trong thời kỳ hội nhập, đa phương hóa, đa dạng hóa, việc nghiên cứu, học tập các đảng chính trị các nước là cần thiết. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Quá trình hình thành đảng chính trị trên thế giới, liên hệ sự hình thành và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho học phần xây dựng Đảng của mình 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận về đảng chính trị, đề tài khảo sát thực tiễn quá trình hình thành một số đảng chính trị trên thế giới để hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. 2.2. Nhiệm vụ Để đạt mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ: Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về các hệ thống đảng chính trị. Phân tích quá trình hình thành một số đảng chính trị trên thế giới Nêu ra một số nhận xét về hệ thống đảng chính trị trên thế giới, trên cơ sở đó liên hệ với quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quá trình hình thành các hệ thống Đảng chính trị trên thế giới Phạm vi nghiên cứu: Quá trình hình thành các hệ thống Đảng chính trị tiêu biểu ở các nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. 4. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiểu luận sử dụng các phương pháp sau: + Phương pháp nghiên cứu tài liệu. + Phương pháp phân tích, tổng hợp. + Phương pháp lịch sử lôgích. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu là 2 chương và 6 tiết.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Khái quát chung về Đảng chính trị 3
1.2 Vai trò của đảng chính trị 6
CHƯƠNG 2:QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MỘT SỐ HỆ THỐNG ĐẢNG CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI VÀ LIÊN HỆ VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 8
2.1 Quá trình hình thành một số đảng chính trị lớn và lâu đời trên thế giới 8
2.2 Thực trạng công tác xây dựng Đảng chính trị trong thế giới hiện đại 13
2.3 Một số nhận xét về hệ thống Đảng chính trị 18
2.4 Những gợi mở cho Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền 20
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng chính trị là một tổ chức chính trị tự nguyện, liên minh những ngườicùng tư tưởng, quan điểm và lợi ích, đấu tranh để giành và giữ chính quyền,nhằm thực hiện tư tưởng, quan điểm và lợi ích của mình
Đảng chính trị có đường lối, có cách tổ chức và hoạt động, cách tập hợpquần chúng thích hợp Thực chất của đảng chính trị là công cụ và phương tiện
để đấu tranh giành quyền lực chính trị của giai cấp
Đảng chính trị ra đời từ trong cách mạng tư sản và nền dân chủ tư sản.Ngày nay, đảng chính trị chi phối sâu sắc đến đời sống chính trị, kinh tế, vănhóa - xã hội của các nước Trong thời kỳ hội nhập, đa phương hóa, đa dạng hóa,việc nghiên cứu, học tập các đảng chính trị các nước là cần thiết Với lý do đó,
tác giả chọn vấn đề “Quá trình hình thành đảng chính trị trên thế giới, liên hệ
sự hình thành và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam” để làm đề tài nghiên
cứu cho học phần xây dựng Đảng của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận về đảng chính trị, đề tài khảo sát thực tiễnquá trình hình thành một số đảng chính trị trên thế giới để hiểu rõ hơn về sự hìnhthành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về các hệ thống đảngchính trị
- Phân tích quá trình hình thành một số đảng chính trị trên thế giới
- Nêu ra một số nhận xét về hệ thống đảng chính trị trên thế giới, trên cơ sở
đó liên hệ với quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình hình thành các hệ thống Đảng chính trị
trên thế giới
Trang 3- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình hình thành các hệ thống Đảng chính trịtiêu biểu ở các nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, tiểu luận sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp lịch sử - lôgích
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kếtcấu là 2 chương và 6 tiết
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát chung về Đảng chính trị
1.1.1 Khái niệm
