1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận thể chế chính trị thế giới đương đại so sánh thể chế chính trị liên hiệp vương quốc anh – bắc ailen và thể chế chính trị cộng hòa liên bang đức

27 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Thể Chế Chính Trị Liên Hiệp Vương Quốc Anh – Bắc Ailen Và Thể Chế Chính Trị Cộng Hòa Liên Bang Đức
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Thể Chế Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 54,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, từ những phân tích trên có thể kếtluận như sau: Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc,các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực

Trang 1

TIỂU LUẬNMÔN: THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI

Đề tài:

SO SÁNH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ LIÊN HIỆP VƯƠNG QUỐC ANH – BẮC AILEN VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỘNG HÒA LIÊN BANG

ĐỨC

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

II NỘI DUNG 2

2.1 Các khái niệm cơ bản 22.2.Lịch sử hình thành thể chế chính trị Liên hiệp vương quốc Anh- BắcAilen và Cộng hòa Liên Bang Đức 92.3 Sự giống và khác nhau giữa thể chế cộng hòa bán tổng thống của Liênhiệp vương quốc Anh- Bắc Ailen và Cộng hòa Liên Bang Đức 18

III KẾT LUẬN 23 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thể chế chính trị là một trong những vấn đề quan trọng của khoa họcchính trị được nhiều các học giả quan tâm nghiên cứu Qua nhiều giai đoạnhình thành và phát triển, cho đến nay thể chế chính trị của các quốc gia trởnên hoàn thiện hơn và đa dạng hơn so với các giai đoạn trước Trong thời kỳhiện tại này, trước xu thế phát triển mạnh mẽ của thế giới trên tất cả các lĩnhvực từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến chính trị, mỗi quốc gia luôn cố gắng xâydựng và hoàn thiện thể chế chính trị của mình để phát triển đất nước

Hiện nay ở châu Âu có: Áo, Phần Lan, Pháp, Ai-xơ-len, Ai-rơ-len, BồĐào Nha, Bun-ga-ri, Lít-va, Ba Lan, Ru-ma-ni, Nga, Ucrai-na, Đức, Anh Quốc gia Đức là quốc gia độc lập có chủ quyền ở khu vực Trung Âu Quốcgia này là một nước cộng hòa dân chủ tự do và là một nước nghị viện liênbang Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland lập nền trên thể chế quânchủ lập hiến với thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu chính phủ Đây là hệthống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực cho xứ Scotland,

xứ Wales và Bắc Ireland Quyền hành pháp thuộc về chính phủ Đây là haiquốc gia có thể chế chính trị rất nổi bật

Vậy thì, thể chế chính trị của hai đất nước này có gì nổi bật Tìm hiểuvấn đề này, ngoài việc hệ thống hóa những thông tin về thể chế cộng hòa bántổng thống của Liên hiệp vương quốc Anh – Bắc Ailen và thể chế Chính trịCộng hòa Liên Bang Đức dưới góc nhìn chính trị học so sánh, đề tài cũngmuốn rút ra những điểm giống và khác nhau, những kết luận tổng quan trọngcủa hai thể chế này

Từ đó có những góc nhìn đối chiếu trong quá trình xây dựng nhà nước

pháp quyền ở Việt Nam Với lý do trên, đề tài: “So sánh thể chế chính trị Liên hiệp vương quốc Anh – Bắc Ailen và thể chế Chính trị Cộng hòa Liên Bang Đức” được chọn làm tiểu luận hết môn của mình

Trang 4

II NỘI DUNG

2.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1 Chính trị

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: Chính trị là toàn bộnhững hoạt động mà tương ứng với nó là mối quan hệ giữa con người vớinhau trong các vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các tầnglớp xã hội mà cốt lơi của nó là các vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lựcnhà nước Tuy nhiên, trên thực tế có khá nhiều những quan điểm, trường pháikhác nhau định nghĩa về chính trị Theo Harold Lasswell thể chế chính trị là

