Tiến trình làm việc với nhóm đối tượng luôn được chúng em theo dõi, bám sát theo những nguyên tắc chung, chuẩn mực mà một nhân viên xã hội cần có. Chính vì vậy mà kết quả chúng em thu được trong chuyến đi thực tế này đạt được kết quả khá khả quan. Điều này được thể hiện từ chính những thay đổi tích cực hàng ngày của nhóm đối tượng thông qua các buổi sinh hoạt nhóm định kì. Những thành công và những hạn chế trong chuyến đi thực tế nhóm chúng em đã ghi nhận và tiếp thu để rút kinh nghiệm trong những lần thực hành về sau. Trong chuyến đi thực tế, chúng em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức tận tình của các thầy cô trong khoa công tác xã hội, đặc biệt là hai thầy cô phụ trách hướng dẫn nhóm là cô Nguyễn Thị Vân và thầy Nguyễn Minh Tuấn. Do kinh nghiệm còn hạn chế nên nhóm chúng em không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình hoạt động tại địa bàn, vì vậy chúng em rất mong các thầy cô góp ý,chỉnh sửa để bài báo cáo của nhóm được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, trẻ em luôn là niềm hy vọng tự hào của mỗi gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước
Ngày nay, cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của kinh tế và xã hội, trẻ em ngày càng được quan tâm chăm sóc tốt hơn, được đáp ứng nhiều nhu cầu về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, xã hội càng phát triển, nền kinh tế càng mở, sự phân hoá giàu nghèo càng gia tăng, thì các vấn để xã hội nảy sinh lại càng nhiều Một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất đó chính là trẻ em Các em có thể ở những tầng lớp, những địa phương, những hoàn cảnh khác nhau trong xã hội và trước những biến động xã hội có tính tiêu cực như hiện nay thì các em lại là những nạn nhân bị ảnh hưởng đầu tiên Tình trạng trẻ em lang thang, mồ côi, khuyết tật, phạm pháp, bị lạm dụng,… gọi chung là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang có chiều hướng gia tăng Trong những năm gần đây, nó đã trở thành những vấn đề nhức nhối mà xã hội quan tâm
Để giải quyết tình trạng trên đòi hỏi sự phối hợp của rất nhiều các cơ quan,
tổ chức trong đó công tác xã hội nói chung cũng như công tác xã hội cá nhân nói riêng đóng vai trò quan trọng Nhân viên xã hội cần nắm chắc và có những hiểu biết hết sức cơ bản về đối tượng của mình (nhất là về tâm lý), luôn học tập và trau dồi kiến thức chuyên môn, các kỹ năng và có những kinh nghiệm làm việc thực tế
để có thể tiếp cận và giúp đỡ các em một cách có hiệu quả Khi trẻ em được quan tâm, các vấn đề xã hội được phòng ngừa và giải quyết sẽ góp phần tạo nền an sinh
xã hội vững chắc, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để Việt Nam có thể hoà nhập cùng thế giới trong điều kiện toàn cầu hoá thế giới hiện nay
Là sinh viên của khoa công tác xã hội trước thực trạng trẻ em như hiện nay
tôi xin lựa chọn đề tài: “thuyết nhu cầu với trẻ em bị sao lãng” để mong muốn có
thể giúp đỡ các em được trở lại cuộc sống bình thường Tiểu luận này đã được tìm hiểu và góp nhặt từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau và những kiến thức kinh nghiệm còn thiếu nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các thầy cô xem xét
và góp ý để bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn
Bài viết gồm 3 phần:
Trang 2I Lý luận về thuyết nhu cầu của Maslow và các kỹ năng sử dụng của nhân viên xã hội khi giải quyết case
II Thuyết nhu cầu khi làm việc với trẻ em bị xao nhãng (thiếu các nhu cầu) tại xã Liên Hoà, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương dựa theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
III Kết luận
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Giảng viên: ThS Nguyễn Thị Thanh Hương đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành bài tiểu luận này
Người viết bài:
Sinh viên Nguyễn Thị Hiệp
Trang 3PHỤ LỤC
Trang 4I Lý luận chung về thuyết nhu cầu của Abraham Maslow và một số kỹ năng nhân viên xã hội sử dụng.
