MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI NẠN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CHƯƠNG II : KHAI THÁC KHOÁNG SẢN CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ HỆ LỤY CHƯƠNG 4: NGĂN CHẶN, QUẢN LÍ VÀ BẢO VỆ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO MỤC LỤC
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH VÀ DU LỊCH
BỘ MÔN: MÔI TRƯỜNG và CON NGƯỜI
NẠN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
Th.S Trần Thị Ngọc Mai Nhóm : 9
TP HCM - 2012
DANH SÁCH NHÓM
Trang 2Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo,
là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn
Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước
nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các quá trình
Trang 3phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản Qua 65 năm nghiên cứu điều tra cơbản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng với các kết qủa nghiêncứu của các nhà địa chất Pháp từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay chúng ta đã pháthiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sảnkhác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vậtliệu xây dựng Hiện nay vấn đề ở Việt Nam là hiện trạng chảy máu tài nguyên do côngnghệ lạc hậu và khai thác bừa bãi đang trở nên quá bức xúc: sử dụng công nghệ lạc hậu,tranh thủ đào bới để khai thác thô xuất khẩu đã dẫn đến tình trạng thất thoát và lãng phítài nguyên khoáng sản, thời gian qua đã xảy ra tình trạng các địa phương đua nhau cấpgiấy phép khai thác Đã thế, điều đáng buồn là chúng ta lại cấp phép cho nhiều ngườikhông biết gì về khoáng sản,việc khai thác không đúng nơi qui định làm khoáng sản bịchia nhỏ, cục bộ, thiếu sự đầu tư sâu và mạnh ai nấy làm Ngành địa chất hiểu biết nhất
về tài nguyên khoáng sản thì lại hầu như đứng ngoài cuộc, chỉ làm mỗi việc nghiên cứu,điều tra cơ bản, rồi cấp phép Chính vì thế đã tác đông rất tiêu cực đến môi trường: môitrường thì càng bị ô nhiễm, gây trượt lỡ đất, xói mòn, nguồn tài nguyên khoáng sảnngày cạn dần sẽ dẫn đến thiếu hụt tài nguyên để dùng cho tương lai…
Vì vậy Nhà nước và nhân dân chúng ta cần tìm hiểu rõ về tình trạng tài nguyênkhóang sản và nạn khai thác tài nguyên khoáng sản hiện nay để tìm cách khắc phục,hạn chế sự tác động tiêu cực và hướng đến phát triển bền vững cho tương lai, đấy cũngchính là lí do của buổi thuyết trình hôm nay của nhóm chúng em!
CHƯƠNG 1 : KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI
1.1 Khái niệm
Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chấttrong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố
có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày
Nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, bao gồm cả kimloại và phi kim loại như đồng, sắt, thiếc, vàng, than, dầu,v.v Đến nay công tác điều trakhảo sát đã phát hiện và ghi nhận trên lãnh thổ nước ta có khoảng trên 5.000 mỏ và
Trang 4điểm quặng với trên 70 loại khoáng sản khác nhau, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miềnnúi và vùng cao.
Nguyên tố cấu tạo vỏ trái đất (theo Miller, 1988)
Một mẩu quặng đất hiếm
1.2 Phân loại khoáng sản
Khoáng sản kim loại
Khoáng sản không kim loại
Phân loại theo mục tiêu sử dụng:
Nhóm kim loại đen: Fe, Mn, Cr sản xuất kim loại đen, vật liệu mài(oxit crom), làm điện cực (Mn)…
Tên nguyên tố Phần trăm(%)
Trang 5 Nhóm kim loại hợp kim: Ti, Co, Mo, Ni, phụ gia trong sản xuất kimloại đen, luyện kim màu.