về vấn đề ai đạt được cái gì, khi nào, như thế nào và tại sao đạt được CònDavid Easton cho rằng chính trị là sự phân phối bắt buộc những giá trị củamột xã hội Một học giả chính trị học (Nhà Kinh tế chính trị học và xã hộihọc) Max Weber lại cho rằng: chính trị là quá trình để giành quyền lực và ảnhhưởng sự phân phối quyền lực giữa các quốc gia hoặc giữa các yếu tố trongmột quốc gia Theo quan điểm của Bernard Crick thì chính trị là chính phủdưới một dạng nhất định, một phương thức đặc biệt để làm nên và thực hiệnchính sách, luật lệ tác động lên dân chúng Nghiên cứu chính trị theo nghĩarộng hơn thì chính trị liên quan đến 6 khía cạnh: 1) cộng đồng, 2) luật lệ, 3)cấu trúc kinh tế, 4) xung đột và mâu thuẫn lợi ích, 5) quản trị và 6) quyền lực

Về khía cạnh cộng đồng: chính trị là về những cộng đồng do con người tổchức nên Có 3 yếu tố trong cộng đồng chính trị là: dân cư sinh sống tronglãnh thổ có chính phủ Theo khía cạnh luật lệ thì chính trị gồm các luật lệ củacộng đồng gồm cả thành văn và các quy tắc không thành văn Theo khía cạnhcấu trúc kinh tế: quy tắc kinh tế quyết định cách chúng ta đánh giá về kinh tếnhư cái gì là giá trị, cái gì được coi là hàng hoá, và tài sản được đánh giá nhưthế nào Về khía cạnh thứ 4 (xung đột và mâu thuẫn lợi ích) thì chính trị làxung đột và mâu thuẫn lợi ích trên các quy tắc điều chỉnh cộng đồng Xungđột không chỉ là chiến tranh mà còn là sự không hoà hợp, mâu thuẫn Với

Trang 5

khía cạnh quản trị, điều hành thì chính trị là sự điều hành và quản lý cộngđồng Quản lý gồm việc tạo ra các quy tắc cho cộng đồng, các quyết địnhphân phối trong cộng đồng, giải quyết xung đột bằng luật lệ Quản lý cũngbao hàm thực hiện quyền lực Theo khía cạnh cuối cùng là quyền lực thìchính trị là quyền lực trong cộng đồng Quyền lực là khái niệm trung tâm củachính trị với quyền lực và việc thực hiện nó tạo ra các hệ quả của chính trị(theo nghĩa tích cực) Quyền lực là khả năng thống trị của một người đối vớingười khác trong một xung đột lợi ích (theo nghĩa tiêu cực)

Như vậy luận văn đã phân tích chính trị theo cách hiểu đa dạng với 6khía cạnh như trên Nghiên cứu chính trị để hiểu được bằng cách nào conngười tính toán và đạt được điều mình muốn, những điều tạo cho họ có thểtồn tại trong cộng đồng một cách hoà bình và hoà hợp

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin thì chính trị bắt nguồn từquan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc.Trong đó cơ bản và quan trọng nhất là lợi ích kinh tế Tiếp theo, Lê nin chorằng điều chi phối trực tiếp chính trị là quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lựcnhà nước là yếu tố trung tâm, then chốt nhất trong chính trị Nói đến chính trị

là phải nói đến giai cấp và nhà nước Điều quan trọng nhất trong chính trị đó

là tổ chức chính quyền nhà nước Do vậy, từ những phân tích trên có thể kếtluận như sau: Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc,các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

2.1.2 Thể chế chính trị

Nghiên cứu chính trị trong mối quan hệ với các yếu tố khác thì chính trị

là một lĩnh vực rất rộng với nhiều mối quan hệ khác nhau với không gian vàthời gian xác định như quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng phái chính trịvới các giai cấp và với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dânvới nhau và mối quan hệ giữa các tổ chức trong mỗi nhà nước Xét về mặt kếtcấu thì chính trị bao gồm các yếu tố như: 1) Chính sách, các quyết định củacác chủ thể chính trị; 2) Các thiết chế và thể chế chính trị; 3) Quan hệ con