1 Thuyết nhu cầu của Maslow
1.1 Tổng quan về thuyết nhu cầu
1.1.1 Khái niệm về công tác xã hội
Công tác xã hội nhằm giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường, trong tiến trình phát triển xã hội Từ đó, giúp họ vượt qua khókhăn hiện tại để phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội nhằm đem lại sự an sinh cao nhất cho con người và sự tiến bộ, công bằng xã hội
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp của ngành Công tác xã hội nhằm giúp đỡ từng cá nhân con người thông qua mối quan hệ một - một Là cách thức, quá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn, những kinh nghiệm thực tế để giúp đối tượng phát huy tiềm năng, năng lực và cùng tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình
Vì vậy, nhân viên xã hội bên cạnh sử dụng các kiến thức chuyên môn đã được đào tạo cũng cần sử dụng nhuần nhuyễn các kỹ năng đã được tích luỹ của mình và nắm vững các thuyết để vận dụng linh hoạt và hiệu quả vào case, vào tiến trình mà nhân viên muốn giúp đỡ
1.1.2 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo, lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển Về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao,
đó là những nhu cầu thể chất/sinh lý (physiological), nhu cầu an toàn (safety and security), nhu cầu tình cảm xã hội (nhu cầu được yêu thương - love and belongingness), nhu cầu được tôn trọng (self-esteem) và nhu cầu được hoàn thiện (self-actualization)
Trang 55 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow là:
Những nhu cầu cơ bản phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống, họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về
vẻ đẹp, sự tôn trọng,
Theo thuyết Abraham Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể của xã hội
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Cho đến nay, chưa có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều người có ý định thay thế
1.2 Vận dụng thuyết nhu cầu trong thực hành công tác xã hội cá nhân.
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, có vai trò rất lớn đối với công tác xã hội đặc biệt là công tác xã hội hiện đại ngày nay Nó là cơ sở để giúp thân chủ nhận biết được nhu cầu của mình và tìm kiếm các giải pháp để đáp ứng được các nhu cầu
đó một cách tốt nhất Trong xã hội hiện đại, nhu cầu của con người có sự thay đổi
và con người không còn là “ăn no, mặc ấm” mà là “ăn ngon, mặc đẹp” nên thường con người đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản, đang có những nhu cầu cao hơn Việc
Trang 6sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao thể hiện sự “văn minh” của con người Tuy nhiên cần có sự đáp ứng từ những nhu cầu thấp, cơ bản tới các nhu cầu cao dần, và cần có sự kết hợp đáp ứng các nhu cầu cùng một lúc, không nên nhấn mạnh nhu cầu nào hơn mà bỏ qua nhu cầu khác
Con người luôn có những nhu cầu và mong muốn được thoả mãn những nhu cầu đó Khi nhu cầu được thoả mãn họ thấy hài lòng và khuyến khích họ hành động một cách tốt nhất Ở mỗi hoàn cảnh, điều kiện sống và các giai đoạn phát triển của con người cũng như các giai đoạn phát triển của xã hội khác nhau con người có những nhu cầu cần thoả mãn khác nhau Khi nhu cầu thấp được thoả mãn con người có xu hướng tiến tới những nhu cầu cao hơn Trẻ em là đối tượng dễ bị thiếu các nhu cầu nhiều nhất, nhất là với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Việc đáp ứng các nhu cầu của con người khi họ thiếu cũng là một quyền của con người, đảm bảo quyền con người được đáp ứng Đối với trẻ em, việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu theo bậc thang nhu cầu của Maslow là cần thiết để tạo điều kiện cho các em phát triển toàn diện
Nhân viên xã hội cần giúp thân chủ nhận biết được nhu cầu của bản thân, xem mình đang thiếu nhu cầu nào và cần đáp ứng nó như thế nào?
