Trang 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG --- NGUYỄN THỊ THÚY KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
NGUYỄN THỊ THÚY
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
THỤY XUÂN, THÁI THỤY, THÁI BÌNH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội – 2020
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG -
NGUYỄN THỊ THÚY
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNHCHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
THỤY XUÂN, THÁI THỤY, THÁI BÌNH NĂM 2020
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8 72 07 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Đào Xuân Vinh
Hà Nội – 2020
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc
GDSKSS Giáo dục sức khỏe sinh sản
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
* Sức khỏe sinh sản vị thành niên 4
1.2 Những đặc điểm dậy thì ở tuổi vị thành niên, nội dung chăm sóc SKSS sản và hạn chế tiếp cận các lĩnh vực sức khỏe sinh sản của vị thành niên Việt Nam
1.3.4 Những rào cản khiến vị thành niên khó tiếp cận các lĩnh vực sức
1.2 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc
sức khỏe sinh sản vị thành niên trên Thế giới và ở Việt Nam 8
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 5* Vấn đề quan hệ tình dục, có thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở vị thành niên 8
* Vấn đề các bệnh lây qua đường tình dục và HIV/AIDS 11
* Các nguy cơ về sức khỏe và hậu quả về kinh tế, xã hội của vấn đề thai
nghén và sinh đẻ ở tuổi vị thành niên 11
1.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về sức
1.4.1 Một số đặc điểm huyện Thái Thụy 18 1.4.2 Đặc điểm trường Trung học cơ sở Thụy Xuân 19
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21 2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21 2.1.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21 2.2.1.1 Nghiên cứu định lượng 21 2.2.1.2 Nghiên cứu định tính 21
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 22
2.3.1 Công cụ thu thập thông tin 22 2.3.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 23 2.3.3 Cấu trúc bộ câu hỏi 23 2.3.4 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 23
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 6* Điều tra viên 23
* Tiến hành thu thập thông tin 24
2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 26
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 26
* Kiến thức về sức khỏe sinh sản của đối tượng 28
* Thái độ về sức khỏe sinh sản của đối tượng 29
* Thực hành về sức khỏe sinh sản của đối tượng 29
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS của đối tượng nghiên cứu 33 3.2.1 Kiến thứcvề SKSS của đối tượng nghiên cứu 33 3.2.2 Thái độ về SKSS của đối tượng nghiên cứu 43 3.2.3 Thực hành về SKSS của đối tượng nghiên cứu 44
3.3.4 Các kênh truyền thông về giáo dục sức khỏe sinh sản 45
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm
4.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên của học sinh trường Trung học cơ sở Thụy Xuân, huyện Thái 59
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 7Thụy, tỉnh Thái Bình năm 2020
4.2 Về một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về
chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của đối tượng nghiên cứu 65
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31 Bảng 3.2 Đặc điểm khu vực sống của đối tượng nghiên cứu 32 Bảng 3.3 Hoàn cảnh sống 32 Bảng 3.4 Kiến thức về độ tuổi vị thành niên 33 Bảng 3.5 Kiến thức về độ tuổi dậy thì của vị thành niên 33 Bảng 3.6 Kiến thức đúng của đối tượng về dậy thì 34 Bảng 3.7 Kiến thức của đối tượng về thời điểm dễ có thai nhất 35 Bảng 3.8 Kiến thức về hành động bạn nam làm cho bạn nữ có thai 35 Bảng 3.9 Kiến thức đúng về dấu hiệu mà người phụ nữ được cho là có thai 36 Bảng 3.10 Kiến thức đúng về hậu quả khi làm mẹ quá trẻ 36 Bảng 3.11 Kiến thức đúng của đối tượng về thụ thai 37 Bảng 3.12 Kiến thức đúng về hậu quả việc nạo phá thai 37 Bảng 3.13 Kiến thức về địa điểm nạo phá thai an toàn nhất 38 Bảng 3.3 Kiến thức của đối tượng về nạo phá thai 38 Bảng 3.15 Số lượng các biện pháp tránh thai mà
Bảng 3.16 Kiến thức của đối tượng về biện pháp tránh thai phù hợp với vị
Bảng 3.17 Những địa điểm có thể cung cấp BCS 40 Bảng 3.18 Kiến thức đúng về biện pháp tránh thai 40 Bảng 3.19 Kiến thức của đối tượng về bệnh lây truyền qua đường tình dục 41 Bảng 3.20 Kiến thức của đối tượng về biểu hiện mắc các bệnh lây truyền qua