Trang 6

người chính trị - giới lãnh đạo chính trị với công dân Như vậy thể chế chínhtrị là một yếu tố quan trọng trong chính trị Và cũng giống như chính trị, cónhiều quan điểm đưa ra khái niệm về thể chế chính trị Có quan điểm chorằng thể chế chính trị có thể là nội dung, phương thức tổ chức và hoạt độngcủa hệ thống chính trị của một quốc gia mà trọng tâm là nhà nước, được thểhiện trên các mức độ: 1) Hoạt động: cơ cấu vận hành của hệ thống chính trị;2) Cấu trúc: đảng cầm quyền, bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội;3) Pháp luật: Những định chế gồm hiến pháp, pháp luật và các quy định nhằmbảo vệ hệ thống chính trị quốc gia Ngoài ra, một quan điểm khác lại cho rằngthể chế chính trị gồm: 1) Những chuẩn mực, quy chế, quy phạm, luật lệ phảnánh mối quan hệ chức năng giữa các bộ phận của một tổng thể - chỉnh thể(trong đời sống xã hội); 2) Những dạng thức, những cấu trúc tổ chức phân bốtheo những chức năng của hệ thống xã hội; 3) Hoặc thể chế là tổng hợp gồm

cả hai cấp độ mà cấp độ này là cơ sở để xác định cấp độ kia Căn cứ vào mức

độ tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước thì có thể chế chínhtrị hành vi và thể chế chính trị tổ chức Thể chế chính trị hành vi là tập hợpcác quy tắc được hình thành trong quá trình phát triển của quốc gia, quy định

sự tham gia của dân chúng vào các công việc của nhà nước theo một hìnhthức nhất định Hình thức này trở thành các quy tắc xử sự của các công dânthông qua các hành vi ứng xử của mình trong các công việc của quốc gia nhưviệc nhân dân tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý do quốc gia tổ chức Thể chếchính trị tổ chức được hiểu theo 2 nghĩa: một là các tổ chức, các cơ quan thựchiện các công việc của nhà nước; hai là bao gồm toàn bộ các quy tắc xử sựcủa cơ quan, tổ chức khi thực thi quyền hạn của mình Những cơ quan và tổchức này là những tổ chức chính trị có mối tương quan chặt chẽ với nhau vàhợp thành hệ thống chính trị của mỗi quốc gia Hệ thống chính trị này ở tầm

vĩ mô bao gồm: cơ quan nhà nước, các nhóm lợi ích, đảng phái chính trị vàcác đoàn thể chính trị khác

Trang 7

Từ những quan điểm trên, luận văn tổng hợp và nêu khái niệm thể chếchính trị như sau: Thể chế chính trị bao gồm: 1) Một hệ thống các cơ quannhà nước tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực giữa lập pháp, hànhpháp, tư pháp, giữa chính phủ trung ương và cơ quan địa phương; 2) đảngphái chính trị, nhóm lợi ích và mối quan hệ giữa các cơ quan này với các thểchế nhà nước; 3) Thể chế chính trị cũng là các luật cơ bản như hiến pháp vàluật bầu cử Và sau đây luận văn sẽ tập trung phân tích thể chế chính trị thôngqua một hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước: quốc hội, chính phủ, tưpháp, đảng phải chính trị, các định chế về tổng thống, thủ tướng và quy địnhbầu cử…

2.1.3 Khái quát một số thể chế chính trị trên thế giới

Như đã trình bày ở trên, luận văn lựa chọn phân tích thể chế chính trị

tổ chức do vậy sẽ tập trung nghiên cứu các cơ quan nhà nước ở trung ươnggồm: nguyên thủ quốc gia, cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưngtrước hết là nguyên thủ quốc gia và tiếp theo là mối quan hệ của nguyên thủquốc gia với các cơ quan nhà nước trong thể chế Theo cách tiếp cận này thìhiện nay trên thế giới có hai loại thể chế chính trị cơ bản: quân chủ và cộnghoà Nói chung, thể chế quân chủ là thể chế “mà ở đó nguyên thủ quốc gia

do thế tập mà ra, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ cơi „hư vô‟ do thiênđình định đoạt” Thể chế cộng hoà là thể chế “nguyên thủ quốc gia do bầu

cử lập nên và quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân” Trong thể chếquân chủ lại có hai loại cơ bản: quân chủ tuyệt đối và quân chủ đại nghị.Quân chủ tuyệt đối là một loại hình tổ chức mà quyền lực nhà nước hầu nhưtập trung trong tay nhà vua Đây là loại hình của nhà nước phong kiến Hiệnnay trên thế giới còn có hai nước là Ô-man và Xu-đăng vẫn còn tổ chức theoloại mô hình này Ở các nước này không có hiến pháp, không có các cơ quanđại diện, Kinh Cô-ran được sử dụng như hiến pháp Nhà Vua là người cóquyền lực nhà nước cao nhất, đồng thời cũng là người đứng đầu về tinh thầncủa đất nước Thể chế quân chủ đại nghị là thể chế mà quyền lực được chia

Trang 8

đều cho cả vua và nghị viện cùng một số cơ quan nhà nước khác Quyền lựccủa vua bị hạn chế bởi hiến pháp Do vậy, hình thức thể chế này còn có têngọi là quân chủ lập hiến hoặc quân chủ đại nghị Quân chủ đại nghị là thểchế khá phổ biến hiện nay ở các nước châu Âu như Vương quốc Anh,Vương quốc Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy Trong đó Anh quốc là điểnhình cho mô hình thể chế chính trị này Trong thể chế quân chủ đại nghị,nguyên thủ quốc gia là các vị vua, quốc výõng, hoàng để được truyền ngôilại cho các thế hệ sau (cha truyền con nối) Cơ quan hành pháp (chính phủ)được thành lập và hoạt động khi có tín nhiệm của cơ quan lập pháp (nghịviện) Thể chế chính trị quân chủ đại nghị ở các nước đang phát triển thì cóđiểm khác biệt với các nước phát triển đã trình bày ở trên bởi vì các vị vuavẫn có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị của các quốc gia này (như ởThái Lan, Malai-xi-a,…) Đặc biệt ở Liên bang Ma-lai-xi-a thì nguyên thủquốc gia không phải do truyền ngôi mà là do những ngýời đứng đầu các tiểubang thay nhau trị vì vương quốc này với nhiệm kỳ 5 năm theo sự lựa chọncủa Hội nghị các tiểu vương quốc Bên cạnh đó, ở một số quốc gia Ả rậpnhư Bu-tan, Ka-ta-ra có hiến pháp quy định nghị viện là cơ quan có quyềnlập pháp độc lập nhưng cũng quy định đây là cơ quan tư vấn cho nhà vua.Vua là người đứng đầu chính phủ, hoặc có quyền trao cho người trong giađình là người đứng đầu chính phủ.

Mô hình thể chế chính trị hiện đại thứ hai là thể chế cộng hòa Thể chếcộng hoà mới xuất hiện vài trăm năm nay, kể từ khi cuộc các mạng tư sản nổ

ra ở các nước Châu Âu Nói chung thì hình thức thể chế này có nhiều đặcđiểm giống với thể chế quân chủ đại nghị, ngoại trừ người đứng đầu nhànước, nguyên thủ quốc gia được thành lập không do thế tập mà do bầu cử.Nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra người đứng đầu quốc gia mình Vịnguyên thủ quốc gia này được hiến pháp gọi là tổng thống, người đại diện chonhà nước về đối nội và đối ngoại Tuy nhiên, quyền hạn của tổng thống cóthực sự hay không, hình thức hay không hình thức phụ thuộc vào chính thể

Trang 9

chế chính trị của quốc gia đó thuộc hình thức thể chế cộng hoà nào Hiện naytrên thế giới có 4 hình thức thể chế chính trị cộng hòa gồm: Cộng hoà đại nghị(Parliamentarism), Cộng hoà tổng thống (Presidentialism), Cộng hoà bán tổngthống (SemiPresidentialism) và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (Socialism) Thểchế cộng hoà đại nghị có những đặc điểm sau: Nguyên thủ quốc gia do nghịviện bầu ra, chính phủ đứng đầu là thủ tướng chịu trách nhiệm trước nghịviện Nguyên thủ quốc gia không trực tiếp tham gia giải quyết các công việccủa đất nước Việc người dân không trực tiếp bầu tổng thống mà gián tiếpthông qua nghị viện là nguyên nhân làm cho nguyên thủ quốc gia không thựcquyền Các quốc gia châu Âu theo mô hình thể chế này như: Cộng hoà I-ta-li-