1.3 Tích cực và hạn chế của thuyết
1.3.1 Điểm tích cực của thuyết
Từ góc độ lý thuyết cảm xúc, mọi việc đều sẽ được giải thích một cách dễ dàng và rất khoa học về nguyên nhân và nguồn gốc các loại nhu cầu của con người
Việc hiểu biết hệ thống nhu cầu theo thứ bậc này giúp nhà tham vấn hiểu được thân chủ đang có những nhu cầu nào chưa được đáp ứng và ở thứ bậc quan trọng nào, nhu cầu nào cần phải can thiệp giúp thân chủ đáp ứng trước Đồng thời
có giải pháp phù hợp đáp ứng cho từng nhu cầu
Khi một nhu cầu nào đó thiếu hụt thân chủ sẽ đấu tranh để có thể tồn tại và phát triển hơn trong cuộc sống
1.3.2 Một số điểm bất hợp lý trong lý thuyết về nhu cầu của Maslow
Trong rất nhiều trường hợp của cuộc sống, con người cần các loại nhu cầu khác nhau, nhưng hoàn toàn không theo qui luật tháp nhu cầu, tức là phải đáp ứng
Trang 7xong nấc nhu cầu cơ bản rồi con người mới cần đến nhu cầu mức an toàn, thỏa mãn mức số an toàn xong mới có nhu cầu tình cảm xã hội, Ở từng tình huống cụ thể, các nhu cầu của mỗi cá nhân sẽ hoàn toàn khác nhau và đưa tới các hành vi khác nhau Có những người sẵn sàng hy sinh, chấp nhận chịu đựng sự đói khổ ở nấc nhu cầu cơ bản để tạo uy tín cá nhân thuộc về nhu cầu được tôn trọng hoặc có khi cá nhân chỉ mới được thỏa mãn nấc nhu cầu cơ bản nhưng họ lại có các nhu cầu hoàn thiện Ngược lại, có những người đang ở mức nhu cầu được tôn trọng lại muốn quay về được sống ở mức nhu cầu về tình cảm xã hội (như trường hợp hy sinh tất
cả vì tình yêu theo kiểu một túp lều tranh hai quả tim vàng) Vì vậy, chúng ta không thể đoán trước hay giải thích được các hành vi theo ngẫu hứng của con người nếu chỉ dựa trên cách phân nhóm nhu cầu của Maslow
Một thiếu sót lớn nữa của lý thuyết Maslow là chỉ dựa vào bản năng nhu cầu an toàn, tức bản năng duy trì sự tồn tại của chính cá nhân đó Trên thực tế bản năng lớn nhất, quan trọng nhất chính là nhu cầu thể chất, tức là duy trì sự tồn tại của giống nòi Lý thuyết của Maslow đã không lý giải được những trường hợp mà cá nhân hành động theo bản năng này, ví dụ nhảy vào lửa để cứu đứa con của mình, hay trường hợp những cá nhân rất nghèo khổ, nhưng lại sẵn sàng cưu mang cho đứa trẻ bị bỏ rơi,
2 Một số kỹ năng nhân viên xã hội sử dụng trong tiến trình giải quyết vấn đề
Kỹ năng là có năng lực thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó có kết quả Đó là sự nắm vững và vận dụng phương thức hành động vào thực tiễn trên
cơ sở tri thức và những kinh nghiệm được hình thành trước đó, những kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin)
Kỹ năng sử dụng trong case này là kỹ năng vấn đàm, thamvấn đàm, tham vấn, quan sát, thấu hiểu
