1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn anh chị hãy trình bài lịch sử phát triển của lý thuyết địa tô đất đai hãy rút ra ý nghĩa cho việc hoạch định các chính sách kinh tế trong quản lý và sử dụng đất

11 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Luận Điểm Của Hồ Chí Minh “Nước Độc Lập Mà Người Dân Không Được Hưởng Hạnh Phúc Tự Do Thì Độc Lập Cũng Chẳng Có Ý Nghĩa Lý Gì”
Tác giả Bùi Quang Duy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 185,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những di sản về tưtưởng mà Người để lại cho dân tộc, cho Đảng cũng như toàn dân là vấn đề độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn là một trong những vấn đề trungtâm đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-******** -BÀI TẬP LỚN

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đề tài: Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa

lý gì”

Họ và tên: Bùi Quang Duy MSV: 11151040

Lớp: Tư tưởng Hồ Chí Minh_30

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 2

I – Mở đầu:

Trong suốt chiều dài bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc

ta, người dân của đất nước Việt Nam đã trải qua bao hi sinh bao mất mát mới có được độc lập tự do như ngày hôm nay Nhưng liệu độc lập như vậy đã đủ? Con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có phải hướng đến mục đích cuối cùng là độc lập? Có lẽ là chưa đủ nếu như độc lập mà không có hạnh phúc hay tự do

Chủ tịch Hồ Chí Minh – một vị lãnh tụ thiên tài, một danh nhân văn hóa thế giới cũng như một nhà lý luận tư tưởng của cách mạng Việt Nam đã thấy được vấn đề cốt lõi cũng như cái đích của độc lập Một trong những di sản về tư tưởng mà Người để lại cho dân tộc, cho Đảng cũng như toàn dân là vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn là một trong những vấn đề trung tâm được thể hiện rõ ràng và xuyên suốt quá trình hoạt động thực tiễn của cách mạng trong nước và thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước độc lập

mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa lý gì”

Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc phải gắn với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ cùng làm sáng tỏ luận điểm trên

II – Nội dụng:

1 Độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là tiền đề của hạnh phúc, tự do:

Năm 1911, khi Việt Nam đã hoàn toàn trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nước mất độc lập, dân nô lệ, Hồ Chí Minh không hoàn toàn tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối, quyết tâm đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới Trong khoảng bảy năm từ năm 1911 đến trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, Hồ Chí Minhđã : tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, tìm hiểu nghiên cứu các kiểu nhà nước và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức Ngay sau thắng lợi của Cách mạng

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 3

Tháng Mười Nga, tuy chưa có được nhận thức lý tính, nhưng Người thấy rằng chỉ có đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga thì mới giành được độc lập dân tộc

Nghiên cứu Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc Người quyết tâm thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản Năm 1923, Hồ Chí Minh viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau” Hồ Chí Minh không bao giờ chấp nhận độc lập dân tộc dưới chế độ quân chủ chuyên chế, càng không chấp nhận chế dộ thực dân Bởi vì, đó là chế độ mà người dân bị đầu độc về tinh thần lẫn

về thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm Hơn ai hết, Người ý thức rất rõ không có độc lập là sống kiếp ngựa trâu, thì “chết tự do còn hơn sống nô lệ” Vì vậy, Người nung nấu và truyền quyết tâm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành kỳ được độc lập cho dân tộc” Độc lập dân tộc không phải là điều mới mẻ trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Nhưng độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh lại hoàn toàn mới,

vì đó là một kiểu độc lập dân tộc được nâng lên một trình độ mới, một chất mới Người đã chọn kiểu độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, đó là kiểu độc lập dân tộc làm tiền đề và phải đi tới hạnh phúc, tự do

“Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” là dòng tiêu ngữ của nước ta suốt 70 năm qua, tuy đơn giản nhưng đó là “ham muốn tột bậc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết phải đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhưng nếu

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 4

nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì đó vẫn là độc lập kiểu

cũ, và vì vậy độc lập đó cũng chẳng có nghĩa lý gì

Hạnh phúc tự do là thước đo giá trị của độc lập dân tộc Muốn có hạnh phúc,

tự do thì độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội Người nhấn mạnh chỉ có trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình, chăm lo cho con người và con người có điều kiện phát triển toàn diện Trong nền độc lập Người hướng tới mọi người đều phải được hưởng ấm no, hạnh phúc nếu không độc lập chẳng có ý nghĩa gì

2 Hạnh phúc, tự do là giá trị của độc lập dân tộc:

Trong điều kiện nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết phải đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc

tự do thì đó vẫn là độc lập kiểu cũ, và vì vậy độc lập đó cũng chẳng có nghĩa lý gì

Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là câu trả lời cho mong muốn chủ quan của con người theo quan niệm duy tâm, không tưởng,

mà là câu trả lời cho một sự vận động lịch sử hiện thực theo khái niệm duy vật phê phán Chủ nghĩa xã hội là một vấn đề hiện thực, xuất phát từ thực tiễn khách quan, từ hiện thực vận động của lịch sử, từ đặc điểm Việt Nam, một nước vốn là thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém phát triển, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội trong quan điểm Hồ Chí Minh không thể suy nghĩ chủ quan, giáo điều, nóng vội, duy ý chí mà phải dựa trên cơ sở thực tiễn nước ta, đặc điểm thế giới và xu thế của thời đại Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc

Có được độc lập chưa đủ, độc lập nhưng người dân phải được hưởng hạnh phúc, tự do Đấy chính là đòi hỏi chính đáng, điều mà không phải ai khác chính

cụ Hồ đã chỉ ra Hạnh phúc, tự do mới chính là mục đích cuối cùng, là mong ước thẳm sâu nhất của mỗi người dân nước Việt Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 5

là “độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”,

“Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, không lao động được thì nghỉ ngơi, Tóm lại xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt đó là chủ nghĩa xã hội” Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra, nhờ đó xoá bỏ

cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người

về tinh thần, ý thức và tư tưởng Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh

mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột đem lại cho con người hạnh phúc, tự

do Vì vậy Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống Văn hóa là lối sống, là quyền con người, là cái chân, thiện, mỹ giữa người với người Điều đặc biệt mang sắc thái Hồ Chí Minh, đó là Người chú trọng tiếp cận chủ nghĩa xã hội theo phương diện đạo đức Con người có hạnh phúc trong chế độ xã hội chủ nghĩa phải là những con người được giáo dục và có đạo đức Chế độ xã hội chủ nghĩa mang lại hạnh phúc cho con người phải là chế độ không có chủ nghĩa cá nhân, và những gì phản văn hóa và đạo đức Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là trái với đạo đức cách mạng, là trở lực trên con

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 6

đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra giá trị của chủ nghĩa xã hội Chế

độ xã hội chủ nghĩa theo quan điểm Hồ Chí Minh không chỉ là thước đo giá trị của độc lập dân tộc mà còn tạo nên sức mạnh để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và tự bảo vệ Độc lập dân tộc chỉ có đi tới chủ nghĩa xã hội thì mới có một nền độc lập dân tộc thật sự, hoàn toàn, nhân dân mới được hưởng hạnh phúc tự do; chủ nghĩa xã hội chỉ có phát triển trên một một nền độc lập dân tộc thật sự thì mới có điều kiện phát triển và hoàn thiện

3 Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay:

Hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, trong đó bao trùm lên tất cả là động lực con người, trên cả hai bình diện : cộng đồng và cá nhân Đó là phát huy sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc - động lực chủ yếu để phát triển đất nước Đó là phát huy sức mạnh của con người được giải phóng để làm chủ Để phát huy sức mạnh này phải tác động vào nhu cầu, lợi ích của con người, phát huy động lực chính trị, tinh thần đạo đức, truyền thống, quyền làm chủ của người lao động, thực hiện công bằng xã hội … Đó là khắc phục các trở lực kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, bao gồm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đấu tranh chống tham

ô, lãng phí, quan liêu, chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lười biếng, không chịu học tập cái mới … Đó cũng là những trở lực đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan

hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại Để tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sự biến đổi về chất nghĩa là sự biến đổi mang tính chất bản chất, căn bản, toàn diện khác với sự biến đổi về lượng, sự biến đổi của từng bộ

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 7

phận Nghĩa là trong thời kỳ quá độ, ở nước ta sẽ diễn ra sự biến đổi mang tính chất bản chất, căn bản và toàn diện ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quá trình đó phải diễn ra lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen Đó là do xuất phát điểm của nước ta thấp và xã hội

ta cũng chưa trải qua sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vì vậy, thời kỳ quá độ phải diễn ra lâu dài là một tất yếu lịch sử Có thể khẳng định, khi bước vào thời

kỳ quá độ, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, "các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội" Trong bối cảnh khó khăn

đó, Đảng ta vẫn lạc quan khẳng định, "Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có

sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”.

Nhận thức đúng những thời cơ và thách thức đang đặt ra để thực hiện được mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ, Đảng ta chỉ rõ chúng ta phải quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng, nhiệm vụ cơ bản: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công băng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 8

Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể từ Ðại hội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh

tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao

Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rất chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuy thấp hơn kế hoạch (7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực

Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm) Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá, trong đó sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định Sự phục hồi và đạt mức tăng trưởng khá này đã tạo cơ sở vững chắc để quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm (2011 - 2015) trong những năm sau đạt kết quả vững chắc hơn

Thành công nổi bật, đầy ấn tượng qua hơn 25 năm thực hiện đổi mới, đầu tiên phải kể đến việc chúng ta đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; các

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 9

cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, khuyến khích, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái của Việt Nam năm 1988 chỉ đạt 86 USD/người/năm - là một trong những nước thấp nhất thế giới, nhưng đã tăng gần như liên tục ở những năm sau đó, giai đoạn 2005 - 2010 đạt 1.168 USD/người/năm, nước ta đã ra khỏi nhóm nước thu thập thấp để trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp)

Trong lĩnh vực lao động và việc làm: Từ năm 1991 đến năm 2000, trung bình mỗi năm cả nước đã giải quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người lao động có công ăn việc làm; những năm 2001 - 2005, mức giải quyết việc làm trung bình hằng năm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người; những năm 2006 - 2010, con số đó lại tăng lên đến 1,6 triệu người Công tác dạy nghề từng bước phát triển, góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo từ dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010 (13)

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm

2010 Còn theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn khoảng 17% năm 2008 Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc đã đề ra (14) Tại cuộc Hội thảo quốc tế với tiêu đề Xóa đói, giảm nghèo: Kinh nghiệm Việt Nam

và một số nước châu Á do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam được đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất khu vực Đông Nam Á (15)

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến cuối năm 2010, hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung

Báo cáo thực tập tổng hợp

Trang 10

học cơ sở Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm 1980 lên 90,3% năm 2007 Từ năm 2006 đến nay, trung bình hằng năm quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại học tăng 7,4% Năm 2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách

xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi để theo học

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Bảo hiểm y tế được mở rộng đến khoảng gần 60% dân số Các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 28% năm 2010; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm tương ứng từ 50% xuống còn khoảng 20% Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện, nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trước đây đã được thanh toán hoặc khống chế Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 72 tuổi hiện nay

Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập

kỷ qua: từ 0,561 năm 1985 lần lượt tăng lên 0,599 năm 1990; 0,647 năm 1995; 0,690 năm 2000; 0,715 năm 2005 và 0,725 năm 2007 (16) Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì xếp hạng HDI của Việt Nam năm 2007 vượt lên 13 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số 182 nước được thống kê, còn HDI thì xếp thứ 116/182 Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội khá hơn một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam Như vậy, tổng quát nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta đã đạt được ba sự vượt trội: chỉ số đã tăng lên qua các năm; thứ bậc về HDI tăng lên qua các năm; chỉ số và thứ bậc về tuổi thọ

và học vấn cao hơn chỉ số về kinh tế

Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ

mô được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn

Báo cáo thực tập tổng hợp

Ngày đăng: 05/01/2024, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w