a, Cộng hoà Liên bang Đức, Hy Lạp Trong các quốc gia thể chế cộng hoà đạinghị, nguyên thủ quốc gia không là người đứng đầu cơ quan hành pháp vàcũng không là thành viên của chính phủ Hiến pháp của các nước này còn quyđịnh cụ thể về việc không chịu trách nhiệm của tổng thống Ví dụ như điều 90Hiến pháp I-ta-li-a quy định: “Tổng thống nước cộng hoà không chịu tráchnhiệm về các hoạt động của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, trừtrường hợp phản bội tổ quốc hoặc có hành động xâm phạm đến bản Hiếnpháp này”

Về mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia với chính phủ, tổng thốngđược quy định có quyền bổ nhiệm người đứng đầu chính phủ Nhưng trênthực tế, thủ tướng thường là người đứng đầu đảng giành thắng lợi trongcuộc bầu cử vào nghị viện Như vậy, tổng thống ở thể chế cộng hoà đạinghị cũng giống như nguyên thủ quốc gia ở thể chế quân chủ đại nghị đềutồn tại mang tính hình thức Cơ quan hành pháp và thủ tướng ngày càng trởthành cơ quan trung tâm, thực hiện chủ yếu quyền lực trong thể chế nhà.Khác với thể chế cộng hoà đại nghị, cộng hoà tổng thống là thể chế màtổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, đồng thời là người đứng đầu vàđiều hành trực tiếp chính phủ Tổng thống do nhân dân trực tiếp hoặc giántiếp bầu nên không chịu trách nhiệm trước nghị viện Thành viên của chính

Trang 10

phủ đều do tổng thống bổ nhiệm hoặc chỉ định và chịu trách nhiệm trựctiếp trước tổng thống Ở những thể chế chính trị này đã áp dụng toàn bộ nộidung học thuyết phân chia quyền lực, quyền lực nhà nước được phân chiagiữa ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp Mối quan hệ giữa Tổngthống (nhánh hành pháp) với Quốc hội (nhánh lập pháp) là quan hệ kiềm chế

và đối trọng lẫn nhau Quyền lực của tổng thống được tăng cường và chínhphủ không có chức danh thủ tướng Loại hình thể chế này được áp dụng phổbiến ở các nước châu Mỹ la tinh như Bra-xin, Mê-hi-cô, Ác-hen-ti-na…vàHoa Kỳ là nước được coi là khuôn mẫu và đầu tiên thành lập mô hình thểchế này Nhưng ngược lại, hình thức thể chế này lại không phổ biến ở khuvực châu Âu

Thể chế cộng hoà xã hội chủ nghĩa là thể chế chịu ảnh hưởng đầu tiên từ

mô hình thể chế nhà nước Liên Xô trước những năm 1990 Hiện nay, thể chếchính trị cộng hoà xã hội chủ nghĩa không còn ở khu vực châu Âu mà gồm ởmột số ít các quốc gia trong đó có Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thểchế chính trị của Việt Nam hiện nay theo quy định của Hiến pháp năm 1992tuy có một số thay đổi nhưng vẫn theo nguyên tắc tập quyền (khác với nguyêntắc tam quyền phân lập như đã trình bày trong thể cộng hoà tổng thống ởtrên) Quyền lực tập trung vào cơ quan lập pháp (Quốc hội) Quốc hội bầunhững chức vụ cao cấp nhất của nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng,Chánh án Toà án và Viện trưởng Viện Kiểm soát nhân dân tối cao Nguyênthủ quốc gia của thể chế chính trị Việt Nam là Chủ tịch nước, người đại diệncho nhà nước trong các hoạt động đối nội và đối ngoại Người đứng đầuChính phủ là Thủ tướng có nhiệm vụ lãnh đạo và điều hành các công việc củaChính phủ Việt Nam Và như vậy thì tuy có những đặc điểm riêng, nhiều ýkiến của các nhà nghiên cứu về thể chế chính trị cho rằng thể chế chính trị củaViệt Nam hiện nay có những điểm chung với chính thể cộng hoà đại nghị.Thể chế cộng hoà thứ tư là thể chế cộng hoà bán tổng thống Thể chế này có

Trang 11

nhiều đặc điểm cụ thể khác với cả ba thể chế trên Ngoài ra, đây là một thểchế phổ biến hiện nay ở khu vực châu Âu.