* Kỹ năng vấn đàm là cuộc đối thoại trực tiếp giữa nhân viên xã hội với một hay nhiều người với mục đích thu thập thông tin, cung cấp thông tin nhằm đưa ra biện pháp trị liệu, cách can thiệp, hỗ trợ thân chủ
* Kỹ năng tham vấn là quá trình nhân viên sử dụng những kiến thức, kỹ năng chuyên môn để cùng thân chủ giải quyết vấn đề hoặc tăng cường khả năng tự giải
Trang 8quyết vấn đề, tăng cường chức năng xã hội của họ
* Kỹ năng quan sát là tri giác có mục đích, quan sát hành vi, cử chỉ, nét mặtcủa thân chủ để nhận biết được những diễn biến tâm lý, những suy nghĩ của họ so với thông tin qua đường ngôn ngữ nhằm khẳng định tính xác thực thông tin của thân chủ
Ý nghĩa kỹ năng, kỹ năng được nhân viên sử dụng nhằm giúp nhân viên tạo lập được mối quan hệ với thân chủ, khai thác được thông tin nhiều nhất, hiệu quả nhất, thể hiện được sự quan tâm của mình tới vấn đề của thân chủ,
3 Vai trò của thân chủ khi áp dụng thuyết nhu cầu giải quyết vấn đề
Thân chủ là người có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề của mình, nhằm đảm bảo mục đích của công tác xã hội là giúp thân chủ tự lực giải quyết vấn đề của mình và đảm bảo các nguyên tắc của công tác xã hội trong đó có nguyên tắc đảm bảo quyền tự quyết của thân chủ
Chỉ thân chủ mới biết được nhu cầu hiện tại của chính mình, và thuyết nhu cầu của Maslow sẽ giúp thân chủ thấy được nhu cầu cần thiết hiện tại, muốn thay đổi nhu cầu nào dưới sự giúp đỡ của nhânn viên xã hội
4 Vai trò của nhân viên xã hội khi áp dụng thuyết
Nhân viên là người đã được học và có những kiến thức chuyên môn rất cơ bản, trong đó việc nắm vững các lý thuyết trong công tác xã hội cá nhân là rất quan trọng Vì vậy, nhân viên sẽ là người hướng dẫn cho thân chủ tìm được đúng vấn đề của mình và cùng họ đưa ra các giải pháp thực hiện đạt kết quả cao nhất
Huy động nguồn lực nhằm giúp gia đình thực hiện vai trò trong khả năng hạn chế của họ, đó là mối quan hệ giúp đỡ hay phục vụ, đặc biệt vì sự hiểu biết của NVXH gắn liền với cách làm việc NVXH cần phát huy cao nhất khả năng có mặt của người cha- mẹ Trong quá trình này NVXH phải làm việc bằng các giác quan, bằng trực giác, bằng quan sát cá nhân và sự hiểu biêt, kinh nghiệm trong nghề nghiệp
Sự giúp đỡ của NVXH là một chỗ dựa nội tâm hết sức ân cần, chu đáo với trẻ, khi trẻ tự phân đấu, đòi hỏi NVXH phải tiếp cận được sự tuyệt vọng của trẻ mà
Trang 9mình có thể cảm nhận thấy, đồng thời cần giữ một khoảng cách nào đó với thân chủ để tránh dựa dẫm ỷ lại Cách hỗ trợ cũng cần tránh cảm giác thương hại về những gì đã xảy ra với em, nâng đỡ trẻ, khơi gợi sự sáng tạo và những khả năng vốn có để thực hiện những ước muốn của trẻ hướng trẻ đến tương lai tươi sáng.