Nhóm kim loại màu: màu nặng( Cu, Pb, Zn), màu nhẹ( Al, Mg), màuhiếm( Hg, Sn…)
Nhóm kim loại quí: Au, Ag, Pt
Nhóm kim loại phóng xạ: U, Th, Ra
Nguyên liệu kĩ thuật: thạch anh, apatit, mica, garaphic…
Đá quí và đá trang trí:
Nhóm đá quí: kim cương, ruby; đá bán quí( saphia…)
Đá trang trí: có màu sắc và hoa văn đẹp đá ốp lát
Đá có ích: sản xuất gốm sứ, chất độn cao su, giấy; sản xuất ximang,gạch ngói…
1.3 Một số khoáng sản kim loại chính
1.3.1 Quặng sắt
Ở Việt Nam đã phát hiện trên 216 vị trí có quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệutấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Đáng chú ý nhất là mỏsắt Quý Xa ở Lào Cai và mỏ sắt Thạch Khê ở Hà Tĩnh
Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ 300.000 –450.000 tấn Thị trường quặng sắt hiện nay: 80% sử dụng trong nước, chủ yếu là để
Năng lực khai thác quặng sắt hiện nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.000
1.3.2 Bô xít
Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bôxít
với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo đạt
khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc
Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình Phước,…
Trang 6Theo tài liệu hiện có, tài nguyên bauxit nói chung và bauxit laterit ở Việt Nam được
dự tính khoảng 5,5 – 6,9 tỉ tấn và có khả năng còn tăng thêm, thuộc loại quốc gia có tài
Tây Nguyên
1.3.3 Quặng titan
Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất đã phát hiện 59 mỏ và điểm quặng titan,trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8 mỏ trung bình có trữ lượng >100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng
1.3.4 Quặng thiếc
Thiếc được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng khoảng cuối thế kỷXVIII Đến 1945, người Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn tinh quặng SnO2 Sauhoà bình lập lại, mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng được Liên Xô (cũ) thiết kế và trang bị bắtđầu hoạt động từ 1954 Đây cũng là mỏ thiếc lớn đầu tiên khai thác, chế biến có quy môcông nghiệp
Hiện nay, có ba xưởng điện phân thiếc thương phẩm loại I xuất khẩu với tổng côngsuất là 1.500t/năm - 1.800t/năm
1.3.5 Quặng đồng
Quặng đồng phát hiện ở Việt Nam cho tới nay
đáng kể nhất là ở mỏ đồng Sinh Quyền – Lào Cai,
sau đó là mỏ đồng Niken – Bản Phúc
Công nghệ khai thác lộ thiên kết hợp với hầm
lò Công nghệ tuyển nổi đồng để thu được quặng
tinh đồng, tinh quặng đất hiếm và tinh quặng
manhêtit Khâu luyện kim áp dụng phương pháp
thuỷ khẩu sơn (luyện bể) cho ra đồng thô, sau đó
qua lò phản xạ để tinh luyện và đúc dương cực, sản
Trang 7phẩm đồng âm cực được điện phân cho đồng thương phẩm.
1.4 Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
1.4.1 Tài nguyên khoáng sản trên thế giới
• Phân bố không đều giữa các nước, phần lớn
khoáng sản được khai thác từ các nước kém phát
triển, sau đó xuất khẩu sang các nước tư bản
• Các khoáng sản điển hình được sử dụng nhiều
trên thế giới: quặng sắt, quặng nhôm, gang, thép,
quặng thiếc, chì, niken, phân bón Lượng phân bố ở các tỉnh nước ta (%)
1.4.2 Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng Nhiều khoáng sản có
trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít, Đáng chú ý nhất là tài nguyên
dầu khí.
Theo thống kê có khoảng 5000 mỏ và điểm quặng, có hơn 60 khoáng sản và hơn
270 mỏ được khai thác Các khoáng sản phân bố không đều.
1.4.3 Đánh giá tài nguyên khoáng sản Việt Nam trong bối cảnh khoáng sản thế giới
Trang 8Tiến sĩ Nguyễn Khắc Vinh-Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam khẳng định:
“Nước ta có tới 40 chủng loại từ khoáng sản năng lượng (dầu khí, than, urani, địanhiệt), khoáng sản không phải kim loại, vật liệu xây dựng đến khoáng sản kim loại.Nhưng không giàu về tài nguyên khoáng sản vì hầu hết các khoáng sản ở Việt Nam cótrữ lượng không lớn, lại phân bổ tản mát thiếu tập trung”
Chẳng hạn như dầu khí, nếu không phát hiện thêm trữ lượng thì với sản lượng khaithác như hiện nay chỉ vài ba chục năm nữa sẽ hết nguồn khai thác Còn than ở đất liềncũng đã cạn kiệt dần, đang và sẽ phải nhập khẩu mới bảo đảm được nhu cầu tiêu thụtrong nước Nguồn than nằm dưới sâu đồng bằng sồng Hồng có trữ lượng lớn tới vàitrăm tỷ tấn, nhưng vấn đề công nghệ trong khai thác rất phức tạp chưa giải quyết được,nếu khai thác sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường và an sinh xã hội, trong khi tiềm năngurani và địa nhiệt của nước ta không đáng kể
CHƯƠNG 2 : KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
2.1 Tình hình khai thác và chế biến
Công nghệ khai thác ở các mỏ quy mô công nghiệp chủ yếu là khai thác bằng ôtô,máy xúc, tuyển trọng lực, tuyển từ, tuyển điện và công nghệ luyện kim bằng lò phản xạ,
lò điện hồ quang
2.1.1 Về khai thác và tuyển khoáng
Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được
chú ý, đa số áp dụng hệ thống khai thác lộ thiên với
công nghệ ôtô - máy xúc Đây là loại hình công nghệ cổ
điển, giá thành cao Các thông số kỹ thuật của hệ thống
khai thác và vận tải không đảm bảo Từ khi có chủ
trương khai thác mỏ nhỏ, khai thác tận thu, hàng loạt các
công trường khai thác thủ công mọc lên như khai thác
vàng, đá quý, thiếc, mangan, sắt, In-me-nhít…
Trang 9Phương pháp khai thác thủ công hầu như không có cơ sở khoa học về công nghệ.Một số cơ sở áp dụng phương pháp tuyển nổi như đồng Sinh Quyền, tuyển quặngsunphua kẽm chì Lang Hích, apatít, graphít,… với sơ đồ và thiết bị tuyển đơn giản, hệ
số thu hồi thấp, giá thành cao và chưa thu hồi được khoáng sản có ích đi kèm
2.1.2 Về luyện kim và chế biến sâu
Công nghiệp luyện kim và chế biến sâu khoáng sản chưa được phát triển Gang,thép, thiếc, antimon, vàng, kẽm, chì đã được luyện nhưng chỉ có gang, thép và thiếcđược luyện ở quy mô công nghiệp
Nhà máy gang thép Thái Nguyên với công nghệ luyện gang bằng lò cao (lò caonhỏ V=100m3)
Sản xuất bột kẽm bằng lò phản xạ và lò quay
Luyện antimon bằng lò phản xạ và lò điện hồ quang
Công nghệ thuỷ luyện được áp dụng cho luyện vàng
Luyện thiếc bằng lò phản xạ và lò điện hồ quang và điện phân
Nhìn chung, công nghệ luyện kim và chế biến sâu chưa phát triển, thiết bị lạc hậu,năng suất và hệ số thu hồi thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao Phần lớn sản phẩm chỉđạt tiêu chuẩn xuất khẩu ở mức trung bình, trừ thiếc điện phân đạt loại I thế giới(99,95%Sn)
2.2 Vấn nạn khai thác bừa bãi, lãng phí
Đứng trước xu hướng nói trên của thế giới, câu hỏi đặt ra là Việt Nam nên làm gì
để bảo vệ nguồn TNKS của mình cho việc phát triển nền kinh tế và cho tương lai?Trên thực tế, TNKS của Việt Nam đang bị khai thác bừa bãi, lãng phí và chủ yếu
để xuất khẩu thô Hiện Việt Nam vẫn chưa có chiến lược dự trữ TNKS cho nhu cầuphát triển kinh tế xã hội của đất nước Tình trạng khá phổ biến hiện nay là ở đâu cókhoáng sản, ở đó có khai thác, khai thác tối đa, khai thác bằng mọi giá và khai thác bất
kỳ loại khoáng sản nào để xuất khẩu, không quan tâm đến hậu quả môi trường…
Trang 10Việc hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng tạo ra những cơ hội lớn cũng nhưnhững thách thức đáng kể cho Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước Nhữngảnh hưởng (tiêu cực lẫn tích cực) xuất phát từ yếu tố nội tại cũng như yếu tố bên ngoài
đã và đang tác động mạnh mẽ tới Việt Nam trong chiến lược quản lý và sử dụng nguồntài nguyên thiên nhiên nói chung vốn đã có nhiều bất cập
Ngành khai khoáng của Việt Nam đang phải đối mặt với sự phát triển thiếu bềnvững do nhiều yếu tố như cơ sở pháp lý, thực thi pháp luật và ảnh hưởng từ các yếu tốbên ngoài
2.3 Ồ ạt cấp phép, sai phạm tràn lan
“Khai thác khoáng sản của
Việt Nam hiện phát triển thiếu bền
vững; trình trạng mua, bán mỏ trái
phép và cấp phép ồ ạt dẫn đến phá
vỡ quy hoạch chung; tính minh bạch
và giải trình thấp, tình trạng ô nhiễm
môi trường ảnh hưởng tới cộng đồng
dân cư” - nội dung tại hội thảo bàn tròn trước đối thoại phòng chống tham nhũng lần
thứ 9 với chủ đề “Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành
công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam” do Thanh tra Chính phủ phối hợp với Đại sứ
quán Thụy Điển tổ chức mới đây tại Hà Nội
Hiện có đến 3.882 giấy phép khai khoáng do cấp tỉnh ký đang được thực hiện.Theo ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bình Định,việc phân cấp về quản lý khoáng sản theo Luật Khoáng sản còn nhiều kẽ hở, nhiều cơquan tham gia nhưng thiếu cơ chế phối hợp nên quản lý kém hiệu quả Tình trạng cấpphép hoạt động không theo quy hoạch, cấp phép tràn lan, chia nhỏ, cấp phép cho các tổchức cá nhân không đủ năng lực vẫn còn tồn tại Việc khai thác sản lượng quá lớn,không đủ điều kiện chế biến sâu nên có tình trạng gian lận trong xuất khẩu Titan thô,
Trang 11gây lãng phí tài nguyên Hầu hết những người có trách nhiệm tại các cơ quan chức năngđều nhìn thấy rõ thực trạng nhưng lúng túng trong xử lý
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ HỆ LỤY
3.1 Những hệ lụy từ hoạt động khai thác khoáng sản
Những năm qua, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đã đóng góp không nhỏ
vào sự phát triển kinh tế của nhiều địa phương Các hoạt động khai thác khoáng sản đã
gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh, sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên, tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế – xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động
Khai thác tài nguyên khoáng sản đem lại lợi ích kinh tế rõ ràng, tuy nhiên pháttriển ngành công nghiệp khai khoáng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường tựnhiên và sức khỏe con người
3.1.1 Đối với con người
Sức khỏe cộng đồng bị đe dọa
Trang 12Theo Liên hiệp các Hội khoa học công nghệ Việt Nam, khai thác khoáng ảnhhưởng đến đường hô hấp của công nhân mỏ, vùng dân cư lân cận Hơn một nửa sốngười mắc bệnh bụi phổi silic tập trung tại các vùng khai thác mỏ Ngoài ra, các bệnh
người lao động
Nổ mìn mỏ đáTại các vùng khai thác sa khoáng titan ven biển miền Trung, bị ảnh hưởng phóng
xạ Bên cạnh đó, thường xảy ra nhiều tai nạn lao động, đặc biệt là trong khai thác than
và khai thác vật liệu xây dựng Liên tiếp trong các năm gần đây, nhiều tai nạn nghiêmtrọng đã xảy ra như khai thác đá ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Kiên Giang , sự cố sập hầm lò ở
mỏ than Mông Dương (Công ty than Mông Dương) hay ở Khe Tam (Công ty than HạLong) làm nhiều lao động bị thiệt mạng
Sinh kế cộng đồng chưa được đảm bảo
Trang 13Đa số cộng đồng dân cư ở các vùng có mỏ khoáng sản đều sống dựa vào nguồnthu chính từ nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi; lâm nghiệp (trồng, bảo vệ rừng, lâmsản); nuôi trồng thủy sản Việc thu hồi đất cho hoạt động khoáng sản đồng nghĩa vớimất đất sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của nguôi dân Hoạt động khaikhoáng tuy có tạo thêm việc làm và tạo điều kiện phát triển thêm các dịch vụ kèm theonhưng cũng không đảm bảo được việc làm cho cộng đồng địa phương Ngoài ra, nhữngtác động bất lợi từ hoạt động khai khoáng đến nguồn nước (ô nhiễm, suy giảm ); đấtsản xuất (ô nhiễm, bị đất đá, bùn cát xâm lấn) có tác động không nhỏ đến năng suất câytrồng, vật nuôi Việc đền bù, bồi thường thiệt hại mới chỉ đáp ứng phần nào nhu cầutrước mắt mà chưa đảm bảo ổn định sinh kế lâu dài cho người dân
Gia tăng các mâu thuẫn, xung đột và tệ nạn xã hội
Xảy ra giữa các tổ chúc khaithác khoáng sản, giữa người dân với ngườidân, giữa doanh nghiệp vói người dân vàgiữa người dân với chính quyền cơ sở dokhông thống nhất được vấn đề đền bù giảiphóng mặt bằng, phân chia lợi ích, môitrường sống của cộng đồng bị ô nhiễm vàkhông được phục hồi
Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng cuối năm 2008, 6 người chết do tranh chấp thumua than lậu, than mót giữa các tổ chức xã hội đen trên địa bàn Tình trạng cờ bạc,nghiện hút, mại dâm diễn ra phức tạp Chỉ tính riêng phường Hà Khánh hiện tại cònhơn 130 trường hợp nghiện hút và nhiễm HIV được biết chính thúc, thực tế có thể sẽcòn cao hơn rất nhiều lần Tại các điểm khai thác titan ven biển miền Trung, nhiều vụxung đột đã hậu tương tự như Sa Pa, Mẫu Sơn hay Tam Đảo Tuy nhiên, trong nhiềunăm trở lại đây do xảy ra ở Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Định cộng đồng dân cư bứcxúc về ô nhiễm môi trường ngăn cản không cho các doanh nghiệp vào khai thác
3.1.2 Đối với môi trường