2.2 Lịch sử hình thành thể chế chính trị Liên hiệp vương quốc Bắc Ailen và Cộng hòa Liên Bang Đức

Anh-2.1.1 Liên hiệp vương quốc Anh – Bắc Ailen

Sự hình thành và phát triển của thể chế chính trị nước Anh gắn với lịch

sử châu Âu Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, từ thế kỷ V - X ở châu Âu hìnhthành chế độ phong kiến, nhiều vương quốc mới ra đời, là cơ sở cho sự hìnhthành các quốc gia - dân tộc sau này Từ thế kỷ XI-XV là thời kỳ phát triểncủa chế độ phong kiến Tây Âu Từ thế kỷ XVI - XVII là thời kỳ tan rã củachế độ phong kiến

Thể chế chính trị Anh hiện nay là kết quả của hơn 7 thế kỷ đấu tranh,phát triển liên tục Vào thế kỷ XII, Anh là quốc gia hùng mạnh nhất châu Âu,thiết lập chế độ chuyên chế cao độ, mọi quyền hành đều tập trung vào Nhàvua Tuy nhiên, sự hà khắc quá mức của nền thống trị chuyên chế đã dẫn đếnmâu thuẫn giữa Nhà vua với giáo hội và các giai tầng khác trong xã hội Cáclãnh chúa phong kiến liên kết với tầng lớp kỵ sĩ và thị dân liên tục nổi dậykhởi nghĩa Dưới sức ép của những người khởi nghĩa, năm 1215 vua Johnbuộc phải ký vào bản yêu sách của họ, bản Đại Hiến chương tự do (MagnaCarta), gồm 63 điều khoản thỏa thuận giữa Nhà vua và thần dân, theo đó đảmbảo quyền tự do của nhân dân (quý tộc, thị dân, nông dân ) Thực chất củanhững điều khoản này là hợp pháp hoá quyền lực của tầng lớp quý tộc, hạnchế quyền độc đoán của Nhà vua, xác nhận quyền tự do của các thành phố,quyền tự do đi lại buôn bán Sau này, mỗi khi các vị Vua tìm cách huỷ bỏ bảnHiến chương, giới quý tộc phong kiến lại liên kết với kỵ sĩ và nông dân đứnglên chống lại

Tuy nhiên, do cần nhiều tiền để tiến hành các cuộc chiến tranh phục vụcuộc sống xa hoa, và để chia cho con cháu, hằng năm Nhà vua đều triệu tập

Trang 12

đại diện các lãnh địa đến để phân bổ và tăng thuế Năm 1265, sau khi đánhbại quân đội triều đình, lãnh tụ một cuộc khởi nghĩa là Bá tước Mônphơ nắmchính quyền, xác lập liên minh giữa quý tộc phong kiến với thị dân và kỵ sĩ.Ông triệu tập một hội nghị không những bao gồm các nhà quý tộc, tăng lữ,

mà còn có cả đại biểu của thị dân, kỵ sĩ Mỗi lãnh địa được cử 2 đại biểu kỵ sĩ

và mỗi thành thị cử 2 đại biểu thị dân tới dự Hội nghị này được coi là Quốchội đầu tiên của nước Anh (Parliament)

Từ thế kỷ XI, tầng lớp thị dân ở Anh đã phát triển khá đông đảo, cácthành thị được hưởng quy chế tự trị, họ bầu ra Hội đồng nhân sĩ để quản trịthành phố Trước đòi hỏi về thuế ngày càng tăng của Nhà vua, các đại biểuđịa phương không thể tự quyết định, mà phải quay về địa phương để xin ýkiến Từ đó, họ trở thành người giữ vai trò truyền đạt ý kiến của nhân dân đếnNhà vua Đổi lại, các đại diện địa phương đặt yêu sách ngược lại: đòi Vuaphải nới lỏng chế độ chuyên chế, công bố các khoản thu - chi