Tất cả những mối quan hệ có được với bất cứ trẻ nào cũng có thể gợi cho NVXH những hình ảnh tuổi thơ những khó khăn những kỷ niêm, điều đó cũng có nghĩa là khi làm việc với thân chủ NVXH cũng đồng thời cũng làm việc với quá khứ của mình vì thế các hoạt động cũng phần nào mang ý nghĩa chủ quan Do đó công việc mà NVXH nên làm đó là nên làm tập thể để có thể trao đổi những suy nghĩ của từng người, chia sẻ những giải pháp để tránh lạm quyền cũng như nản chí, tất nhiên điều này cũng dựa trên sự đồng ý của thân chủ và gia đình họ
II Thuyết nhu cầu khi làm việc với trẻ em bị xao nhãng (thiếu các nhu cầu) tại xã Liên Hoà, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương dựa theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
II.1 Mô tả hoàn cảnh và vấn đề của thân chủ
P.V.U, 14 tuổi, đang học lớp 8, ít nói, nghịch ngợm U sống cùng bố mẹ, bà nội và một anh trai 20 tuổi ở Thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Bố mẹ làm kinh doanh nhỏ, ít có thời gian chăm sóc con Bà 87 tuổi đang hưởng trợ cấp người cao tuổi Anh trai Q đang học Đại học Xây dựng, là người hiền, ngoan và học giỏi nên được bố mẹ rất yêu quý Bố luôn áp đặt U, lấy Q làm tấm gương để bắt U phải học thật giỏi như anh mình, mỗi lần làm sai chuyện gì hoặc không làm theo ý bố là U bị bố đánh Trong đợt thi lên lớp vừa qua em không đủ điểm lên lớp mà phải ở lại lớp Khi biết vậy sợ bị bố đánh vì bố mẹ rất kỳ vọng vào
em, tin tưởng em sẽ giống như anh Q nên em bỏ nhà đi Gia đình đã tìm về và em
bị bố đánh chửi, cấm không cho ra khỏi nhà Từ đó em trở nên lầm lỳ hơn và không nói chuyện với ai Mẹ em không biết làm sao để khuyên con nữa dù rất thương con
Qua tìm hiểu, vấn đề đầu tiên là sự tổn thương và rất buồn của U khi không phải ở lại lớp và khi bị bố đánh, U thấy thiếu sự quan tâm và lắng nghe ý kiến từ
Trang 10gia đình vì bố mẹ không yêu quý và quan tâm tới như anh Q, không được tôn trọng
ý kiến riêng,
II.2 Tiến trình giải quyết case
1 Tiếp cận case và xác định vấn đề vấn đề ban đầu
Giai đoạn này là giai đoạn tiếp cận thân chủ và xác định thân chủ chính là ai, xác định vấn đề ban đầu của thân chủ, vấn đề cấp bách Việc tiếp cận thân chủ có thể do thân chủ tìm đến với nhân viên xã hội hoặc nhân viên xã hội tìm đến thân chủ để giải quyết vấn đề cho thân chủ Nhân viên cần thiết lập được mối quan hệ thân mật, cởi mở với thân chủ, tạo điều kiện để thân chủ hợp tác tích cực
Trong trường hợp này, tôi tìm đến gia đình và thân chủ để tìm hiểu vấn đề của thân chủ, chia sẻ và tìm giải pháp giải quyết vấn đề của mình
Nhân viên sử dụng kỹ năng quan sát, vấn đàm, lắng nghe và ghi chép để tìm hiều vấn đề của thân chủ:
Bằng kỹ năng quan sát thái độ, hành vi của thân chủ tôi thấy U không nói năng gì nhiều, khi bố hỏi gì trả lời ngắn gọn, không cười, lặng lẽ, nét mặt tỏ ra lo lắng, bất an, mặt luôn cúi xuống
Tôi đã cố gắng lắng nghe và đặt những câu hỏi đơn giản để em có thể trả lời
và thu được thông tin dễ nhất nhưng em cũng chỉ nói qua loa và che dấu đi cảm xúc thực của mình Dù vậy, tôi cũng thấy rằng U muốn có người chia sẻ và tôi hẹn em một buổi khác để nói chuyện riêng với em, em đồng ý
Khi sử dụng kỹ năng vấn đàm với bố tôi thấy bố đang còn rất giận U và còn muốn dùng hình phạt này lâu hơn nữa
Qua tìm hiểu tôi xác định được thân chủ chính là U Thấy vấn đề của U là việc thiếu các nhu cầu và vấn đề có thể giải quyết được mà vấn đề đầu tiên là sự tổn thương và thất vọng của U Vấn đề đó cần được giải quyết ngay Tôi làm quen với gia đình và U để tạo mối quan hệ với mọi người, tạo được lòng tin với U để U
có thể sẵn sàng chia sẻ
Khi tiếp cận case tôi cũng gặp khó khăn, đó là sự không hợp tác của bố U, sự
im lặng và thu mình không chia sẻ của U nên tiếp cận được U mất rất nhiều thời
Trang 11gian Vì vậy, mà thời gian tạo lập được mối quan hệ với U cũng lâu Song với sự giúp đỡ nhiệt tình của mẹ và bà U tôi đã tiếp cận được thân chủ và thực hiện phân tích, tiến hành được các giai đoạn của tiến trình công tác xã hội cá nhân với U.
2 Giai đoạn thu thập thông tin.
Thu thập thông tin để có cái nhìn tổng thể về vấn đề của thân chủ, giúp nhân viên chẩn đoán về cá nhân trong tình huống và trên cơ sở đó lập kế hoạch trị liệu
Các thông tin cần thu thập là những vấn đề của thân chủ, hoàn cảnh, những người liên quan, vấn đề bắt đầu từ khi nào, đã có những can thiệp gì chưa, khía cạnh của môi trường xã hội, vấn đề này không được giải quyết sẽ để lại hậu quả như thế nào, có thể huy động nguồn lực từ đâu để giải quyết vấn đề, Thông tin có thể thu thập từ chính bản thân thân chủ trình bày, từ gia đình, bạn bè, nơi làm việc, nơi học tập, các đoàn thể, hồ sơ của thân chủ, kết quả trắc nghiệm tâm lý, nghiên cứu hồ sơ,
Những thông tin ban đầu có thể không chính xác, tương phản hay sai lạc cần được làm sáng tỏ hoặc kiểm chứng lại do truyền thông không được tốt hoặc do thân chủ đang trong tình trạng đắn đo, mâu thuẫn, Vì vậy, nhân viên cần hỗ trợ thân chủ từ từ nhìn rõ lại vấn đề, tìm nguyên nhân sâu xa Thu thập thông tin cần tiến hành trong suốt tiến trình giúp đỡ thân chủ
Các nguồn thông tin mà tôi thu thập đó là: từ sự chia sẻ của bản thân U, từ gia đình, từ bạn thân, từ thầy cô trên trường trước kia U học, từ hang xóm xung quanh nhà U
Các thông tin mà tôi thu thập đó là: Những biểu hiện về cảm xúc, hành vi của thân chủ? Những biểu hiện đó bắt đầu từ bao giờ? Có bình thường không? Đã
có những cách giải quyết nào cho vấn đề đó? Mối quan hệ trong gia đình thân chủ như thế nào? Thái độ của những người thân ra sao trước những biểu hiện đó của em? Em đã từng như thế hay chưa? Các nguồn lực có thể hỗ trợ em giải quyết vấn
đề của mình gồm những ai, cơ quan, đoàn thể nào?,
Qua những thông tin thu thập được tôi có thể phân tích vấn đề của thân chủ như sau:
Trang 12Lúc nhỏ U đã là một đứa trẻ nghịch ngợm, ngang bướng, khó bảo Bố mẹ làm kinh doanh nhỏ nên cũng có tiền để chu cấp đầy đủ cho hai anh em U học hành, đáp ứng được các nhu cầu về ăn uống cho U Bà có trợ cấp người cao tuổi nên cũng đỡ đi gánh nặng chi tiêu phần nào Q cũng đang học nên cũng có thể kèm cặp em được
Gần đây U có những sự thay đổi đáng kể (trầm lặng, ít nói, không còn hay nói chuyện với bà, hay gắt khi có người hỏi,…) điều này bắt nguồn từ việc em không thi đậu lớp 10 và bị bố đánh do bỏ nhà đi Bố mẹ U không quan tâm tới em nhiều nên em không biết chia sẻ sự sợ hãi với bố, những suy nghĩ, tâm trạng của
em với ai, nó dần tích tụ và gây lên vấn đề của em hiện tại Ở độ tuổi 16 tuổi có những sự thay đổi và xáo trộn về tâm lý thể chất và việc bắt em ngồi lỳ trong nhà
đã làm em nghĩ nhiều hơn về gia đình mình và hoàn cảnh của mình so với bè bạn nên em càng im lặng, cô đơn và bất an hơn trước
Ngoài ra, tôi còn thu thập thêm các thông tin đó là: U không có nhiều bạn bè, trên lớp em không chơi thân với ai, ít nói, lầm lì, U có một người bạn K cùng xóm rất thân, chơi với U từ bé nhưng khi U bị cấm ra khỏi nhà thì hai người không gặp nhau nữa Không ai chia sẻ, nói chuyện tâm tình trong gia đình, chỉ thỉnh thoảng nói chuyện với bà, mẹ bận rộn, bố áp đặt và khi không làm được theo ý bố thì bố thêm gét U, anh trai thì học xa lại là mẫu người mà bố bắt học theo nên em không hay nói chuyện và lánh xa anh U thích được làm theo ý mình, không thích bố ép mình giống như anh trai U rất sợ bố, hay nói chuyện với bà Bố mẹ thương con cái, muốn con cái được học hành tử tế và thành đạt sau này nên đã bắt U phải học thật giỏi trong khi U còn đang tuổi chơi, điều đó tạo ra áp lực rất lớn cho U
Trên đây là những thông tin ban đầu, nhưng chưa hoàn toàn chính xác, vì vậy trong quá trình giải quyết vấn đề cho thân chủ tôi sẽ làm sáng tỏ thêm và kiểm chứng lại để nhìn nhận xem em đang gặp vướng mắc ở đâu và em cần gì cho vấn
đề của mình?
Kỹ năng vấn đàm trong quá trình thu thập thông tin
Trang 131 Nhà CTXH: Em có thể cho chị
biết em cảm thấy như thế nào khi bị bố
đánh em?
2 Thân chủ: em thấy buồn và
ghét bố, bố chỉ yêu quý mỗi Q thôi
3 Nhà CTXH: em đã nói gì với
bố mẹ khi bố mẹ đặt quá nhiều niềm tin
vào em, tạo cho em áp lực lớn trong học
tập?
4 Em không dám cãi bố vì bố rất
dữ đòn và gia trưởng Em cũng không
dám nói cho ai, sợ ai đó vô tình nói với
bố
…
Kỹ năng vấm đàm nhằm tìm hiểu cảm xúc, biết được sự lo lắng, suy nghĩ của thân chủ
Qua những kênh thông tin tôi đã tìm hiểu, có thể thấy rằng U đang thiếu tất
cả những nhu cầu trong nấc thang nhu cầu của Maslow (đặc biệt là nhu cầu về an toàn, yêu thương và được tôn trọng) Gia đình U có điều kiện và khá đầy đủ về vật chất nhưng em lại ít có được sự quan tâm, chia sẻ, khích lệ từ gia đình, không có điều kiện thực hiện những sở thích của mình, do bố mẹ mải làm ăn và bố là người gia trưởng
Tôi cùng U vẽ sơ đồ phả hệ và sơ đồ sinh thái của U
Trang 14Sơ đồ phả hệ của U (khi chưa có sự can thiệp của nhân viên xã hội)
Chú thích:
Kết hôn:
Quan hệ xa cách:
Quan hệ một chiều:
Quan hệ thân thiết:
Quan hệ mâu thuẫn:
Trang 15em phải học tập anh trai, dù vậy cũng có khi tỏ ra thương mẹ vì khi bố đánh mẹ đã bênh U Không nói chuyện với anh vì anh là mẫu người mà bố mẹ bắt phải học để trở thành.
Biểu đồ sinh thái của U
U
Nhà trường
Bạn bè Hàng
cao tuổi
Q
Đoàn thanh niên