Bảng 3.21 Kiến thức của đối tượng về biện pháp phòng tránh mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục 42 Bảng 3.22 Kiến thức đúng về bệnh lây truyền qua đường tình dục 42 Bảng 3.23 Kiến thức đúng của đối tượng về sức khỏe sinh sản nam 42
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 9Bảng 3.24 Đánh giá thái độ về sức khỏe sinh sản vị thành niên 43 Bảng 3.25 Thực hành vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày 45 Bảng 3.26 Loại hình truyền thông chăm sóc SKSS trong trường học 45 Bảng 3.27 Mối liên quan tới thực hành của học sinh về chăm sóc SKSS VTN 47 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa khối/lớp của đối tượng và kiến thức của học
sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 47 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa con thứ mấy và kiến thức của học sinh về chăm
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của bố mẹ và kiến thức của
học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 48 Bảng 3.31 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của bố mẹ và kiến thức của học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 49 Bảng 3.32 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ và kiến thức của học
sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 49 Bảng 3.33 Mối liên quan giữa tình trạng truyền thông giáo dục sức khỏe của 50 Bảng 3.34 Mối liên quan giữa giới tính của đối tượng và thái độ của học sinh
về chăm sóc sức khỏe sinh sản 50 Bảng 3.45 Mối liên quan giữa khối/lớp của đối tượng và thái độ của học sinh
về chăm sóc sức khỏe sinh sản 51 Bảng 3.36 Mối liên quan giữa con thứ mấy và thái độ của học sinh về chăm
Bảng 3.37 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của bố mẹ và thái độ của
học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 52 Bảng 3.38 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của bố mẹ và thái độ của học
sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 52 Bảng 3.39 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ với thái độ của học sinh
về chăm sóc sức khỏe sinh sản 53 Bảng 3.40 Mối liên quan giữa việc được truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh 53
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 10sản từ nhà trường với thái độ của học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Bảng 3.41 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ của học sinh về chăm sóc
Bảng 3.52 Mối liên quan giữa giới tính của đối tượng và thực hành của học
sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 54 Bảng 3.43 Mối liên quan giữa khối/lớp của đối tượng và thực hành của học
sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 55 Bảng 3.44 Mối liên quan giữa con thứ mấy và thực hành của học sinh về chăm
Bảng 3.45 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của bố mẹ và thực hành của học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 56 Bảng 3.46 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của bố mẹ và thực hành của
học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 56 Bảng 3.47 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ với thái độ của học sinh
về chăm sóc sức khỏe sinh sản 57 Bảng 3.48 Mối liên quan giữa việc được truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản từ nhà trường với thực hành của học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản 57 Bảng 3.49 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của học sinh về chăm
Bảng 3.50 Mối liên quan giữa thái độ và thực hành của học sinh về chăm sóc
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 11Biểu đồ 3.4 Đánh giá thái độ về sức khỏe sinh sản vị thành niên 44 Biểu đồ 3.5 Thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên 44 Biểu đồ 3.6 Kênh thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản tin cậy
nhất đối với học sinh 46 Biểu đồ 3.7 Dịch vụ khám chữa bệnh sức khỏe sinh sản thích hợp
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 12LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Nguyễn Thị Thúy
Học viên lớp : Thạc sĩ Y tế công cộng khóa 2018-2020
Trường : Đại học Thăng Long Hà Nội
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận “Kiến thức, thái độ, thực hànhchăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh Trung học cơ sở Thụy Xuân, Thái Thụy,Thái Bình năm 2020” là công trình nghiên cứu của riêng tôi do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đào Xuân Vinh Tất cả số liệu trong luận văn này là hoàn toàn chính xác, trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn./
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2020
Học viên
Nguyễn Thị Thúy
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 13LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đào Xuân Vinh đã tận tâm hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện cho tôi được học tập trong môi trường hiện đại, thanh lịch và thân thiện, giúp tôi có những kiến thức, kỹ năng trong chuyên ngành, có hành trang tốt hơn để áp dụng thực tế thực hiện công tác chuyên môn tại đơn vị tôi công tác
Tôi xin cảm ơn ban giám hiệu, thầy cô giáo và các bạn học sinh trường Trung học cơ sở Thụy Xuân đã tham gia cùng tôi thực hiện nghiên cứu và các đồng nghiệp, cùng bạn học, gia đình đã luôn bên cạnh động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin kính chúc quý thầy cô giáo, đồng nghiệp, Ban giám hiệu và các bạn học sinh trường THCS Thụy Xuân cùng các bạn học lời kính chúc sức khỏe, hạnh
Trang 14Theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, năm 2018, trong tổng
số 8.290 ca nạo hút thai có 130 ca nạo hút thai ở lứa tuổi vị thành niên, 9 tháng năm
2019 có 97 ca nạo hút thai ở lứa tuổi vị thành niên trong tổng số 7.236 ca nạo hút thai [35] Đây chỉ là con số nhỏ so với thực tế bởi còn rất nhiều vị thành niên tìm đến các phòng khám, dịch vụ tư nhân để nạo hút thai Bên cạnh đó, các kiến thức,
kỹ năng cơ bản về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên/thanh niên còn nhiều hạn chế; giáo dục về sức khỏe sinh sản chưa tiếp cận được ở diện rộng; việc cung cấp thông tin, dịch vụ thân thiện về sức khỏe sinh sản chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của vị thành niên/thanh niên Điều này phản ánh công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên/thanh niên vẫn còn nhiều khoảng trống Việc vị thành niên thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, về giới tính cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến số vụ xâm hại tình dục gia tăng [36]
Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, trong giai đoạn 2011 - 2014, toàn tỉnh có 41 trẻ bị xâm hại tình dục, đến giai đoạn
2015 - 6/2019, số trẻ bị xâm hại tình dục lên đến 52 trẻ Trẻ bị xâm hại tình dục đều
là nữ và ở độ tuổi chủ yếu từ 13-16 tuổi, trong đó có một trường hợp bị xâm hại và mang thai ở tuổi 13 (năm 2012) Với những đặc điểm này, tuổi vị thành niên liên tục đối mặt với những thách thức cũng như nguy cơ [44]
Tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có 49 trường Trung cơ sở tại địa bàn 48
xã, thị trấn, với tổng số 11.852 em học sinh Các em học sinh theo học tại các trường này đều nằm trong lứa tuổi vị thành niên Công tác phối hợp với Trung tâm
Y tế truyền thông ngoại khóa, giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 152 huyện Thái Thụy tuy đã được triển khai từ rất sớm nhưng vẫn còn nhiều bất cập do đây là một công việc phức tạp và tế nhị cùng với quan điểm của phụ huynh và Ban giám hiệu nhà trường là các em còn nhỏ, việc giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản là sớm…vì vậy việc giáo dục giới tính chăm sóc sức khỏe sinh sản không chỉ đòi hỏi quan tâm của nghành y tế mà còn của cả xã hội cùng phối hợp thực hiện Nhiều thống kê cho thấy có sự gia tăng rõ rệt các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam nói chung và tại địa bàn huyện Thái Thụy nói riêng Tuy nhiên các nghiên cứu hầu như chỉ tập trung vào lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông hoặc sinh viên là độ tuổi
đã dậy thì và đã hình thành các hành vi nguy cơ sức khỏe tình dục, mà ít có nghiên cứu về lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở từ 12-15 tuổi là lứa tuổi vừa bước vào tuổi dậy thì, các em còn bỡ ngỡ trước một thế giới kiến thức giới tính rộng lớn, rất
dễ có những hiểu biết không đúng, có thái độ không phù hợp và hình thành hành vi nguy cơ đến sức khỏe của mình Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên nói chung và của các học sinh theo học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn của huyện nói riêng Vấn đề đặt ra
là kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh các trường trung học cơ sở huyện Thái Thụy như thế nào? Sự hiểu biết của các em về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, các biện pháp tránh thai, thái độ về vấn đề quan hệ tình dục ra sao? Nhu cầu của các em học sinh về thông tin, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của các em về sức khỏe sinh sản? Để trả lời một
số câu hỏi đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài về “Kiến thức, thái độ, thực
hành chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh Trung học cơ sở Thụy Xuân, Thái Thụy, Thái Bình năm 2020” với hai mục tiêu:
1 Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của học sinh Trung học cơ sở Thụy Xuân, Thái Thụy, Thái Bình năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của đối tượng nghiên cứu
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 163
Chương 1 TỔNG QUAN
Tuổi vị thành niên ở mỗi nền văn hóa có những đặc điểm riêng nhưng nói chung còn bộc lộ tính phụ thuộc, sự khủng hoảng về nhân cách và hoang mang về tâm lý, các em đang muốn khám phá chính mình Tuy trưởng thành về mặt cơ thể nhưng vị thành niên chưa được hoàn thiện nhân cách Lứa tuổi này vẫn đang trong giai đoạn trẻ học tập ở nhà trường nhưng rất dễ bị ảnh hưởng những điều xấu từ xã hội Thay đổi rõ rệt nhất ở lứa tuổi vị thành niên là các vấn đề về sức khỏe sinh sản, bao gồm cả các biểu hiện về dậy thì Bất cứ một vấn đề về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này đều có thể ảnh hưởng và để lại hậu quả nặng nề cho cuộc sống về sau Cùng với tăng trưởng, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và sức khỏe vị thành niên, thanh niên nói riêng Một số vấn đề sức khỏe
vị thành niên quan trọng nhất hiện nay là: tình trạng dậy thì sớm, quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, tảo hôn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở lứa tuổi vị thành niên để lại hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe
và tinh thần cũng như tương lại của vị thành niên
1 Sơ lược về tuổi vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1 Một số khái niệm
* Vị thành niên: là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn Độ tuổi
vị thành niên là 10-19 tuổi (theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa) Lứa tuổi vị thành niên được chia thành 3 nhóm: Từ 10-13 tuổi là nhóm vị thành niên sớm; từ 14-16 tuổi là nhóm vị thành niên giữa; từ 17-19 tuổi là nhóm vị thành niên muộn [3], [4]
Tại Việt Nam quy định vị thành niên được xem là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi Độ tuổi vị thành niên chia thành 3 giai đoạn:
- Vị thành niên sớm: từ 10 đến 13 tuổi;
- Vị thành niên giữa: từ 14 đến 16 tuổi;
- Vị thành niên muộn: từ 17 đến 18 tuổi Ba giai đoạn phân chia này chỉ có tính tương đối, có thể khác nhau ở từng VTN [3], [11]
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 17Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cairo năm 1994 định nghĩa
về sức khỏe sinh sản: “sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” [10], [44]
Sức khỏe sinh sản gồm các khía cạnh dưới đây:
- Khía cạnh sức khỏe thể chất: ở nam và nữ giới có cơ thể khỏe mạnh; tất cả các cơ quan nằm trong hệ thống sinh sản đều không gặp các tổn thương hay khiếm khuyết Đảm bảo được khả năng thực hiện quan hệ tình dục và chức năng sinh sản
về sau
- Khía cạnh sức khỏe tinh thần: mỗi cá nhân cảm thấy khỏe khoắn; thoải mái
về sức khỏe sinh sản và khả năng sinh lý của chính bản thân mình Có thể nhận ra được những điểm mạnh điểm yếu của bản thân; tự tin vào chính bản thân và khả năng của chính mình
- Sức khỏe xã hội: đảm bảo sự an toàn cho xã hội Sống chan hòa và có mối quan hệ tốt với mọi người trong cộng đồng
* Sức khỏe sinh sản vị thành niên: “Là tình trạng khỏe mạnh về thể chất,
tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến cấu tạo và hoạt động của bộ máy sinh sản ở tuổi vị thành niên, chứ không chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó”
1.2 Những đặc điểm dậy thì ở tuổi vị thành niên, nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản và hạn chế tiếp cận các lĩnh vực sức khỏe sinh sản của vị thành niên Việt Nam
1.2.1 Những thay đổi về sinh lý ở tuổi vị thành niên
• Với trẻ nữ
- Về thời gian: Bắt đầu từ khi 8-13 tuổi, trung bình 15 tuổi và hoàn tất dậy
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 185 thì vào thời điểm trẻ được 13-18 tuổi;
- Về phát triển cơ thể, dưới tác dụng của các hoocmon sinh dục: thay đổi ở
vú (núm vú nhô lên rõ hơn, hình thành quầng vú và bầu vú, phát triển đầy đủ sau
18 tháng); phát triển xương chậu (khung chậu của nữ tròn hơn và rộng hơn khung chậu của nam); xương đùi, các mô mỡ phát triển hình thành đường cong cơ thể; phát triển chiều cao, cân nặng; bộ phận sinh dục phát triển (âm hộ, âm đạo to ra, tử cung và buồng trứng phát triển); buồng trứng thực hiện chức năng sinh sản bằng việc xuất hiện kinh nguyệt;
- Về thay đổi sinh lý: bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt Trong khoảng một năm
đầu khi có kinh, kinh nguyệt không đều và thời gian hành kinh cũng thay đổi [10], [44]
• Với trẻ nam
- Về thời gian: bắt đầu dậy thì khi trẻ được 10-15 tuổi;
- Về thay đổi cơ thể: vỡ tiếng; có ria mép xuất hiện và râu ở cằm; phát triển chiều cao và cân nặng; tuyến bã và tuyến mồ hôi phát triển, xương ngực và vai phát triển; các cơ rắn chắc hơn; hình thành trái cổ do sụn giáp phát triển; dương vật và tinh hoàn to lên;
- Về thay đổi sinh lý: tinh hoàn hoạt động sinh ra hoocmon sinh dục nam và tinh trùng; biểu hiện xuất tinh, những lần đầu là mộng tinh [10], [44]
1.2.2 Những biến đổi về tâm lý trong thời kỳ VTN:
Tùy theo từng giai đoạn phát triển của thời kỳ VTN mà có những biến đổi về tâm lý khác nhau
* Thời kỳ VTN sớm:
- Bắt đầu ý thức mình không còn là trẻ con, muốn được độc lập
- Muốn được tôn trọng, được đối xử bình đẳng như người lớn
Trang 196
* Thời kỳ VTN giữa:
- Tiếp tục quan tâm nhiều hơn đến hình dáng cơ thể
- Tỏ ra độc lập hơn, thích tự mình quyết định, có xu hướng tách ra khỏi sự
kiểm soát của gia đình
- Phát triển mạnh cá tính, sở thích cá nhân
- Chịu ảnh hưởng nhiều của bạn bè đồng trang lứa
- Quan tâm đến bạn khác giới, dễ ngộ nhận tình bạn khác giới với tình yêu
- Tiếp tục phát triển tư duy trừu tượng
- Phát triển kĩ năng phân tích, bắt đầu nhận biết hậu quả của hành vi
- Có xu hướng muốn thử thách các qui định, các giới hạn mà gia đình hay xã hội đặt ra [10], [44]
* Thời kỳ VTN muộn:
- Khẳng định sự độc lập và tạo dựng hình ảnh bản thân tương đối ổn định
- Khả năng đánh giá và giải quyết vấn đề tốt hơn
- Cách suy nghĩ, nhận xét và ứng xử chín chắn hơn
- Ảnh hưởng của nhóm bạn bè giảm dần, quay lại chú trọng mối quan hệ gia đình
- Chú trọng tới mối quan hệ riêng tư, tin cậy giữa 2 người hơn quan hệ theo nhóm
- Định hướng cuộc sống, nghề nghiệp rõ ràng hơn
- Biết phân biệt tình bạn và tình yêu, cách nhìn nhận tình yêu mang tính thực
tế hơn, có xu hướng muốn thử nghiệm tình dục [10], [44]
1.3 Các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên
1.3.1 Những chủ đề cần tư vấn về giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên
- Đặc điểm phát triển cơ thể, tâm-sinh lý tuổi VTN
- Kinh nguyệt bình thường và bất thường tuổi VTN
- Thai nghén và sinh đẻ ở tuổi VTN
- Các biện pháp tránh thai ở tuổi VTN
- Tiết dịch âm đạo hoặc niệu đạo ở tuổi VTN
- Mộng tinh, thủ dâm
- Nhiễm khuẩn đường sinh sản và NKLTQĐTD bao gồm cả HIV/AIDS
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 207
- Tình dục an toàn và lành mạnh
- Bạo lực và lạm dụng tình dục
- Lạm dụng chất gây nghiện [3]
1.3.2 Các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe vị thành niên
- Kinh nguyệt và xuất tinh ở vị thành niên
- Những đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý trong thời kỳ vị thành niên
- Tình dục an toàn và đồng thuận
- Các biện pháp tranh thai cho vị thành niên và thanh niên
- Mang thai ở vị thành niên
- Vị thành niên và thanh niên với vấn đề bạo hành
- Kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của vị thành niên
- Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên và thanh niên
- Thăm khám sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên
- Sử dụng chất gây nghiện ở vị thành niên và thanh niên
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm vị thành niên/thanh niên yếu thế
- Tư vấn sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên [3]
1.3.3 Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên
Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, thậm chí có những rủi ro vượt ngoài phạm vi kiểm soát của gia đình Do đó, sự quan tâm của xã hội là một đòi hỏi cần thiết trong quá trình chăm sóc sức khỏe vị thanh niên Các dịch vụ và hỗ trợ và chăm sóc y tế vị thanh niên đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu trên, trong đó dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên
là một trong những dịch vụ tiêu biểu trong việc hