1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ tâm lý học kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam

219 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Hoạt Động Học Tập Của Sinh Viên Dân Tộc Tày Vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả Nông Thị Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Lan
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại luận án
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu góp phần làm cơ sở để giúp sinh viên dân tộc Tày nâng cao kỹ năng giao tiếp với giảng viên, sinh viên cùng lớp trong hoạt động học tập tại trường đại học

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NÔNG THỊ NHUNG

KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC TÀY

VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI, 2017

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI, 2017

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận án

Nông Thị nhung

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lời cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận án

Tôi xin cám ơn sâu sắc Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Các thầy

cô giáo Khoa Tâm lý – Giáo dục, các phòng ban của Học viện và các anh chị của Học viện đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận án

Tôi xin cám ơn chân thành các thầy cô ở các cấp hội đồng đánh giá luận án đã chỉ bảo cho tôi những điều quý báu đề tôi hoàn thiện luận án

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã tận tình giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án

Hà Nội, ngày…tháng 6 năm 2017

Nông Thị Nhung

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRÊN LỚP CỦA SINH VIÊN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng giao tiếp của sinh viên 7

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về kỹ năng giao tiếp của sinh viên trong hoạt động học tập 17

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRÊN LỚP CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC TÀY 28

2.1 Kỹ năng giao tiếp 28

2.2 Kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 41

2.3 Biểu hiện và mức độ của kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 50

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 61

Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 66

3.1 Địa bàn và khách thể nghiên cứu 66

3.2 Nghiên cứu lý luận 68

3.3 Nghiên cứu thực tiễn 69

3.4 Thực nghiệm tác động 77

Chương 4: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRÊN LỚP CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC TÀY VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM80 4.1 Thực trạng kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 80

4.2 So sánh kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp sinh viên dân tộc Tày qua biến số dân tộc, giới tính, năm học 119

4.3 Mối tương quan giữa các kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 125

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 6

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

của sinh viên dân tộc Tày 126

4.5 Thực nghiệm tác động 134

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Các mức độ kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh

viên dân tộc Tày 59

Bảng 3.1: Tổng số khách thể sinh viên được nghiên cứu 67

Bảng 3.2: Kết quả độ tin cậy Alpha của các thang đo như sau: 71

Bảng 4.1: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 80

Bảng 4.2: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày so sánh theo các biến số giới tính, dân tộc, năm học 81

các mối quan hệ trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 82

Bảng 4.3 Mức độ thực hiện kỹ năng tìm hiểu đối tượng giao tiếp 83

Bảng 4.4 Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự tôn trọng đối tượng 87

giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày 87

Bảng 4.5 Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự hợp với tác đối tượng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày 90

Bảng 4.6 Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự trung thực với đối tượng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày 94

Bảng 4.7: Mức độ thực hiện kỹ năng diễn đạt các nội dung học tập 98

trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 98

Bảng 4.8 Mức độ thực hiện kỹ năng lắng nghe của sinh viên dân tộc Tày 101

Bảng 4.8 Mức độ thực hiện kỹ năng điều chỉnh cảm xúc 104

của sinh viên dân tộc Tày 104

Bảng 4.10: Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nói trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày 110

Bảng 4.11 Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ viết trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày 113

Bảng 4.12 Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày 116

Bảng 4.13 Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày và sinh viên dân tộc Kinh 120

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 8

Bảng 4.14: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

của nữ sinh viên dân tộc Tày và nam sinh viên dân tộc Tày 121

Bảng 4.15: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp 124

của sinh viên dân tộc Tày theo biến số năm học 124

Bảng 4.16: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan đến kỹ năng

giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 127

Bảng 4.17: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến kỹ năng giao tiếp trong

hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 127

Bảng 4.18: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến kỹ năng giao tiếp

trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 129

Bảng 4.19: Dự báo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độc lập đơn nhất 131 Bảng 4.20: Mức độ thay đổi kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

của sinh viên dân tộc Tày trước - sau thực nghiệm và với lớp đối chứng 135

Bảng 4.21: Sự thay đổi kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh

viên dân tộc Tày trước – sau thực nghiệm và lớp đối chứng 136

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 4.1: Mức độ thực hiện nhóm kỹ năng thiết lập 82 Biểu đồ 4.2: Mức độ thực hiện nhóm kỹ năng giải quyết vấn đề học tập trên lớp của

sinh viên dân tộc Tày 97

Biểu đồ 4.3 Mức độ thực hiện nhóm kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp của

sinh viên dân tộc Tày 109

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1: Tương quan giữa các kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

trên lớp của sinh viên dân tộc Tày 125

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 11

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTB : Điểm trung bình ĐLC : Độ lệnh chuẩn

TN : Thực nghiệm

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 12

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động, hình thành phẩm chất, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp Giao tiếp giúp cho mỗi cá nhân trở nên tích cực, chủ động trong công việc của mình Đối với sinh viên, giao tiếp có

ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động học tập của các em tại trường đại học Bởi vì, nhờ có hoạt động giao tiếp giữa sinh viên với giảng viên, giữa sinh viên với nhau, giữa sinh viên với lực lượng khác tham gia vào quá trình đào tạo các em sẽ nắm bắt được các tri thức khoa học, các kỹ năng nghề nghiệp, nắm bắt được nội quy, quy chế trong học tập và rèn luyện tại trường đại học Mặt khác, nhờ có giao tiếp sinh viên sẽ mở rộng đối tượng giao tiếp trong trường đại học, sẽ thoả mãn được các nhu cầu giao tiếp của bản thân, sẽ có được những cơ hội thể hiện các kỹ năng giao tiếp của mình

Sinh viên dân tộc thiểu số nói chung và sinh viên dân tộc Tày nói riêng gặp phải một số khó khăn nhất định trong hoạt động học tập ở trường đại học như: môi trường sống và học tập tại trường đại học khác biệt so với môi trường sống tại làng, bản, huyện mà đa số sinh viên dân tộc Tày đã sống; một số đặc điểm tâm lý như ngại giao tiếp với người khác dân tộc, ngại giao tiếp với những người bạn mới, thầy cô giáo mới, khả năng ứng xử chưa thật phù hợp, chưa thật tự tin, khả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm chưa cao Trước khi bước vào môi trường đại học, các em có một cuộc sống tương đối đơn giản, thoải mái, cách thức suy nghĩ còn hạn chế, khi bước vào môi trường đại học các em phải có một cách suy nghĩ, tư duy mới để đáp ứng yêu cầu khoa học của hoạt động học tập tại trường đại học Phương pháp học tập ở trường phổ thông và trường đại học hoàn toàn khác nhau Ở trường đại học đòi hỏi các em phải độc lập suy nghĩ, phải có tư duy sáng tạo… Mặt khác, ngôn ngữ cũng là rào cản trong hoạt động học tập của các em Trong hoạt động học tập trên lớp, sinh viên dân Tày cũng gặp phải những trở ngại nhất định Để giúp các em vượt qua những khó khăn này thì giao tiếp có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết

Tuy nhiên, để giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày đạt hiệu quả cao đòi hỏi các em phải có kỹ năng giao tiếp tốt Chính vì

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 13

2

những lí do trên rất cần phải giúp sinh viên dân tộc Tày có được kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp tại trường đại học Do vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu để nắm bắt được kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày là gì? Biểu hiện và mức độ của kỹ năng này ở sinh viên dân tộc Tày hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kỹ năng này ở các em? Cần có những biện pháp nào để nâng cao kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp cho sinh viên dân tộc Tày? Từ những câu hỏi đặt ra trên đây cho thấy việc nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách Về lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần bổ sung một số tri thức lý luận về kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày trong tâm lý học dân tộc ở nước ta Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu góp phần làm cơ sở để giúp sinh viên dân tộc Tày nâng cao kỹ năng giao tiếp với giảng viên, sinh viên cùng lớp trong hoạt động học tập tại trường đại học nhằm nâng cao hiệu quả học tập của các em

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Kỹ năng giao tiếp trong hoạt

động học tập của sinh viên dân tộc Tày vùng Đông Bắc Việt Nam” để làm luận án

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập

trên lớp của sinh viên dân tộc Tày: Các khái niệm công cụ, biểu hiện, tiêu chí đánh giá

và mức độ của kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày, các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày

2.2.2 Điều tra, khảo sát và phân tích thực trạng kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam, các yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp trong hoạt

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 14

3

động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam

2.2.3 Đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý sư phạm nhằm hoàn thiện kỹ

năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam và hoạt động thực nghiệm để kiểm chứng các biện pháp này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1.Giới hạn về phạm vi nội dung nghiên cứu

Có rất nhiều khía cạnh khác nhau có thể khai thác để nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày Tuy nhiên, trong luận

án này, tôi tập trung vào việc nghiên cứu lý luận và thực trạng kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày qua các nhóm kỹ năng thành phần như: (1) Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày; (2) Kỹ năng trao đổi với giảng viên và sinh viên về nội dung học tập trên lớp; (3) Kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày

3.2.2.Giới hạn về phạm vi địa bàn nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu tại vùng Đông Bắc Việt Nam Trong đó, nghiên cứu được thực hiện chính thức tại tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Thái Nguyên Bởi vì, đây là hai tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có 2 trường Đại học khá lớn (Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên và Đại học Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang) Tại 2 trường đại học này theo số liệu thống kê có số lượng sinh viên dân tộc Tày đang theo học đông nhất