Đến thế kỷ XIV, do sự phân biệt đẳng cấp, Quốc hội Anh bắt đầu chiathành hai viện: Viện Bình dân (Hạ nghị viện), gồm đại biểu của kỵ sĩ, thị dân;

và Viện Quý tộc (Thượng nghị viện) gồm đại biểu của giới quý tộc, tăng lữcao cấp Cũng từ đó, Quốc hội mở rộng quyền lực, trở thành cơ quan lập pháptối cao, quy định vua không được thu thuế khi chưa được Quốc hội thông qua,các vấn đề ngân sách hay khiếu nại về hoạt động của chính quyền đều thuộcthẩm quyền của Quốc hội Tuy nhiên, Quốc hội Anh chỉ đại diện cho quyềnlợi của những giai cấp, tầng lớp trên Dân chúng nghèo khổ ở nông thôn vàthành thị đều không có đại biểu

Vào thế kỷ XV, việc nước Anh thất bại trong cuộc chiến tranh kéo dàingót trăm năm với Pháp (1338 - 1453) đã thúc đẩy xung đột về quyền lựcgiữa hai phe quý tộc dẫn đến cuộc “chiến tranh hoa hồng” (1455 - 1485) Kếtquả là cả hai phe quý tộc đều thất bại và quyền lực của Nhà vua chiếm ưu thế.Một chính quyền quân chủ chuyên chế hình thành và được tầng lớp quý tộcmới, thị dân giàu có ủng hộ Nhà vua lập tòa án hành chính đặc biệt (gọi là

Trang 13

Tòa án Phòng Sao) nhằm đập tan sự chống đối của các địa phương, cấm cácquý tộc tổ chức quân đội riêng Vai trò của Quốc hội bị lu mờ, tuy nhiên triềuđình vẫn phải hỏi ý kiến Quốc hội khi muốn đánh thuế và làm luật.

Đến thế kỷ XVII, nền công nghiệp và thương mại phát triển mạnh,nhưng nước Anh vẫn duy trì thể chế chuyên chế phong kiến Vua nắm toànquyền, cả lập pháp, hành pháp, tư pháp, đứng trên cả nhà thờ Vua lập Viện

Cơ mật bao gồm những nhà quý tộc nổi tiếng, đóng vai trò cố vấn cho Vuatrong việc điều hành đất nước

Do phải tiến hành các cuộc chiến tranh liên miên, triều đình thường rơivào cảnh túng thiếu, nên thường xuyên tăng thuế sản xuất, định ra các loạithuế mới, đòi cho vay cưỡng bức Xã hội Anh chỉ trích mạnh mẽ hệ thốngđiều hành đất nước của Nhà vua, nghi ngờ Vua sủng ái đạo Thiên chúa Cảnước luôn ở trong tình trạng không ổn định, các phe phái đấu tranh giànhquyền lực, đụng độ quân sự xảy ra liên tiếp Sau nhiều lần bị giải tán, năm

1640, Nhà vua phải triệu tập cuộc họp mới của Quốc hội và Quốc hội trởthành quốc hội dài hạn, nâng cao vai trò của mình Các đại biểu Quốc hội tổchức thành uỷ ban, chuyển đổi những yêu sách, đòi hỏi Nhà vua bằng vănbản (Đây là tiền thân của các văn bản dự án luật mà Quốc hội dự thảo).Quốc hội giải tán các tòa án chính trị chuyên chế, đòi huỷ bỏ giáo hội, tước

bỏ quyền lãnh đạo quân đội của vua, thành lập quân đội của Quốc hội Cuộc tranh giành quyền lực giữa Quốc hội và Nhà vua lên đến cao điểmtrong phong trào Thanh giáo (1642-1649) Quốc hội ra quyết định xử tử VuaSáclơ I, bãi bỏ nền quân chủ, bãi bỏ Thượng viện Nước Anh trở thành nướccộng hòa

Nhưng sau đó quyền lực lại rơi vào chế độ bảo hộ độc tài của Crômôen

và con trai ông ta Sau khi giải tán Quốc hội dài hạn (1653), Crômôen và hộiđồng sĩ quan đã công bố một bản hiến pháp mới, gọi là Công cụ điều hành.Hiến pháp quy định: quyền lập pháp thuộc về một viện, kỳ họp hằng năm của

Ngày đăng: 06/01/2024, 12:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w