Từ khi xuất hiện đến nay đã có nhiều quan điểm khác nhau về Đảng chínhtrị Nhà xã hội học nổi tiếng M.Weber định nghĩa: Đảng là một hiệp hội theođuổi một mục tiêu nhất định: mục tiêu vật chất hoặc tinh thần; mục tiêu chunghoặc mục tiêu cá nhân; hoặc có thể tất cả các loại mục tiêu đó
Một số học giả nêu lên hai tiêu chí xác định đảng gồm: tiêu chí xã hội(đảng của giai cấp nào) và tiêu chí ý thức hệ (đảng theo tư tưởng chính trị gì).Theo cách hiểu như vậy, đảng được xem là “tập hợp những người cùng chungsức phục vụ lợi ích quốc gia trên cơ sở một nguyên tắc mà tất cả chấp nhận";hoặc như “tập đoàn những người cùng chính kiến mà họ sử dụng đảng nhằm bảođảm hiệu quả tác động thật sự vào các công việc chính trị" (Burke, Jorge Xifra)Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn xem đảng chính trị, nhất là đảng của giai cấp
vô sản, là đội tiền phong của một giai cấp, được tổ chức trên nền tảng của một
hệ tư tưởng nhất định, hoạt động theo điều lệ, cương lĩnh, đường lối và chiếnđấu vì các mục tiêu, lý tưởng xác định
Từ điển bách khoa triết học (Liên Xô) xác định “đảng chính trị là tổ chứcchính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay tầng lớp trong xã hội, liênkết những đại diện tích cực nhất của giai cấp hay tầng lớp ấy, lãnh đạo họ đạt tớinhững mục đích và lý tưởng nhất định"
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa “Đảng là một nhóm người kết lại với nhau
để hoạt động với những mục đích nhất định; là tổ chức chính trị đại diện và đấutranh vì quyền lợi của một giai cấp, một tầng lớp xã hội" Từ điển tiếng Việt giảithích: đảng là nhóm người kết hợp với nhau để hoạt động đối lập với nhómngười khác chính kiến với minh”
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin, đảng chính trị là bộ phận tíchcực nhất, có tổ chức của một giai cấp nào đó hay một tầng lớp nào đó của mộtgiai cấp Sự tồn tại của đảng chính trị gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai
Trang 5cấp và sự không đồng nhất của giai cấp và của các tầng lớp không hợp thànhgiai cấp.
Đảng chính trị là một trong những công cụ quan trọng nhất mà nhờ đó giaicấp đấu tranh cho lợi ích của mình Đảng chính trị công cụ tập hợp giai cấp củamột giai cấp Với chức năng đó, đảng chính trị có khả năng đoàn kết sức mạnhcủa cả giai cấp, tạo thành một nguồn động lực to lớn phục vụ mục tiêu đấutranh, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình (Ví dụ như giai cấp công nhânViệt Nam được tập hợp sức mạnh dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN đã đấu tranhgiành quyền lợi cho công nhân nói riêng, nhân dân lao động VN nói chung vàthực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả là giải phóng đất nước khỏi ách áp bức, xâmlược của đế quốc)
Đảng chính trị bắt đầu trong điều kiện đấu tranh giai cấp đã phát triển đếntrình độ nhất định của cuộc đấu tranh chính trị, khi mục tiêu giành chính quyềnđược đặt ra trực tiếp
Đảng gắn liền với cơ cấu giai cấp Trong xã hội hiện đại, tương ứng với cơcấu giai cấp của nó đảng có thể là đảng vô sản, đảng tư sản, đảng địa chủ…đảngliên minh các giai cấp: đảng tư sản- tiểu tư sản, đảng tư sản – địa chủ…đôi khiđảng còn mang màu sắc dân tộc
Đảng chính trị là tổ chức luôn theo đuổi những mục đích chính trị nhấtđịnh, cố gắng gây ảnh hưởng, lãnh đạo đối với chính trị và tổ chức xã hội, ra sứcgiành và giữ chính quyền để thực hiện lợi ích của mình
Đảng chính trị hành động bằng thuyết phục, truyền bá những quan điểmcủa mình, tập hợp những người cùng chí hướng Khi cầm quyền ngoài cácphương tiện vật chất, các cơ quan báo chí, đảng còn lãnh đạo bằng chính quyền
Để thực hiện mục tiêu, đảng tiến hành thực hiện một số chính sách nhất định,thực hiện những nguyên tắc tổ chức nhất định: điều lệ, quy chế…
Từ các điều trình bảy nêu trên, chúng ta có thể nêu ra quan niệm sau đây vềđảng chính trị: Đảng chính trị là một đội ngũ có tổ chức bao gồm những ngườiđại diện giác ngộ nhất, tích cực nhất của một giai cấp, một tầng lớp xã hội cóchung lợi ích, mục tiêu, lý tưởng Với tính cách là sản phẩm của cuộc đấu tranh
Trang 6giai cấp ở trình độ cao, đảng chính trị là tổ chức, xét đến cùng, của một giai cấphay tầng lớp xã hội nhất định; đại diện trực tiếp và chủ yếu lợi ích của giai cấphay tầng lớp xã hội đó.
1.1.2 Chức năng của Đảng chính trị
Đảng chính trị luôn luôn là một tổ chức có bộ máy chặt chẽ bao gồm các cơquan ban hành đường lối, cương lĩnh, nghị quyết như đại hội, hội nghị; các cơquan điều hành như ban chấp hành trung ương, bộ chính trị, ban bí thư; các cơquan quyền lực cơ sở như đảng uỷ các cấp
Mỗi đảng chính trị thường bao gồm đội ngũ đảng viên khác nhau về nhiềumặt (tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo, chủng tộc, giai cấp, quốc tịch ) Bởi vậy,đảng cần có điều lệ quy định tiêu chuẩn kết nạp đảng viên; đồng thời, chia đảngviên thành mấy loại sau đây:
- Đội ngũ đảng viên là lãnh tụ hoặc cán bộ lãnh đạo đảng
-Đội ngũ đảng viên tích cực, thường trực (militante)
- Đội ngũ đảng viên ủng hộ, bỏ phiếu cho đảng, hoặc có cảm tình với đảng
Sự tồn tại và phát triển của các đảng chính trị luôn luôn gắn liền với cuộc đấutranh của một giai cấp, một tầng lớp xã hội mà biểu hiện tiêu biểu và rõ rệt nhất
là cuộc đấu tranh để giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Các đảng chínhtrị được các giai cấp, tầng lớp xã hội sáng lập nên và sử dụng như công cụ đấutranh giành quyền lực Khi nắm được quyền lực nhà nước, các đảng chính trị lại
sử dụng nó như công cụ thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình Tuỳ theo hoàncảnh cụ thể và tương quan lực lượng trong đời sống chính trị quốc gia, mỗi đảngchính trị thực thi các chức năng phong phú, đa dạng khác nhau Tuy nhiên, cóthể khái quát các chức năng phổ biến của đảng chính trị gồm:
1) Đại diện quyền lợi cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội
2) Định hướng về tư tưởng và chính trị cho giai cấp hoặc tầng lớp xã hội
đó trong cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp
3).Tổ chức, lãnh đạo giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đấu tranh thực hiện lợiích, mục tiêu, lý tưởng của mình
Trang 74) Thuyết phục, động viên, tập hợp các lực lượng xã hội khác ủng hộ đảng,hoặc hành động một cách có lợi cho đảng.
5) Tham gia các cơ cấu quyền lực và quá trình hoạch định chính sách bằngchủ trương, đường lối, quan điểm của đảng và thông qua đội ngũ đảng viêntrong các cơ cấu quyền lực
6) Đào tạo, huấn luyện nhân sự cho các cơ cấu quyền lực
7) Thực hiện giám sát, phản biện đối với việc thực thi quyền lực chính trịtrong nước và quốc tế
1.1.3 Phân loại đảng chính trị hiện nay trên thế giới
- Đảng tư sản là đảng mang bản chất giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ tư bảnchủ nghĩa.đất
- Đảng Cộng sản là đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, có mụctiêu đi đến xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
- Đảng địa chủ là đảng mang bản chất của giai cấp địa chủ
- Đảng nông dân là đảng mang bản chất của giai cấp nông dân, bảo vệ lợiích của nông dân
- Đảng tiểu tư sản là đảng mang bản chất của tiểu tư sản, bảo vệ lợi ích củatiểu tư sản
- Đảng phản ánh liên minh giai cấp tư sản - địa chủ là đảng bảo vệ lợi íchcủa giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ - Đảng dân tộc là đảng bảo vệ lợi ích củadân tộc
- Đảng tôn giáo là đảng mang tư tưởng tôn giáo, bảo vệ lợi ích tôn giáo
1.2 Vai trò của đảng chính trị
Là một bộ phận tích cực nhất, có tổ chức nhất của giai cấp, đảng chính trịđược lập ra để thực hiện lợi ích, mục đích giai cấp, nắm quyền lực nhà nước.Vai trò chính trị của đảng chính trị tùy thuộc vào địa vị lịch sử của các giai cấp
mà đảng chính trị đó đại diện
Vai trò của đảng chính trị còn phụ thuộc vào bản chất của giai cấp mà đảng
đó đại diện Trong lịch sử tồn tại và phát triển của các đảng chính trị, có đảngđóng vai trò tiến bộ, cách mạng như đảng macxit – lenin, đại diện cho quyền lợi
Trang 8của giai cấp công nhân và người lao động nhưng cũng có đảng thể hiện sự bảothủ, phản động như đảng địa chủ, …
Ở các nước TBCN:
Vai trò của các đảng chính trị thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử giànhquyền lực nhà nước Vai trò của các đảng thể hiện ở hai mặt tiến bộ và tiêu cực.Tích cực: tổ chức bầu cử, hướng bầu cử đi vào quỹ đạo đã được quy định ởhiến pháp hiện hành Sau khi thắng cử, nắm quyền, các đảng chính trị có vai tròtrong việc định hướng phát triển kinh tế – xã hội thông qua cương lĩnh chính trị,
bố trí, tuyển lựa thành viên của đảng vào các cương vị chủ chốt của chínhquyền, chuẩn bị các chính sách, các chiến lược hoạt động nhà nước
Tiêu cực: ( chủ yếu ) chia rẽ nhân dân, tách nhân dân ra khỏi chính trị Đểđạt được mục đích, đảng chính trị đã hành động kể cả bằng những thủ đoạn, kíchthích sự thèm khát quyền lực chính trị và tạo thêm những điều kiện cho thamnhũng, tước bỏ quyền dân chủ của nhân dân…
Ở các nước XHCN
Đảng cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo, thực hiện quyền thống trị vềchính trị của giai cấp công nhân để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Đảng cộng sản đại diện cho giai cấp công nhân chiu trách nhiệm hoàn toàntrước vận mệnh phát triển của dân tộc, lãnh đạo mọi mặt của đời sống kinh tế –chính trị – văn hóa xã hội Để thực hiện được sứ mệnh to lớn này điều kiện tiênquyết là đảng phải không ngừng vươn lên mọi mặt
Trang 9CHƯƠNG 2:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MỘT SỐ HỆ THỐNG ĐẢNG CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI VÀ LIÊN HỆ VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM 2.1 Một số đảng chính trị lớn và lâu đời trên thế giới
2.1.1 Một số đảng chính trị lớn và lâu đời của giai cấp tư sản phương Tây
- Đảng Dân chủ (Mỹ) ra đời năm 1791 Trong nửa đầu thế kỷ XIX, đảngnày thể hiện lợi ích của chủ đồn điền miền nam và giai cấp tư sản ngân hàng,thương nghiệp miền Bắc Đảng còn bao gồm cả tầng lớp tiểu tư sản thành thị vàcác phác - mơ phản đối chính sách của đại tư sản Đến năm 1860, Đảng Dân chủphân hoá nặng nề: bộ phận những người dân chủ miền Bắc gồm đại tư sản vàchủ nô muốn củng cố nền kinh tế và địa vị của mình, phản đối việc duy trì chế
độ nô lệ ở miền Bắc và miền Tây; bộ phận những người dân chủ miền Nam đạidiện cho lực lượng chủ đồn điền bảo thủ, phản động, chủ trương duy trì chế độ
nô lệ, phân biệt chủng tộc Trong hàng ngũ chủ nô, còn có một bộ phận ôn hoà,đại diện cho các chủ nô vùng biên giới và một số bang miền Nam Đảng Dânchủ là một trong hai đảng thay nhau cầm quyền ở Mỹ
- Đảng Cộng hoà (Mỹ) thành lập năm 1851, bao gồm những người củaĐảng Tự do Ruộng đất (Free Soil Party) được thành lập vào cuối thập kỷ 40 vàmột bộ phận của Đảng Dân chủ tách ra Cánh hữu của Đảng này đại diện lợi íchcủa giai cấp tư sản và trại chủ miền Bắc, chủ trương hạn chế chế độ nô lệ, tíchcực khẩn khai miền Tây, thi hành chính sách quan thuế liên bang Cánh tả củaĐảng này đại diện lợi ích của tiểu tư sản, tư sản thành thị và các phác - mơ, chủtrương giải phóng nô lệ và cấp đất ở miền Tây cho những người không có đất.Tuy không duy trì được thường xuyên sự thống nhất nội bộ, nhưng Đảng Cộnghoà thường xuyên nhận được sự ủng hộ rộng lớn của cử tri Đảng có lãnh tụ nổitiếng là Abraham Lincoln (1809- 1865) Đảng Cộng hoà là một trong hai đảngthay nhau cầm quyền ở Mỹ
Trang 10- Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản: Thành lập năm 1955 và liên tục là đảngcầm quyền từ đó đến năm 1993, do khủng hoảng và mất đoàn kết nội bộ nghiêmtrọng Đã có một thời, Đảng Dân chủ Tự do được tung hô như đảng cầm quyềnmuôn đời, còn các đảng khác, điển hình là Đảng Xã hội Nhật Bản, bị chế nhạo
là những đảng đối lập muôn đời! Đó là thời kỳ 38 năm của cơ chế “đa đảng cạnhtranh, một đảng độc chiếm” Các đảng đối lập không những không thể cạnhtranh quyền lãnh đạo với Đảng Dân chủ Tự do, mà còn bị đặt ra ngoài quá trìnhhoạch định chính sách phát triển đất nước Các phe phái khác nhau trong ĐảngDân chủ Tự do thay nhau cầm quyền trong gần 4 thập kỷ của nửa sau thế kỷ
XX, tạo nên nhiều điều kỳ diệu cho cường quốc châu Á
2.1.2 Một số đảng chính trị lớn và lâu đời của giai cấp công nhân
Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921 như chính đảng tiền phongcủa giai cấp công nhân và lấy chủ nghĩa cộng sản làm mục tiêu, lý tưởng chiếnđấu trên cơ sở nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là chủ nghĩa Mác -Lênin Đại hội II (1922) thông qua Tuyên ngôn gồm 3 phần: phần thứ nhất phântích thế giới chia thành hai mặt trận đối lập nhau; phần thứ hai phân tích đặcđiểm cách mạng Trung Quốc; phần thứ ba nêu ra Cương lĩnh tối đa và Cươnglĩnh tối thiểu của Đảng Đại hội III (1923) tuyên bố thành lập Mặt trận thốngnhất cách mạng dân tộc dân chủ Ngày 1- 10 - 1949, nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa ra đời dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với lãnh tụMao Trạch Đông trên cương vị nguyên thủ quốc gia Từ năm 1949 đến 1959 là
10 năm đầu xây dựng chế độ xã hội mới với đường lối “ba ngọn cờ hồng” gồmđường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân Tiếp đó là cuộc Đại cáchmạng văn hoá vô sản từ 1966 đến 1969, khi Đại hội IX được tổ chức Từ năm
1969 đến khi Mao Trạch Đông qua đời (1976), đường lối “ba ngọn cờ hồng” lạiđược tiếp tục triển khai, kinh tế - xã hội Trung Quốc ngày càng khó khăn, rốiloạn
Tháng 12 năm 1978, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốcdưới sự lãnh đạo của nhà cải cách Đặng Tiểu Bình đã đưa ra đường lối phát triểnkinh tế - xã hội mới mà sau này được mang tên là đường lối cải cách, mở cửa
Trang 11Đường lối này xác định Trung Quốc đang ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội;chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc; lấy phát triểnkinh tế làm trung tâm; kiên trì 4 nguyên tắc cơ bản (con đường xã hội chủ nghĩa,chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc vàchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông) Đến nay, công cuộc cảicách, mở cửa đã đem lại cho Trung Quốc vị thế là một trong những cường quốctrên thế giới; đồng thời, đã tạo cơ sở cho Đảng Cộng sản Trung Quốc bổ sung,phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc với nội dungquan trọng của lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng 3 đại diện (do Tổng
Bí thư Giang Trạch Dân nêu ra) và lý luận xây dựng xã hội hài hoà (do Tổng Bíthư Hồ Cẩm Đào khởi xướng) Hiện nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc là đội ngũhùng hậu nhất trong phong trào cộng sản quốc tế, với tổng số đảng viên gần 75triệu người
Đảng Cộng sản Liên Xô do lãnh tụ V.I.Lênin sáng lập năm 1898 Từ Đạihội I (1898) Đảng lấy tên gọi là Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga; từ năm
1917 là Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội (Bônsêvích) Nga; từ Đại hội XIV(1925) đổi tên thành Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang; từ Đại hộiXIX (1952) đổi tên thành Đảng Cộng sản Liên Xô
Đảng Cộng sản Liên Xô là đảng theo chủ nghĩa cộng sản khoa học Chủnghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng.Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộngsản Cơ sở giai cấp và xã hội chủ yếu của Đảng là công nhân, nông dân tập thể
và trí thức Nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt quan trọng nhất của Đảng là tậptrung dân chủ Trong hệ thống chính trị Liên Xô, Đảng là hạt nhân có vai tròlãnh đạo toàn bộ hệ thống và xã hội Tính ở thời điểm năm 1986, Đảng có 19triệu đảng viên
Cương lĩnh đầu tiên được thông qua tại Đại hội II (1903) xác định nhiệm vụtrọng tâm là giành chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản, những nhiệm
vụ đã được hoàn thành xuất sắc bởi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩđại năm 1917 và thành lập nước Cộng hoà Xô - viết Đại hội VIII (1919) thông
Trang 12qua Cương lĩnh thứ hai, cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội XXII(1961) thông qua Cương lĩnh thứ ba, cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa cộng sản.Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921 như chính đảng tiền phongcủa giai cấp công nhân và lấy chủ nghĩa cộng sản làm mục tiêu, lý tưởng chiếnđấu trên cơ sở nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là chủ nghĩa Mác -Lênin Đại hội II (1922) thông qua Tuyên ngôn gồm 3 phần: phần thứ nhất phântích thế giới chia thành hai mặt trận đối lập nhau; phần thứ hai phân tích đặcđiểm cách mạng Trung Quốc; phần thứ ba nêu ra Cương lĩnh tối đa và Cươnglĩnh tối thiểu của Đảng Đại hội III (1923) tuyên bố thành lập Mặt trận thốngnhất cách mạng dân tộc dân chủ Ngày 1- 10 - 1949, nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa ra đời dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với lãnh tụMao Trạch Đông trên cương vị nguyên thủ quốc gia Từ năm 1949 đến 1959 là
10 năm đầu xây dựng chế độ xã hội mới với đường lối “ba ngọn cờ hồng” gồmđường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân Tiếp đó là cuộc Đại cáchmạng văn hoá vô sản từ 1966 đến 1969, khi Đại hội IX được tổ chức Từ năm
1969 đến khi Mao Trạch Đông qua đời (1976), đường lối “ba ngọn cờ hồng” lạiđược tiếp tục triển khai, kinh tế - xã hội Trung Quốc ngày càng khó khăn, rốiloạn
Tháng 12 năm 1978, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốcdưới sự lãnh đạo của nhà cải cách Đặng Tiểu Bình đã đưa ra đường lối phát triểnkinh tế - xã hội mới mà sau này được mang tên là đường lối cải cách, mở cửa.Đường lối này xác định Trung Quốc đang ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội;chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc; lấy phát triểnkinh tế làm trung tâm; kiên trì 4 nguyên tắc cơ bản (con đường xã hội chủ nghĩa,chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc vàchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông) Đến nay, công cuộc cảicách, mở cửa đã đem lại cho Trung Quốc vị thế là một trong những cường quốctrên thế giới; đồng thời, đã tạo cơ sở cho Đảng Cộng sản Trung Quốc bổ sung,phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc với nội dungquan trọng của lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng 3 đại diện (do Tổng
Trang 13Bí thư Giang Trạch Dân nêu ra) và lý luận xây dựng xã hội hài hoà (do Tổng Bíthư Hồ Cẩm Đào khởi xướng) Hiện nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc là đội ngũhùng hậu nhất trong phong trào cộng sản quốc tế, với tổng số đảng viên gần 75triệu người.
2.1.3 Một số đảng chính trị và lâu đời ở các nước đang phát triển
- Đảng Quốc đại Ấn Độ: Thành lập năm 1885 với tên gọi nguyên nghĩa làĐảng Đại hội quốc dân Ấn Độ (National Congress Party of India) Mục tiêu banđầu của Đảng là hoà giải mâu thuần giữa thực dân Anh và phong trào độc lậpdân tộc Ấn Độ Từ đầu thập kỷ 20, dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi,Đảng triển khai Phong trào bất hợp tác, phi bạo lực đối với chính quyền thựcdân Anh; tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng được điều chỉnh theo hướngĐảng trở thành đội tiên phong chính trị cho toàn dân trong cuộc đấu tranh giànhđộc lập dân tộc Năm 1947, chính quyền Anh phải công bố Dự luật Ấn Độ độclập và một thời gian ngắn sau đó, buộc phải chuyển giao một cách hoà bìnhquyền lực cho Đảng Quốc đại Ấn Độ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính phủ Ấn
Độ được thành lập theo chính thể dân chủ nghị viện phương Tây, trở thành quốcgia dân chủ lớn nhất thế giới bởi quy mô dân số khổng lồ Trước kia, đã hai lầnĐảng mất địa vị cầm quyền (1977 1979 và 1989-1991) Đến cuộc Tổng tuyển cửnăm 1996, Đảng Quốc đại nếm trải thất bại chưa từng có, mất địa vị đảng lớnnhất trong Quốc hội và trở thành đảng đối lập Từ đó đến nay, Đảng chưa khôiphục được địa vị cầm quyền và, hơn nữa, còn lún sâu vào khó khăn, bế tắc Hiệnnay, Đảng có đảng viên; Chủ tịch Đảng là bà Sonia Gandhi
Đảng Cách mạng Thể chế Mêhicô: Thành lập năm 1929 và liên tục cầmquyền trong vòng 71 năm tại một quốc gia điển hình đa đảng, từ năm 1929 đếnnăm 2000 với 14 Tổng thống Ngày ra đời, Đảng có tên Đảng Cách mạng quốcgia Mêhicô; năm 1938 được đổi thành Đảng Cách mạng Mêhicô và từ năm 1946đến nay có tên Đảng Cách mạng Thể chế Mêhicô Cơ sở giai cấp và xã hội banđầu của Đảng là các nhóm cựu binh của cuộc nội chiến 1914 - 1917 và đội ngũcông nhân đông đảo toàn liên bang Ngày nay, Đảng là thành viên của Quốc tế
Xã hội chủ nghĩa, đại diện cho giai cấp tư sản Mêhicô và một số lực lượng dân
Trang 14chủ, tiến bộ Tuy là đảng đối lập từ năm 2000, nhưng hiện nay Đảng vấn nắmquyền ở nhiều bang, địa phương quan trọng, vẫn trực tiếp cai quản 56% dân sốliên bang và là đảng có quy mô lãnh thổ lớn nhất toàn quốc Nhà thơ nổi tiếngcủa Pêru và Mỹ Latinh Mario Vargas Llosa đánh giá Đảng Cách mạng Thể chếMêhicô là hiện thân của nền chuyên chính hoàn thiện.
Trong hơn 7 thập kỷ cầm quyền, Đảng Cách mạng Thể chế Mêhicô đã đemlại hai kỳ tích cho đất nước Về mặt chính trị, Đảng đã duy trì được được ổnđịnh, trật tự xã hội trong bối cảnh tuyệt đại đa số các quốc gia Mỹ La tinh chìmngập trong chế độ độc tài quân sự, xung đột, khủng hoảng, chiến tranh; giươngcao độc lập, chủ quyền quốc gia, thực hiện đường lối đối ngoại tích cực Về mặtkinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 6% từ năm 1940 đến cuốithập kỷ 1970, đưa Mêhicô trở thành một trong những nền kinh tế công nghiệphoá thành công nhất trong khu vực Nhờ vậy, các ứng cử viên Tổng thống củaĐảng đều đạt số phiếu bầu trên 90% số lượng cử tri toàn liên bang
2.2 Thực trạng công tác xây dựng Đảng chính trị trong thế giới hiện đại
2.2.1 Một số điều chỉnh của các đảng chính trị nhằm thích nghi với những biến động kinh tế - xã hội và chính trị - tư tưởng trong thế giới hiện đại.
Nổi bật nhất là xu hướng mở rộng cơ sở giai cấp - xã hội và tính chất củađảng Sự phát triển kinh tế trong kỷ nguyên khoa học công nghệ, kinh tế tri thức,toàn cầu hoá hiện nay đã làm cho cơ cấu xã hội biến động phức tạp, trong đó
sự phân chia xã hội thành giai cấp không phải là dòng chủ lưu ở mọi nơi Sự đanxen về lợi ích, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng giữa các tầng lớp, các nhóm xãhội về lợi ích, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng giữa các tầng lớp, các nhóm xãhội nhiều khi lấn át sự khác biệt về giai cấp giữa các cá nhân người với nhau Đểthích ứng với hiện thực mới, đa số đảng chính trị ngày nay xác định vừa là độitiền phong của một giai cấp nhất định, vừa đại diện lợi ích cho đông đảo cáctầng lớp xã hội khác và cho cả quốc gia dân tộc Đấu tranh giai cấp, lợi ích giai