3.2.3 Giới hạn về phạm vi khách thể điều tra, khảo sát của luận án

Tổng số khách thể nghiên cứu của đề tài luận án là: 670 người Trong đó, số lượng khách thể nghiên cứu được phân bố cho từng giai đoạn nghiên cứu

1) Giai đoạn xây dựng bộ công cụ nghiên cứu: Tổng số khách thể nghiên cứu cho giai đoạn này là: 120 người Trong đó: chúng tôi điều tra bằng bảng hỏi 100 sinh viên 2 trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên và Đại học Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang và phỏng vấn sâu 20 giảng viên thuộc 2 trường đại học được nghiên cứu

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 15

Luận án cũng tiến hành phỏng vấn sâu trên 50 giảng viên đại học của hai trường Đại học Tân Trào và Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên

4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu giả thuyết khoa học

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày, đề tài xuất phát từ các nguyên tắc có tính phương pháp luận sau:

a) Nguyên tắc tâm lý học hoạt động: Kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc

Tày được hình thành trong quá trình hành động, hoạt động của sinh viên Do vậy để đánh giá được kỹ năng giao tiếp của sinh viên cần quan sát và đánh giá bằng kết quả hành động, hoạt động của sinh viên

b) Nguyên tắc hệ thống: Kỹ năng giao tiếp rất phức tạp và đa dạng, được coi

là một hệ thống gồm các cấu thành có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau Kỹ năng giao tiếp được thể hiện qua từng kỹ năng cụ thể với tư cách là biểu hiện của từng kỹ năng Để đánh giá kỹ năng giao tiếp của sinh viên cần đánh giá một cách tổng thể, khái quát trong toàn bộ các kỹ năng chứ không thể dựa vào một

kỹ năng riêng lẻ Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày trong mối quan hệ tác động qua lại với các yếu tố tính cách cá nhân, vốn kinh nghiệm của mỗi

cá nhân, môi trường sống của gia đình, nhà trường, xã hội,…

c) Nguyên tắc phát triển: Tâm lý con người luôn vận động và phát triển Vì

vậy khi nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày phải được tiến hành trong quá trình vận động và phát triển của chúng

d) Nguyên tắc tiếp cận liên ngành: Đề tài sử dụng kiến thức của nhiều

chuyên ngành: Tâm lý học dạy học, tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, tâm

lý học phát triển, tâm lý học giao tiếp…

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;

- Phương pháp chuyên gia;

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;

- Phương pháp quan sát;

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 16

5

- Phương pháp phỏng vấn sâu;

- Phương pháp thực nghiệm tác động;

- Phương pháp thống kê toán học

4.3 Giả thuyết khoa học

1) Kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày là một kỹ năng phức hợp có cấu trúc gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần: Nhóm

kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày, nhóm kỹ năng trao đổi với giảng viên và sinh viên về nội dung học tập trên lớp, nhóm kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày Hiện nay kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên ở mức trung bình, trong đó, kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong hoạt động học tập trên lớp thực hiện yếu nhất

2) Kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc Tày chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Trong đó, yếu tố ý thức tham gia vào các hoạt động tập thể; tính cách của sinh viên; phương pháp giảng dạy của giảng viên, hình thức giáo dục trong gia đình, nhà trường, xã hội có ảnh hưởng đến

kỹ năng giao tiếp này của sinh viên dân tộc Tày

3) Có thể hoàn thiện hơn kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày thông qua chương trình tập huấn kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp bằng ngôn ngữ nói nhằm giúp cho các en nâng cao mức

độ nhận thức, thực hành và ứng dụng trong quá trình giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án góp phần bổ sung và làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày như: xây

dựng được các khái niệm công cụ kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

của sinh viên dân tộc Tày; chỉ ra các kỹ năng thành phần của kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày; xác định được các tiêu chí và mức độ đánh giá kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày; phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày

Luận án đã nêu và phân tích thực trạng biểu hiện, mức độ của kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày hiện nay ở mức trung bình; đề cập mức độ ảnh hưởng của yếu tố chủ quan và khách quan tới kỹ

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 17

6

năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày; đưa ra các biện pháp thực nghiệm để nâng cao kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày

Luận án giúp sinh viên dân tộc Tày bổ sung thêm về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp Đồng thời, luận án cũng là tài liệu tham khảo hữu ích trong các trường đại học nhằm giúp cho sinh viên dân tộc Tày nâng kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

Hiện nay những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày chưa được nghiên cứu nhiều Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn lý luận về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày Đồng thời kết quả của luận án là cơ sở góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lý luận vào tâm lý học giao tiếp và tâm lý học dân tộc

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày chỉ đạt ở mức trung bình Như vậy, cần nâng cao kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp cho sinh viên dân tộc Tày để các em đạt được kết quả cao hơn trong trong học tập tại trường đại học

Luận án là tài liệu tham khảo cho các trường đại học có nhiều sinh viên dân tộc Tày theo học nhằm xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho sinh viên dân tộc Tày để nâng cao kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp cho các em

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên

Chương 2: Lý luận về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Thực trạng kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày vùng Đông Bắc Việt Nam

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 18

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRÊN LỚP CỦA SINH VIÊN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng giao tiếp của sinh viên

1.1.1 Các hướng nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng

Phạm trù kỹ năng được các nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm nghiên cứu

ở nhiều góc độ khác nhau Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới chúng tôi nhận thấy có các hướng chính khi nghiên cứu về kỹ năng như sau:

* Hướng nghiên cứu lí luận

Các nhà nghiên cứu đi theo hướng này đã tập trung vào việc nghiên cứu và xây dựng cơ sở lí luận cơ bản về kỹ năng (khái niệm, tiêu chí đánh giá, ) Trong đó, việc xây dựng khái niệm kỹ năng rất được coi trọng Có hai xu hướng chính về khái niệm này

Xu hướng thứ nhất: Các nhà khoa học khi tiếp cận khái niệm kỹ năng đã dựa

trên quan điểm cho rằng, khi nghiên cứu kỹ năng cần phải xem xét kỹ năng như là

kỹ thuật của hành động

Xu hướng thứ hai: Các nhà khoa học đưa ra lập luận và chứng minh rằng,

khi xây dựng khái niệm kỹ năng cần phải xem xét tới cả hai khía cạnh: kỹ năng

là kỹ thuật hành động và kỹ năng là một năng lực hoặc là một biểu hiện năng lực của con người

- Các nhà nghiên cứu đại diện cho xu hướng thứ nhất gồm các tác giả: A.G Kôvaliov [61]; A.V Petrovski [87]; A.V Kruchetxki [62] Các nhà khoa học này đều có chung một nhận định rằng: khi nghiên cứu kỹ năng cần xem xét kỹ năng như

là mặt kỹ thuật của hành động, coi kỹ năng như một phương thức thực hiện hành động mà con người nắm vững Theo các nhà nghiên cứu nêu trên, khi xem xét kỹ năng cần chú ý tới việc xem xét hoạt động của cá nhân đó Cá nhân khi muốn thực hiện được một hành động, phải hiểu được mục đích, phương thức và điều kiện để thực hiện nó Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau, tức là ta đã có kỹ năng hành động Muốn phát triển kỹ năng, cá nhân phải có quá trình học tập và củng cố bằng luyện tập hành động trong thực tiễn

- Các nhà nghiên cứu đại diện cho xu hướng thứ hai có A.D Lêvitov [66, tr.3]; X.I Kixegov [59] Các nhà khoa học này cho rằng, khi xem xét khái niệm kỹ

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 19

8

năng cần xem kỹ năng là kỹ thuật hành động và là một năng lực hoặc là một biểu hiện năng lực của con người Kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính linh hoạt, mềm dẻo Việc xem xét kỹ năng với tư cách là năng lực hoạt động của cá nhân đặt

ra yêu cầu không chỉ phân tích mặt kỹ thuật của hành động mà còn nghiên cứu các yếu tố nhân cách khác có liên quan đến việc triển khai hành động Với hai xu hướng

cơ bản nghiên cứu về kỹ năng nêu dẫn ở trên, các nhà nghiên cứu đã kế thừa và vận dụng nó vào việc nghiên cứu kỹ năng trong các hoạt động nghề nghiệp cụ thể, kỹ năng trong hoạt động học tập,…

* Hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng

Hướng nghiên cứu này thu hút được rất nhiều nhà khoa học khác nhau tham gia nghiên cứu Các nhà khoa học đã tập trung vào việc tiến hành các nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng Trong đó, có các hướng nghiên cứu thực tiễn về

kỹ năng trong từng loại hình nghề nghiệp nhất định như: Kỹ năng nghề dạy học,

kỹ năng nghề luật sư, kỹ năng nghề cảnh sát,… Một số nhà nghiên cứu lại tập trung vào các nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kỹ năng học tập của học sinh, sinh viên,…Dưới đây chúng tôi sẽ nêu dẫn từng hướng nghiên cứu thực tiễn về

kỹ năng:

- Hướng nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp

Đã có một số công trình nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, trong đó

có các nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp nói chung, kỹ năng của giáo viên, kỹ năng của các nhà tư vấn, Đại diện cho hướng nghiên cứu này có các tác giả như: Jones Lawrence; Kevin B và Len King; F.N Gônôbolin; Z Zilic, …

Jones Lawrence, trong tác phẩm“Những kỹ năng nghề nghiệp bước vào thế

kỷ 21” đã đặt vấn đề kỹ năng là chìa khoá của mọi thành công, trong đó, ông đề cập

hai nhóm kỹ năng cơ bản và đặc thù nghề nghiệp đồng thời đưa ra một số trắc nghiệm về kỹ năng đó Ông đưa ra nội hàm của một số kỹ năng như: Kỹ năng tư duy, kỹ năng sống trong cộng đồng, các kỹ năng động cơ, Cũng theo ông, kỹ năng lãnh đạo phải bao gồm nội dung: Giao tiếp bằng ý nghĩ và cảm xúc để chứng tỏ vị trí của bạn; khuyến khích hay thuyết phục một cá nhân hay nhóm; sử dụng một cách tích cực những nguyên tắc và giá trị mà người khác tuân theo [57, tr.99-111-115]

Kevin B và Len King, khi đề cập kỹ năng của giáo viên, coi kỹ năng là năng lực thực hành của giáo viên Các tác giả này chia kỹ năng dạy học ra thành ba nhóm tương ứng với ba giai đoạn của quá trình tự học: Nhóm kỹ năng xây dựng chương trình giảng dạy, nhóm kỹ năng giảng dạy và nhóm kỹ năng đánh giá Các nhóm kỹ

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 20

- Hướng nghiên cứu về kỹ năng học tập

Đây là hướng nghiên cứu dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,

cụ thể như sau:

V.V.Tsebưseva nghiên cứu sâu về kỹ năng lao động bà đã có nhận định rất quan trọng được thực tế kiểm nghiệm và được nhiều người thừa nhận Bà cho rằng, khi huấn luyện kỹ năng nên rút dần vai trò của người dạy, người học sẽ hình thành

kỹ năng nhanh chóng và ổn định hơn [Dẫn theo 112, tr 13]

X.I.Kixegov nghiên cứu kỹ năng hoạt động sư phạm của sinh viên Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa kỹ năng hoạt động sư phạm với kỹ năng lao động sản xuất

về quá trình hình thành, nhất là về đối tượng hoạt động Ông đã chia quá trình hình thành kỹ năng hoạt động sư phạm thành 5 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Giới thiệu cho sinh viên về những hoạt động sắp phải thực hiện như thế nào

- Giai đoạn 2: Trình bày, diễn đạt các quy tắc lĩnh hội hoặc tái hiện lại những hiểu biết cơ bản, nền tảng mà dựa vào đó kỹ năng, kỹ xảo được hình thành

- Giai đoạn 3: Trình bày mẫu hành động

- Giai đoạn 4: Sinh viên tiếp thu hành động qua thực tiễn

- Giai đoạn 5: Đưa ra hệ thống các bài tập độc lập [59]

1.1.2 Các hướng nghiên cứu trên thế giới về giao tiếp

Là một phạm trù trung tâm trong tâm lý học, giao tiếp đã được đề cập từ rất lâu, thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu nói chung và các nhà tâm lý học nói riêng tập trung nghiên cứu

Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học như: Platon (428-347, Socrat (460-399)

đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người

với con người [dẫn theo 71]

Sang thế kỷ XVIII, nhà triết học Hà Lan M.P Hemxtec - Lôxis trong tiểu

luận “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác” đã quan

tâm đến mối quan hệ giữa con người với con người - mối quan hệ giữa cái tôi với

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 21

10

cái tôi khác [dẫn theo 71]

Thế kỷ XIX, C Mác trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học” đã có tư tưởng về nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người, coi giao tiếp như là “khí quan xã hội”, thông qua giao tiếp con người có thái độ đối với chính bản thân mình

và đối với người khác Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C Mác - Ph.Ănghen

nhấn mạnh về sự tác động qua lại giữa cá nhân và xã hội, về vai trò của giao tiếp trong sự hình thành bản chất xã hội của con người [76] Đa phần các quan điểm về giao tiếp mang nặng tính triết học, giao tiếp chưa thực sự được nghiên cứu dưới góc

độ tâm lý học

Đầu thế kỷ XX, các nhà tâm lý học Liên Xô đã nghiên cứu về bản chất quá trình giao tiếp, các vấn đề lý luận về giao tiếp nói chung Từ đây, giao tiếp mới thực

sự được nghiên cứu như một vấn đề tâm lý học

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về giao tiếp được chia thành hai hướng: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giao tiếp và nghiên cứu những vấn đề giao tiếp ứng dụng

* Hướng thứ nhất: Nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp

Ở hướng nghiên cứu về giao tiếp lý luận có thể phân thành 4 nhóm chính:

- Nhóm thứ nhất: Coi giao tiếp là một dạng hoạt động hay là điều kiện, phương thức của hoạt động

Điển hình cho quan điểm này là A.N.Lêônchiev Ông cho rằng: “Hoạt động

là một quá trình thực hiện sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực chủ thể và khách thể” và “Hoạt động của chủ thể cùng với những động cơ, mục đích, phương tiện tương ứng trở thành khâu trung gian cho mối liên hệ giữa chủ thể và khách thể ”

[65] Như vậy, theo A.N.Lêônchiev giao tiếp chính là một dạng hoạt động mà trong

đó đối tượng của giao tiếp chính là con người – một chủ thể khác, kết quả là tạo ra

sự thay đổi về cả hai chủ thể

Sự phân loại hoạt động giao tiếp của A.N.Lêônchiev cho thấy không có tiêu chí chung cho việc xác định chủ thể và khách thể của hoạt động giao tiếp B.Ph.Lômôv nhận xét rằng: Giao tiếp không được làm rõ bởi sơ đồ chủ thể - động

cơ - đối tượng (khách thể) của hoạt động [73] Ông đã “Ghép mọi sự đa dạng của đời sống con người vào một phạm trù - là phạm trù hoạt động” [73] Điều này

chứng tỏ rằng việc “biến đổi” và “mở rộng” quan điểm về giao tiếp của A.A.Lêônchiev vẫn bộc lộ sự bất ổn

- Nhóm thứ hai: Nghiên cứu theo quan điểm coi giao tiếp là một phạm trù

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 22

11

độc lập với hoạt động

Người khởi xướng là B.Ph.Lômôv Theo B.Ph.Lômôv, “Giao tiếp là hình thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể”, “Giao tiếp là hình thái đặc trưng của sự tác động qua lại giữa người này và người khác như là tác động qua lại của các chủ thể” [73]

B.Ph.Lômôv đã chỉ ra, nếu theo quan điểm của A.N.Lêônchiev, khách thể hoạt động giao tiếp là con người; nói cách khác, một cá nhân có thể vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động giao tiếp Nhưng khách thể này - theo B.Ph.Lômôv - lại hết sức đặc biệt, vì mỗi người khi tham gia giao tiếp sẽ quan hệ với người cùng giao tiếp với mình với tư cách là một chủ thể có tâm lý ý thức

Bởi thế “Việc đặt hoạt động trong quan hệ với nó ngang hàng các khách thể

“khô khan” (vật chất) là việc làm rất khó khăn”

Mặt khác, cần phải thấy rằng, nếu xét theo tiêu chí hoạt động thì khó có thể xác định được kết quả giao tiếp, vì kết quả này ở các cá nhân khác nhau có thể rất

khác nhau về số lượng và chất lượng; thậm chí đôi khi “chỉ với một thời gian giao tiếp ngắn ngủi với người này hoặc người khác (hoặc nhóm người) có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý cá nhân nhiều hơn rất nhiều so với thực hiện lâu dài một hoạt động có đối tượng nào đó của người đó” Cũng theo B.Ph.Lômôv một trong những đặc trưng cơ bản của giao tiếp là “truyền đạt - nhận thông tin”; “quá trình giao tiếp là quá trình trao đổi các ý đồ, các tư tưởng, các hình tượng…” [73] Chính trong giao tiếp các chủ thể

giới thiệu cho nhau các kết quả của phản ánh tâm lý

Khi nhấn mạnh những khác biệt về chất giữa giao tiếp và hoạt động B.Ph.Lômôv không đối lập hai phạm trù này với nhau Theo B.Ph.Lômôv, giao tiếp

và hoạt động “gắn bó mật thiết với nhau”, “chúng có thể chuyển tiếp và chuyển hoá” từ mặt này vào mặt khác “Giao tiếp có thể đóng vai trò tiền đề, điều kiện, là yếu tố bên ngoài và bên trong của hoạt động và ngược lại” “Trong một vài hoạt động với tư cách là phương tiện và các phương thức của hoạt động, các phương tiện

và phương thức của giao tiếp đã được sử dụng, mà chính hoạt động được xây dựng theo các quy luật của giao tiếp Trong những trường hợp khác, các hoạt động này hoặc khác được sử dụng với tư cách là các phương tiện và phương thức của giao tiếp và ở đây giao tiếp được xây dựng theo các quy luật của hoạt động (chẳng hạn: hành động biểu tình, tuần hành, biểu diễn trên sân khấu)” [73]

Cuối cùng, B.Ph.Lômôv khẳng định rằng, giao tiếp của con người chịu

sự quy định của những yếu tố xã hội như: chức năng, vị trí xã hội của con

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 23

12

người, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức, những thiết chế xã hội, v.v

B.Ph.Lômôv đã khắc phục những hạn chế của quan điểm coi giao tiếp là một loại hình hoạt động của A.N.Lêônchiev Tuy nhiên, ông chưa giải thích được ảnh hưởng, vai trò của giao tiếp đối với tâm lý

- Nhóm thứ ba: Giao tiếp là quá trình truyền và tiếp nhận thông tin

Nhà điều khiển học Wiener vào năm 1947 đã xây dựng mô hình giao tiếp dựa

trên lý thuyết thông tin “lý thuyết về sự truyền thông tin ở các phức hệ có khả năng tự kiểm tra, về các giá trị mang thông tin được tạo thành từ các từ, các dấu hiệu, các tín hiệu” Ông nhấn mạnh khái niệm “thông tin phản hồi”, nhấn mạnh sự điều chỉnh cần thiết đối với “bản thông điệp” của quá trình giao tiếp [dẫn theo 67, tr18]

Trong “Lý thuyết toán học trong giao tiếp”, C.Senen đã đưa ra sơ đồ “hệ thống tổng hợp trong giao tiếp” bao gồm các yếu tố:

+ Nguồn gốc thông tin và người truyền đạt nó (máy phát);

+ Địa điểm thông tin và máy thu;

+ Kênh liên lạc (phương tiện truyền tải thông tin từ máy phát đến máy thu - radio);

+ Nguyên nhân tiếng ồn (khi phát tin) [96]

Trên cơ sở đó H.Đ.Laswell đã đưa ra mô hình giao tiếp gồm:

+ Ai (truyền thông tin) - Người nhận thông tin;

+ Cái gì (được truyền đạt) - Thông báo;

+ Như thế nào (việc truyền đạt được thực hiện) - Kênh liên lạc;

+ Cho ai (thông tin hướng đến) - Người nhận;

+ Với tác dụng gì - tính hiệu quả

Ngoài ra, có thể kể đến hàng loạt các nghiên cứu khác về giao tiếp theo

hướng này Chẳng hạn Perdonici, cho rằng “Giao tiếp là một sự trao đổi hai chiều, một quá trình khép kín” Thines và cộng sự đề cập tới “vấn đề tổ chức kênh để cho con đường liên lạc thực hiện được phần nhiệm vụ của nó trong giao

tiếp” Weaver, nhà ngôn ngữ học (1982) khi xây dựng mô hình về giao tiếp đã

quan tâm đến các yếu tố như “nguồn thông tin, để phân biệt bộ phát, tiếng ồn, ngữ nghĩa trong bản thông điệp, nguồn gốc tiếng ồn gây ra sự chênh lệch giữa thông tin phát đi và thông tin thu được, bộ thu ngữ nghĩa” [dẫn theo 96 tr 12 -

Trang 24

13

cho quá trình giao tiếp trở nên đơn giản hoá Điều này giúp các nhà nghiên cứu có điều kiện đi sâu vào khía cạnh trao đổi thông tin, nhưng họ lại thiếu cái nhìn toàn diện về giao tiếp

- Nhóm thứ tư: Nghiên cứu giao tiếp theo từng chuyên ngành hẹp của tâm lý học hoặc theo tính chất và đặc trưng nghề nghiệp

Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này đã đi sâu nghiên cứu giao tiếp theo từng lĩnh vực của tâm lý học như: tâm lý học sư phạm, tâm lý học xã hội, tâm lý học trẻ em và, tâm lý học y học, tâm lý học quản lý v.v

* Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp ứng dụng

Với hướng nghiên cứu giao tiếp ứng dụng, các nhà nghiên cứu đã áp dụng tâm lý học giao tiếp vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống thường ngày như: chăm sóc sức khoẻ, tư vấn, những quan hệ cá nhân, những vấn đề chính trị… Một

số nhà nghiên cứu còn viết sách dạy nghệ thuật trong việc giao tiếp với từng đối tượng cụ thể: giao tiếp với người lạ, giao tiếp với bạn bè, giao tiếp với đồng nghiệp, với người khác giới, với khách hàng, với người không thân thiết…

Việc nghiên cứu ứng dụng được tiến hành trên nhiều lĩnh vực như: giao

tiếp xã hội, giao tiếp ứng xử, quản lý, kinh tế Một số công trình như: Kenin L.Hutchinson “Giao tiếp cộng đồng”; Willist.Robin “Cách ứng xử hiệu quả trong cộng đồn:sự kiện, nội dung và những kinh nghiệm của sinh viên [54].`

Hơn 20 năm trở lại đây, một khuynh hướng mới trong tâm lý học được hình thành: đó là tâm lý học giao tiếp khó khăn Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến các bình diện khác nhau của giao tiếp khó khăn phản ánh quan điểm của tâm lý học xã

hội, điều này được thể hiện trong các tác phẩm như: “Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của giáo viên mới vào nghề” (1995) của T.A.Arôgiakaêva; “Từ những vấn

đề giao tiếp khó khăn đến giải quyết” (1997); “Tâm lý học giao tiếp khó khăn”

(2001) của V.A.Labunkaia [4, 63]

1.1.3 Các hướng nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng giao tiếp

Là một phạm trù trung tâm trong tâm lý học, kỹ năng giao tiếp đã được đề cập tới từ rất lâu, thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu nói chung và các nhà tâm lý học nói riêng tập trung nghiên cứu

Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học như: Platon (428-347, Socrat (460-399)

đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người [dẫn theo 71]

Sang thế kỷ XVIII, nhà triết học Hà Lan M.P.Hemxtec - Lôxis trong tiểu Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 25

14

luận “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác” đã quan

tâm đến mối quan hệ giữa con người với con người - mối quan hệ giữa cái tôi với cái tôi khác [dẫn theo 71]

Thế kỷ XIX, C.Mác trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học” đã có tư tưởng về nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người, coi giao tiếp như là “khí quan xã hội”, thông qua giao tiếp con người có thái độ đối với chính bản thân mình

và đối với người khác Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ănghen

nhấn mạnh về sự tác động qua lại giữa cá nhân và xã hội, về vai trò của giao tiếp trong sự hình thành bản chất xã hội của con người [76] Đa phần các quan điểm về giao tiếp mang nặng tính triết học, giao tiếp chưa thực sự được nghiên cứu dưới góc

độ Tâm lý học

Tuy nhiên, nhìn chung khi bàn về giao tiếp hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh mặt

kỹ năng giao tiếp Đã có rất nhiều hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp

* Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp dựa trên tính chất của tổ chức

Xu hướng này nghiên cứu phổ biến ở Phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ Tác giả Robert N Lusier cho rằng kỹ năng giao tiếp cá nhân rất quan trọng trong các mối quan

hệ của tổ chức Kỹ năng giao tiếp cho phép bạn đạt được những mục tiêu cá nhân cũng như những mục tiêu của tổ chức Robert N Lusier đưa ra kỹ năng giải quyết xung đột,

kỹ năng lắng nghe, kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân, kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu,

kỹ năng suy nghĩ tích cực là cơ sở để thích nghi với tổ chức [139]

Kitty O Locker nghiên cứu giao tiếp trong lĩnh vực hành chính và kinh doanh diễn ra dưới nhiều hình thức như giao tiếp bàng điện thoại, email, giao tiếp trực tiếp yêu cầu người nhân viên phải có những kỹ năng giao tiếp tương ứng để giao tiếp với cán bộ quản lý trực tiếp, đồng nghiệp, khách hàng đến làm việc Tác giả nhấn mạnh các kỹ năng giao tiếp: kỹ năng viết, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng trình bày có liên quan chặt chẽ đến hiệu quả hoạt động của lĩnh vực này [131] Chín yếu

tố được ông đưa ra như là những chỉ dẫn ảnh hưởng quyết định đến mối quan hệ trong tổ chức: Thái độ tích cực lạc quan, gọi người giao tiếp bằng tên riêng, luôn mỉm cười, sẵn lòng giúp đỗ, biết quan tâm đến người khác, biết lắng nghe, suy nghĩ trước khi hành động

* Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hướng tập chung phân tích mối quan hệ liên cá nhân

Các tác giả nghiên cứu theo hướng này đều tập trung mô tả các thành tố của quá trình giao tiếp như con người, tiếng ồn, ngữ cảnh, kênh giao tiếp, hiệu ứng Qua trao

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 26

V.P.Dakharov cho rằng để có năng lực giao tiếp cần có các kỹ năng sau và chỉ khi thực hiện tốt các kỹ năng này giao tiếp mới đạt được kết quả:

- Kỹ năng nghe và biết lắng nghe

- Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp

- Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi

- Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc

- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp

- Kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp

- Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

- Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp [dẫn theo 53]

Tiri K.Gamble, M Gamble đề ra các kỹ năng giao tiếp cơ bản để thiết lập mối quan hệ liên cá nhân: Kỹ năng lắng nghe, kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp, kỹ năng hồi đáp, kỹ năng trình bày, kỹ năng làm chủ cảm xúc Các tác giả cho rằng kỹ năng cần thiết nhất đối với giao tiếp liên cá nhân là kỹ năng làm

chủ cảm xúc của bản thân và kỹ năng lắng nghe [dẫn theo 53]

Robert N.Lusier cho rằng giao tiếp đã đặt nền tảng cho quan hệ con người với con người Cách mà chúng ta giao tiếp bao giờ cũng ảnh hưởng đến toàn bộ hành vi của chúng ta và những người khác [139]

J.sean.MCleneghan đánh giá tầm quan trọng của các kỹ năng trong mối quan

hệ giữa con người với con người: Kỹ năng nhận thức các vấn đề xã hội, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng đọc hiểu [dẫn theo 53]

Judy C.Pearson và Brian H.Spitzberg phân tích sâu vai trò của kỹ năng lắng

nghe như là một biểu hiện sinh động nhất của việc làm chủ các kỹ năng giao tiếp của cá nhân trong viêc thiếp lập quan hệ [130] Việc chỉ ra các rào cản làm ảnh hưởng đến chất lượng lắng nghe giúp mỗi cá nhân thực hiện tốt hơn kỹ năng này để đảm bảo thành công cho giao tiếp

Willam B.Gudykunst cho rằng kỹ năng giao tiếp là năng lực của cá nhân trong việc thực hiện các hành vi giao tiếp phù hợp, có hiệu quả [144] Ông đã đề

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 27

16

cao 4 kỹ năng giao tiếp cần có để giao tiếp hiệu quả, thành công là: Biết đồng cảm, biết thích ứng, biết đưa ra những phán đoán chính xác, biết quan tâm đến đối tượng giao tiếp

John Stewart cho rằng yếu tố đảm bảo cho sự thành công trong giao tiếp liên

cá nhân là kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu,

kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ [129]

* Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hướng thông qua sự kết hợp của phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Có rất nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hường này Robert N.Lusier đồng nhất khái niệm giao tiếp với phương tiện truyền tải thông điệp Ông đã đưa ra 3 phương tiện cơ bản là: ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói, phi ngôn ngữ [139]

Các tác giả: E.G.Horton, D Brown chia kỹ năng giao tiếp thành 2 kỹ năng

đó là: Kỹ năng nghe và kỹ năng biểu cảm không lời Kỹ năng nghe được các ông đánh giá quan trọng nhất vì hiệu quả của lắng nghe sẽ ảnh hưởng đến sự biểu cảm Ngôn ngữ của người nói, trọng âm, cách sử dụng ngữ pháp sẽ thể hiện cho người nghe nhiều điều [127] Robert N Lusier nghiên cứu khái niệm giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, chỉ ra những nhược điểm mà mỗi chúng ta hay gặp phải là nắm bắt chưa chọn vẹn ý nghĩa của mỗi một thông điệp không lời dẫn đến quá trình gửi và nhận thông tin bị "nhiễu" [139]

Mery Ellen Gufffey cho rằng, kỹ năng giao tiếp là kỹ năng quan trọng nhất đối với mỗi nhân viên khi ông đề cập kỹ năng giao tiếp trong lĩnh vực thương mại Ông đưa ra 4 nhóm kỹ năng giao tiếp cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết Kỹ năng lắng nghe là quan trọng nhất Đòi hỏi nhân viên không chỉ nghe và hiểu các thông điệp bằng lời nói mà cả những thông điệp không lời Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ [135]

1.1.4 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này cho thấy có các nhà tâm lý học tập trung vào việc nghiên cứu theo các hướng chính sau đây:

- Các hướng nghiên cứu về kỹ năng: Tổng quan tình hình nghiên cứu cho

thấy, các nhà tâm lí học đi sâu vào việc nghiên cứu lí luận về kỹ năng trong đó tập trung vào việc nghiên cứu và xây dựng những vấn đề lí luận cơ bản về kỹ năng (khái niệm, tiêu chí đánh giá, ) và đi sâu vào các nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng Hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng trong từng loại hình nghề nghiệp nhất định

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 28

17

như: kỹ năng nghề dạy học, kỹ năng nghề luật sư, kỹ năng nghề cảnh sát,… Một số nhà nghiên cứu khác lại tập trung vào các nghiên cứu liên quan đến kỹ năng học tập của học sinh, sinh viên,…

- Các hướng nghiên cứu về giao tiếp: Các nhà tâm lý học tập trung vào việc

nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp tập trung vào việc chứng minh giao tiếp

là một dạng hoạt động hay là điều kiện, phương thức của hoạt động; giao tiếp là một phạm trù độc lập với hoạt động; giao tiếp là quá trình truyền và tiếp nhận thông tin

và nghiên cứu giao tiếp theo từng chuyên ngành hẹp của tâm lý học hoặc theo tính chất và đặc trưng nghề nghiệp Các nhà tâm lý học tập trung vào việc thực hiện các nghiên cứu thực tiễn về giao tiếp ứng dụng Trong đó, các nhà nghiên cứu đã áp dụng tâm lý học giao tiếp vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống thường ngày như: Chăm sóc sức khoẻ, tư vấn, những quan hệ cá nhân, những vấn đề chính trị… Một số nhà nghiên cứu còn viết sách dạy nghệ thuật trong việc giao tiếp với từng đối tượng cụ thể: giao tiếp với người lạ, giao tiếp với bạn bè, giao tiếp với đồng nghiệp, với người khác giới, với khách hàng, với người không thân thiết…

- Các hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp: Các nhà tâm lý học tập trung

vào việc nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp tập trung vào việc chứng minh các vấn đề lý luận và thực tiễn về: các kỹ năng giao tiếp dựa trên tính chất của tổ chức; kỹ năng giao tiếp theo hướng tập chung phân tích mối quan hệ liên cá nhân;

kỹ năng giao tiếp theo hướng thông qua sự kết hợp của phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, trên thế giới đã có rất nhiều nhà tâm lý học

đi sâu nghiên cứu các vấn đề như: Kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp trong hoạt động nghề nghiệp và hoạt động học tập của học sinh, sinh viên Điều này khẳng định chắc chắn rằng, đây là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn tốt và vẫn là vấn đề nghiên cứu có tính mới, tính thời sự cần được giải quyết

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về kỹ năng giao tiếp của sinh viên trong hoạt động học tập

1.2.1 Các hướng nghiên cứu ở Việt Nam về kỹ năng

Vấn đề kỹ năng được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ nay Cho đến nay các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng thường tập trung vào các khuynh hướng sau:

* Kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác, hành động hay hoạt động

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 29

18

Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cách thức hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [110] Tác giả Dương Thị Thoan (2011) có quan điểm tiếp cận kỹ năng theo hướng này Tác giả cho rằng: “Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã

có vào thực hiện một hành động, hoạt động tương ứng Có kỹ năng hoạt động nghĩa

là cá nhân thực hiện hoạt động có kết quả và quá trình đi đến kết quả hoạt động của

cá nhân phải bao gồm một tổ hợp các thao tác nhất định” [107]

Theo Đào Thị Oanh (1999): Kỹ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố [85], [86]

Nguyễn Văn Phương (2008) quan niệm, kỹ năng là sự vận dụng những tri thức và thao tác hợp lý để thực hiện các hành động giải quyết nhiệm vụ học tập có kết quả trong điều kiện nhất định Như vậy, tác giả còn đưa thêm yếu tố thao tác vào trong kỹ năng [93]

Đặng Thành Hưng (2010) cho rằng: “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lý khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực

cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định” Ở đây, tác giả còn đưa vào khái niệm kỹ năng những yếu tố tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện hành động [55, 56]

Các tác giả nêu trên nhấn mạnh phương thức của hành động, xem xét kỹ năng trong mối liên hệ với hành động và khía cạnh kỹ thuật của hành động

*Kỹ năng là năng lực hành động của cá nhân trong hoạt động

Đại diện cho quan điểm này là các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc, Vũ Dũng, Trần Quốc Thành, Hoàng Anh…

Trong cuốn Từ điển Tâm lý học - Vũ Dũng (chủ biên) có định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [29, tr 132]

Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành và một số tác giả khác cũng coi kỹ năng

là một mặt năng lực của con người thực hiện một công việc có kết quả [105], [113]

Lê Văn Hồng cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở kiến thức Muốn kiến thức là cơ sở của kỹ năng thì kiến thức đó phải phản ánh đầy đủ thuộc tính bản chất được thử thách trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách là công cụ của hành động [50, tr.131]

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 30

19

Tác giả Bùi Thị Xuân Mai khi nghiên cứu kỹ năng không chỉ dừng lại ở tiêu chí kết quả chính xác mà còn xét tới yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có kỹ năng đó Tác giả cho rằng, để thực hiện kỹ năng cá nhân cần nắm rõ các tri thức hành động, bao gồm mục đích, yêu cầu thao tác, kỹ thuật hành động, phương thức thực hiện và vận dụng và hoạt động thực tiễn trong điều kiện cụ thể Bùi Thị Xuân Mai định nghĩa: Kỹ năng là sự vận dụng đúng đắn những tri thức, giá trị (thái độ) liên quan vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động có kết quả [57]

Theo Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011), ‘‘Kỹ năng là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức, kinh nghiệm vào hành động để giải quyết nhiệm vụ” [44, tr 22]

Tác giả Trần Thị Thu Hằng quan niệm: Kỹ năng của cá nhân là một biểu hiện năng lực của họ trong lĩnh vực hoạt động hay công việc nhất định; Kỹ năng là

sự thực hiện một hành động, hoạt động nào đó đạt kết quả, trên cơ sở vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những mục tiêu, điều kiện thực tế

đã cho Theo quan niệm này, có thể hiểu kỹ năng là phức hợp các phẩm chất trí tuệ

của nhân cách được nảy sinh, hình thành, phát triển và biểu hiện trong hoạt động Kỹ năng chính là một dạng biểu hiện của khả năng, năng lực thực hiện của con người, được biểu hiện khi họ thực hiện hành động, hoạt động xuất phát từ nhu cầu hoặc nhiệm vụ xác định nhằm đạt được kết quả theo mục đích đã đặt ra với một đơn vị thời gian ngắn nhất có thể Những hành động không dựa trên kiến thức và các điều kiện sinh học - tâm lý chủ quan của cá nhân thì không phải là kỹ năng, cho dù nó được thực hiện thuần thục, mà đó là thói quen, kỹ xảo hay hành vi tập tính mà ta thường gặp ở động vật hay hành vi tự động hóa ở người Để đánh giá về kỹ năng, người ta có thể căn cứ theo chuẩn hoặc các tiêu chí, các quy định hay mục đích đã xác định từ trước [46, tr 21]

Như vậy, các tác giả theo khuynh hướng này coi kỹ năng không chỉ được hiểu là kỹ thuật mà còn đem lại kết quả cho hoạt động Các tác giả chưa quan tâm

phân tích về mặt thao tác hành động của kỹ năng

* Một số nhà nghiên cứu tiếp cận kỹ năng theo hướng tích hợp cả hai khuynh hướng trên

Đỗ Thị Châu (1999) xem xét kỹ năng trên cả 2 khía cạnh: Thứ nhất, kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định (không có kỹ năng chung chung, trừu tượng tách rời hành động) Thứ hai, kỹ năng là một biểu hiện năng lực của con người nên vừa có tính ổn định vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt và tính mục đích Để

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 31

20

có kỹ năng hành động, cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, phương thức, điều kiện hành động) mà phải mềm dẻo, linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh theo đúng logic của nó với mọi điều kiện có thể để đạt được mục đích của hành động [17, tr.19 - 20]

Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung (2009) đã đưa ra khái niệm: ‘‘Kỹ năng là một biểu hiện của năng lực con người thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách tiến hành đúng đắn kỹ thuật của hành động, trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vốn có về hành động đó” [26, tr.41]

Các tác giả Vũ Văn Tảo, Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) trong cuốn Từ điển Giáo dục học đã phân chia kỹ năng như sau:

+ Kỹ năng bậc I: là khả năng thực hiện đúng hành động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Muốn có kỹ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội dung công việc mà kỹ năng hướng vào và kiến thức về bản thân kỹ năng như quy trình luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện một hành động đúng với mục đích yêu cầu đã đề ra Đây là những kỹ năng đơn giản

và khi luyện tập đến mức hoàn hảo thì thành kỹ xảo

+ Kỹ năng bậc II: là khả năng thực hiện hành động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau Để đạt được kỹ năng này, cần trải qua các giai đoạn luyện tập trên cơ sở

kỹ năng bậc I và kỹ xảo Ở kỹ năng này, tính linh hoạt, sáng tạo là yếu tố cơ bản,

đó là cơ sở cho mọi hoạt động đạt hiệu quả cao Khi nói đến kỹ năng, thường nói

kỹ năng bậc II, vì kỹ năng bậc I không đảm bảo cho nhiều hoạt động thành công Cách phân loại kỹ năng như các tác giả trên giúp chúng ta phân biệt rõ kỹ năng

và kỹ xảo cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng [97]

Khi nghiên cứu về Kỹ năng đọc chữ tiếng Việt của học sinh lớp 1 người dân

tộc Cơ Ho, tác giả Cao Xuân Liễu quan niệm ‘‘Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có và các thao tác phù hợp với hành động, hoạt động để thực hiện hiệu quả hành động, hoạt động trong những điều kiện cụ thể, xác định’’ Tác giả

cho rằng, trong định nghĩa về kỹ năng phải chứa đựng được các nội hàm sau: Kỹ năng biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân qua các thao tác Kỹ năng

là sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm và các giá trị phù hợp với điều kiện hoạt động cụ thể, xác định Sự vận dụng kỹ năng phải đem lại kết quả cho hoạt động [68,

tr 20]

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 32

21

Theo Đào Thị Diệu Linh, kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có vào thực hiện có hiệu quả hành động, hoạt động cụ thể phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xác định Với quan niệm này của tác giả kỹ năng bao hàm những nội dung sau:

Kỹ năng trước hết được thể hiện thông qua các thao tác, mặt kỹ thuật của hành động/hoạt động Không có kỹ năng chung chung, trừu tượng tách rời khỏi hoạt động Chủ thể có kỹ năng hành động đồng nghĩa với hành động có kỹ năng; Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có vào từng trường hợp cụ thể, phù hợp với mục đích và điều kiện của hoạt động Hành động có kỹ năng tức là hành động phải đem lại một hiệu quả nhất đinh, nói cách khác kỹ năng phải được thể hiện

ở tính đúng đắn, mức độ thành thạo, sáng tạo, linh hoạt…[69, tr 27]

Như vậy, các tác giả Việt Nam đã nhìn nhận khái niệm về kỹ năng theo các

góc độ khác nhau Tuy nhiên, các tác giả có chung quan điểm: Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có vào hoạt động thực tiễn để thực hiện hoạt động có kết quả

1.2.2 Các hướng nghiên cứu ở Việt Nam về giao tiếp

Vấn đề giao tiếp được quan tâm nghiên cứu tương đối muộn ở Việt Nam Phải đến những năm 80 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về giao tiếp mới được công bố ở nước ta Các tác giả chủ yếu đi theo hai hướng: nghiên cứu giao tiếp đại cương, hướng nghiên cứu giao tiếp sư phạm và hướng nghiên cứu về giao tiếp của học sinh các cấp

* Hướng nghiên cứu đại cương về giao tiếp

Nghiên cứu đại cương về giao tiếp có các tác giả như: Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn, Đỗ Long, Bùi Văn Huệ, Phạm Minh Hạc…Các nghiên cứu này chủ yếu mang tính chất đại cương về giao tiếp, giải quyết những vấn đề lý luận, coi giao tiếp là một phạm trù độc lập với hoạt động [110], [70], [52]

* Hướng nghiên cứu giao tiếp sư phạm

Hướng nghiên cứu này có các tác giả như: Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Minh Hạc…Các nghiên cứu theo hướng này đã nêu lên lý luận cơ bản về giao tiếp sư phạm, khẳng định giao tiếp sư phạm là giao tiếp đặc thù, giao tiếp mang tính chất nghề nghiệp

* Hướng nghiên cứu về giao tiếp của học sinh

Các công trình nghiên cứu về giao tiếp của học sinh là chưa nhiều:

Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn: "Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè" [104]

đã trình bày kết quả nghiên cứu của mình về sự phát triển nhu cầu giao tiếp và đặc

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 33

22

điểm nhóm bè bạn của trẻ mẫu giáo

Đề tài: "Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi" [101] do tác giả

Nguyễn Thạc chủ trì nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp của trẻ, xung đột trong giao tiếp của trẻ

Trong cuốn "Một số vấn đề tâm lý học về giao tiếp sư phạm" Ngô Công Hoàn đã trình bày quá trình xã hội hoá trẻ em và đặc điểm giao tiếp của trẻ [49]

Nguyễn Xuân Thức khi "Nghiên cứu tính tích cực giao tiếp của trẻ em mẫu giáo 5-6 tuổi" có đề cập tới một số đặc điểm giao tiếp của trẻ Tác giả đã kết luận:

"Trẻ nội thành có tính tích cực giao tiếp cao hơn trẻ ngoại thành", "Bé gái có tính tích cực giao tiếp cao hơn bé trai" Tác giả khảo sát tính tích cực giao tiếp theo ba

thành tố tâm lý là: Nhu cầu giao tiếp, tính chủ động tham gia giao tiếp và mức độ hoà nhập trong giao tiếp của trẻ

Lê Xuân Hồng nghiên cứu về "Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi" đã chỉ ra sự khác biệt ở ba mặt: tần số, phương tiện

và nội dung giao tiếp Tác giả chỉ rõ ở những độ tuổi lớn hơn thì quan hệ giao tiếp sẽ

mở rộng hơn, tần số giao tiếp tăng lên, nội dung giao tiếp phong phú hơn và cách thức

sử dụng các phương tiện biểu đạt cũng trở nên đa dạng, ăn khớp hơn rất nhiều [49]

Nguyễn Liên Châu nghiên cứu về "Đặc điểm giao tiếp của hiệu trưởng trường tiểu học" ở góc độ giao tiếp của người quản lý Trong đó tác giả đã đi vào

tìm hiểu cụ thể về các đặc điểm giao tiếp như: Nhu cầu giao tiếp, mục đích, nội dung giao tiếp, nhận thức trong giao tiếp, các phẩm chất nhân cách trong giao tiếp, phong cách giao tiếp, kỹ năng giao tiếp [15]

Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu về "Giao tiếp của bác sỹ quân y với người bệnh trong khám, chữa bệnh” Tác giả đã chỉ ra: "Giao tiếp giữa bác sỹ với người bệnh là giao tiếp có tính đặc thù và chịu ảnh hưởng của nghề nghiệp rõ rệt Những đặc điểm đặc thù này biểu hiện ở: nhu cầu, nội dung, phạm vi, thời điểm giao tiếp”

Nghiên cứu về giao tiếp của sinh viên và giao tiếp của người dân tộc thiểu số

Các công trình nghiên cứu về giao tiếp của sinh viên là chưa nhiều:

Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh sau khi thực tập tốt nghiệp [11]

Nguyễn Văn Đồng nghiên cứu về “Một số đặc điểm giao tiếp ngoài giảng đường của sinh viên” [34]

1.2.3 Các hướng nghiên cứu ở Việt Nam về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của sinh viên

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 34

23

Ở Việt Nam có nhiều tác giả nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp:

Tác giả Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc cho rằng: Kỹ năng giao tiếp thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mặt, nụ cười, ánh mắt, tư thế đầu cổ, vai, tay, chân, đồng thời với ngôn ngữ nói, viết [3]

Các tác giả đã đưa ra 3 nhóm kỹ năng giao tiếp: Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển, điều chỉnh

Trần Trọng Thủy phân tích mối quan hệ giữa tình người, văn hóa, giao tiếp, ông cho rằng giao tiếp chính là phương tiện thể hiện tình người, là hình thức tác động qua lại của con người trong quá trình sống và hoạt động cùng nhau [110] Thông qua giao tiếp bản chất con người được thể hiện, con người tiếp nhận được những tri thức về thế giới xung quanh, về bản thân, về người khác Ông nhấn mạnh: Văn hóa giao tiếp có liên quan mật thiết với kỹ năng giao tiếp Có một số kỹ năng giao tiếp đặc trưng của con người: Kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến, kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới làm quen với họ Những kỹ năng này được hình thành thông qua học tập và rèn luyện

Trong những năm gần đây, xu hướng nghiên cứu kỹ năng nghề nghiệp được đặc biệt chú trọng như những công trình nghiên cứu về kỹ năng trong trường

sư phạm có các tác giả: Hoàng Anh, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoan Các tác giả đều cho rằng, người giáo viên cần có các kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển điều chỉnh để giao tiếp tốt với học sinh

Khi nghiên cứu về “Nghệ thuật giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh” tác giả Thái Trí Dũng đã trình bày một số kỹ năng giao tiếp cơ bản như: Kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng diễn thuyết và báo cáo miệng, kỹ năng giao dịch bằng điện tín, kỹ năng xã giao thông thường Tuy nhiên, những kỹ năng mà tác giả đưa ra vẫn chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê chưa phản ánh được đầy đủ tính nghệ thuật giao tiếp như mong muốn ban đầu của tác giả [27], [28]

Cũng trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Đoàn Thị Hồng Vân đã đi sâu vào phân tích các kỹ năng nghe hiểu, kỹ năng thuyết trình và kỹ năng viết, bên cạnh đó tác giả đã chỉ rõ mức độ quan trọng của các kỹ năng giao tiếp trong hoạt động kinh doanh cũng như trong đời sống hàng ngày [116]

Đối với hoạt động quản lý, tác giả Vũ Dũng đã đưa ra một số kỹ năng giao tiếp quan trọng là kỹ năng tạo lập mối quan hệ, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 35

Tác giả Chu Văn Đức và Thái Trí Dũng đề ra một hệ thống những kỹ năng giao tiếp mà mỗi người nhân viên nên có nhằm đảm bảo cho giao tiếp thành công là

kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng thuyết trình,

kỹ năng viết, kỹ năng đọc [35]

Tác giả Đào Ái Thi khi nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước đã nêu ra các nhóm kỹ năng giao tiếp mà công chức hành chính cần có: Nhóm kỹ năng giao tiếp dựa trên phương diện năng lực người công chức, nhóm kỹ năng giao tiếp dựa trên phương diện hành vi hành chính, nhóm kỹ năng giao tiếp dựa trên phương diện 16 nghệ thuật quản lý, nhóm kỹ năng giao tiếp dựa trên phương diện kỹ thuật hành chính [108]

Ngoài ra cũng phải kể đến một vài công trình nghiên cứu của các tác giả khác như: “Một số kỹ năng giao tiếp trong vận động quần chúng của chủ tịch hội phụ nữ cấp cơ sở” của tác giả Trần Thị Thanh Hà, “Kỹ năng giao tiếp của cán bộ giao dịch ngân hàng” của tác giả Phạm Thị Tuyết …

1.2.4 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy có các hướng nghiên cứu chính về kỹ năng, về giao tiếp, về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên như sau:

- Các nghiên cứu về kỹ năng: Các nhà tâm lý học đã tập trung vào việc

nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về kỹ năng theo các hướng như: Xem xét kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác, hành động hay hoạt động; xem xét kỹ năng là năng lực hành động của cá nhân trong hoạt động và có một số nhà nghiên cứu tiếp cận kỹ năng theo hướng tích hợp cả hai khuynh hướng trên

- Các hướng nghiên cứu về giao tiếp: Vấn đề giao tiếp được quan tâm nghiên

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 36

25

cứu tương đối muộn ở Việt Nam Phải đến những năm 80 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về giao tiếp mới được công bố ở nước ta Các tác giả chủ yếu đi theo hai hướng: Nghiên cứu giao tiếp đại cương, hướng nghiên cứu giao tiếp sư phạm và hướng nghiên cứu về giao tiếp của học sinh các cấp

- Các hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của sinh viên: Các nhà tâm lý học tập trung nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trên cả hai bình

diện lý luận và thực tiễn Các nghiên cứu theo hướng này đã tập trung vào việc xây dựng những vấn đề lí luận về kỹ năng giao tiếp (khái niệm công cụ; các biểu hiện của kỹ năng giao tiếp; tiêu chí đánh giá) và áp dụng các vấn đề lí luận này để xây dựng bộ công cụ nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trên các khách thể nghiên cứu khác nhau như học sinh, sinh viên, công nhân; nhà tham vấn tâm lý; luật sư; nhà kinh doanh; cán bộ hành chính cấp cơ sở; nhà lãnh đạo; quản lý,

Như vậy, các nhà tâm lý học Việt Nam đã rất quan tâm nghiên cứu vấn đề này Các công trình nghiên cứu đã tập trung giải quyết cơ bản những vấn đề lí luận

và thực tiễn về kỹ năng giao tiếp nói chung và kỹ năng giao tiếp của học sinh, sinh viên nói riêng Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên trong hoạt động học tập trên lớp và đặc biệt là các nghiên cứu này trên sinh viên dân tộc thiểu số thì còn rất ít được nghiên cứu Do vậy, luận án này trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đi trước về kỹ năng, về giao tiếp, về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên để xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày

Có thể nhận thấy rằng, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều nhà tâm lý học

đi sâu nghiên cứu các vấn đề như: Kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp trong hoạt động nghề nghiệp và hoạt động học tập của học sinh, sinh viên Điều này khẳng định rằng, đây là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn và vẫn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu từ các góc độ khác nhau, trong đó nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên các dân tộc ít người

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về các vấn đề của đề tài luận án cho thấy các nhà tâm lý học tập trung vào việc nghiên cứu theo các hướng chính sau đây:

Các hướng nghiên cứu về kỹ năng: Các nhà tâm lý học đi sâu vào việc

nghiên cứu lí luận về kỹ năng, trong đó tập trung vào việc nghiên cứu và xây dựng những vấn đề lí luận cơ bản về kỹ năng và đi sâu vào các nghiên cứu thực tiễn về kỹ

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 37

26

năng Hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng trong từng loại hình nghề nghiệp nhất định như: Kỹ năng nghề dạy học, kỹ năng nghề luật sư, kỹ năng nghề cảnh sát,…Một số nhà nghiên cứu khác lại tập trung vào các nghiên cứu liên quan đến kỹ năng học tập của học sinh, sinh viên…

Các hướng nghiên cứu về giao tiếp: Các nhà tâm lý học tập trung vào việc

nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp tập trung vào việc chứng minh giao tiếp

là một dạng hoạt động hay là điều kiện, phương thức của hoạt động; giao tiếp là một phạm trù độc lập với hoạt động; giao tiếp là quá trình truyền và tiếp nhận thông tin

và nghiên cứu giao tiếp theo từng chuyên ngành hẹp của tâm lý học hoặc theo tính chất và đặc trưng nghề nghiệp Các nhà tâm lý học tập trung vào việc thực hiện các nghiên cứu thực tiễn về giao tiếp ứng dụng Trong đó, các nhà nghiên cứu đã áp dụng tâm lý học giao tiếp vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống thường ngày như: Chăm sóc sức khoẻ, tư vấn, những quan hệ cá nhân, những vấn đề chính trị… Một số nhà nghiên cứu còn viết sách dạy nghệ thuật trong việc giao tiếp với từng đối tượng cụ thể: giao tiếp với người lạ, giao tiếp với bạn bè, giao tiếp với đồng nghiệp, với người khác giới, với khách hàng, với người không thân thiết…

Các hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp: Các nhà tâm lý học tập trung

vào việc nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp tập trung vào việc nghiên cứu

kỹ năng giao tiếp dựa trên tính chất của tổ chức; nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hướng tập chung phân tích mối quan hệ liên cá nhân; nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hướng thông qua sự kết hợp của phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi

ngôn ngữ Những kỹ năng giao tiếp chủ yếu được đưa ra là kỹ năng giao tiếp bằng

lời và không lời, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng làm chủ cảm xúc, kỹ năng tạo ấn

tượng ban đầu Mỗi một nhóm tác giả luôn cố gắng chứng minh ý nghĩa cũng như

tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp gắn với lĩnh vực hoạt động mà mình đang nghiên cứu bằng những minh chứng rất cụ thể nhưng vẫn có phần chưa coi trọng việc khái quát lý luận Các nhà tâm lý học tập trung nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn Các nghiên cứu theo hướng này đã hướng vào việc xây dựng những vấn đề lí luận về kỹ năng giao tiếp (khái niệm công cụ; các biểu hiện của kỹ năng giao tiếp; tiêu chí đánh giá) và áp dụng các vấn đề lí luận này để xây dựng bộ công cụ nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trên các khách thể nghiên cứu khác nhau như học sinh, sinh viên, công nhân; nhà tham vấn tâm lý; luật

sư; nhà kinh doanh; cán bộ hành chính cấp cơ sở; nhà lãnh đạo; quản lý,

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 38

27

Nhìn chung, các tác giả trong nước đều đã đưa ra những kỹ năng giao tiếp cần thiết và có giá trị thực tiễn đặc biệt đối với lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cụ thể Kỹ năng giao tiếp phụ thuộc vào mục đích giao tiếp, tính chất của từng hoạt động, do đó có những cách phân loại kỹ năng giao tiếp khác nhau dẫn đến những quan điểm về kỹ năng giao tiếp giữa các tác giả chưa có sự thống nhất

Tuy vậy, đến nay chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày, đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu

nào về Kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân

tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam - chủ đề mà chúng tôi lựa chọn làm đề tài

nghiên cứu Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 39

28

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRÊN LỚP CỦA

SINH VIÊN DÂN TỘC TÀY

2.1 Kỹ năng giao tiếp

2.1.1 Kỹ năng

2.1.1.1 Khái niệm kỹ năng

Tính đến thời điểm này, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề kỹ năng Từ kết quả nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã chỉ ra các cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về kỹ năng và chỉ ra các khái niệm khác nhau về kĩ năng Có 2 xu hướng chính bàn về khái niệm

kỹ năng đó là (1) Kỹ năng như một phương thức thực hiện hành động mà con người nắm vững, cá nhân có kỹ năng sẽ sử dụng phù hợp các tri thức và hiểu biết đã có vào hoạt động cụ thể để đạt hiệu quả mong muốn; (2) Kỹ năng là năng lực, hoặc là biểu hiện năng lực của con người trong họat động nhằm đạt được hiệu quả của hoạt động đó; (3) Kỹ năng là hành vi ứng xử Dưới đây chúng tôi sẽ nêu dẫn các khái niệm cụ thể của các nhà nghiên cứu theo hai xu hướng nêu trên

(1) Xu hướng thứ nhất: Kỹ năng như một phương thức thực hiện hành động

mà con người nắm vững, cá nhân có kỹ năng sẽ sử dụng phù hợp các tri thức và hiểu biết đã có vào hoạt động cụ thể để đạt hiệu quả mong muốn

Đại diện cho xu hướng này chủ yếu là các nhà tâm lý học Liên Xô như A.G Covaliov, V.A Cruchetxki, P.A.Rudich, E.V Gurianov và một số nhà tâm lý học Viêt Nam như Trần Trọng Thủy, Đào Thị Oanh, Trần Anh Tuấn,

Nhà tâm lý học A.G Côvaliov cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [19]

Tác giả V.A Cruchetxki nêu ra khái niệm kỹ năng như sau: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động - những cái mà con người nắm vững” Với ông, chỉ cần nắm vững phương thức của hành động là con người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của hành động [22]

Nhà tâm lý học người Nga, A.V Muđrik cho rằng: “Kỹ năng là động tác

mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hình thức hoạt động cụ thể” [81,tr124] Tác giả chỉ ra đặc điểm cơ bản của kỹ năng: “Trong kỹ năng các thao tác riêng lẻ có thể là chưa hoàn toàn hoàn

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Trang 40

29

thiện, chúng còn kéo dài quá, trong tiến trình thực hiện động tác còn mắc những sai lệch nào đó, đòi hỏi nỗ lực quá mức, gây nên sự mệt mỏi vì vậy người ta phân biệt

kỹ năng lớn hơn hay kỹ năng bé hơn” [81,tr 125]

Bên cạnh các khái niệm kỹ năng của các nhà nghiên cứu trên thế giới như đã nêu dẫn ở trên, một số nhà tâm lý học của Việt Nam cũng đưa ra khái niệm kỹ năng theo hướng này

Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cách thức hành động tức là có kỹ thuật hành động, có

kỹ năng” [110]

(2) Xu hướng thứ hai: Kỹ năng là năng lực, hoặc là biểu hiện năng lực của

con người trong họat động nhằm đạt được hiệu quả của hoạt động đó

Đại diện cho xu hướng này có các nhà tâm lý học Liên Xô và Việt Nam như K.K.Platônov, Xavier Roegiers, A.V.Petropxki, I F Khaclamop (1978), Nguyễn Quang Uẩn (2005), Vũ Dũng (2000), Trần Quốc Thành (1992), Hoàng Thị Anh (1992)

Theo quan điểm này, A.V.Pêtrôpxki cho rằng, “Kỹ năng là vận dụng tri thức,

kỹ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra” [87]

(3) Xu hướng thứ ba: Kỹ năng là hành vi ứng xử

Tác giả Chu Liên Anh trong luận án tiến sĩ của mình đã chỉ ra xu hướng xem xét kỹ năng là hành vi ứng xử của con người Tác giả đã chỉ ra các khái niệm cụ thể của các nhà tâm lý học trên thế giới đi theo xu hướng này như J.N.Richard, J Louise,…

J.N.Richard (2003) cho rằng: Mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà con người ta suy nghĩ, kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ [dẫn theo 5]

J Louise (1995) nhấn mạnh kỹ năng là yếu tố thực tiễn và là kết quả của sự kết nối giữa lý thuyết và giá trị (thái độ, niềm tin) [Dẫn theo 5]

Như vậy, có 3 xu hướng chính bàn luận và nêu dẫn khái niệm kỹ năng Tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả luận án đi theo xu hướng nghiên cứu kỹ năng như là năng lực, hoặc là biểu hiện năng lực của con người trong họat động nhằm đạt được hiệu quả của hoạt động đó Do vậy, chúng tôi đưa ra khái niệm kỹ năng làm khái niệm cộng cụ nghiên cứu của đề tài luận án như sau:

Luận án tiến sĩ Tâm lý học

Ngày đăng: 05/01/2024, 13:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh, Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên, Luận án phó tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên
2. Hoàng Anh – Nguyễn Thanh Bình – Vũ Kim Thanh (2004), Giáo trình Tâm lý học giao tiếp, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Hoàng Anh – Nguyễn Thanh Bình – Vũ Kim Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
3. Hoàng Anh – Đỗ Thị Châu- Nguyễn Thạc (2007), Hoạt động – Giao tiếp – Nhân cách, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động – Giao tiếp – Nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh – Đỗ Thị Châu- Nguyễn Thạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2007
5. Chu Liên Anh (2010), Kỹ năng tư vấn của luật sư, Luận án tiến sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tư vấn của luật sư
Tác giả: Chu Liên Anh
Năm: 2010
6. Triều Ân – Hoàng Quyết (1996), Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày
Tác giả: Triều Ân – Hoàng Quyết
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
7. Hoàng Bé, Hoàng Minh Lợi (1998), Làng bản của người Tày, Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr.41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng bản của người Tày
Tác giả: Hoàng Bé, Hoàng Minh Lợi
Năm: 1998
8. Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Văn Huệ, Đỗ Mộng Tuấn (1995), Vai trò của giao tiếp trong quan hệ xã hội và quan hệ nhân cách, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của giao tiếp trong quan hệ xã hội và quan hệ nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Văn Huệ, Đỗ Mộng Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1995
9. Nguyễn Thanh Bình (1991), Về nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1991
10. Nguyễn Thanh Bình (1993), Khả năng giao tiếp của sinh viên Đại học Sư phạm, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng giao tiếp của sinh viên Đại học Sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1993
11. Nguyễn Thanh Bình (1996), Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh sau khi thực tập tốt nghiệp, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh sau khi thực tập tốt nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1996
12. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1990
13. Lê Thị Bừng – Hải Vang (1997), Tâm lý học ứng xử, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng – Hải Vang
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
14. Lê Thị Bừng (2000), Tâm lý học ứng xử, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
15. Nguyễn Liên Châu (1998), Đặc điểm giao tiếp của hiệu trưởng trường tiểu học, Luận án tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giao tiếp của hiệu trưởng trường tiểu học
Tác giả: Nguyễn Liên Châu
Năm: 1998
16. Nông Quốc Chấn, Huỳnh Khái Vinh (2002), Văn hoá các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng
Tác giả: Nông Quốc Chấn, Huỳnh Khái Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Đỗ Thị Châu (1999), Nghiên cứu kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh của học sinh lớp 6, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà NộiLuận án tiến sĩ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh của học sinh lớp 6
Tác giả: Đỗ Thị Châu
Năm: 1999
4. T.A.A.rôgiakaêva, Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của giáo viên mới vào nghề Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các mức độ kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 2.1 Các mức độ kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 70)
Bảng 4.1: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.1 Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 91)
Bảng 4.2: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.2 Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của (Trang 92)
Bảng 4.3. Mức độ thực hiện kỹ năng tìm hiểu đối tượng giao tiếp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.3. Mức độ thực hiện kỹ năng tìm hiểu đối tượng giao tiếp (Trang 94)
Bảng 4.4. Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự tôn trọng đối tượng - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.4. Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự tôn trọng đối tượng (Trang 98)
Bảng 4.5. Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự hợp với tác đối tượng giao tiếp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.5. Mức độ thực hiện kỹ năng thể hiện sự hợp với tác đối tượng giao tiếp (Trang 101)
Bảng 4.7: Mức độ thực hiện kỹ năng diễn đạt các nội dung học tập - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.7 Mức độ thực hiện kỹ năng diễn đạt các nội dung học tập (Trang 109)
Bảng 4.10: Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp bằng ngôn - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.10 Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp bằng ngôn (Trang 121)
Bảng 4.11. Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp bằng - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.11. Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp bằng (Trang 124)
Bảng 4.12. Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp phi - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.12. Mức độ thực hiện kỹ năng sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp phi (Trang 127)
Bảng 4.13. Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.13. Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 131)
Bảng 4.14: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.14 Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 132)
Bảng 4.15: Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.15 Mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 135)
Sơ đồ 4.1: Tương quan giữa các kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Sơ đồ 4.1 Tương quan giữa các kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 136)
Bảng 4.20:  Mức độ thay đổi kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp - Luận án tiến sĩ tâm lý học  kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên dân tộc tày vùng đông bắc việt nam
Bảng 4.20 Mức độ thay đổi kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp (Trang 146)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm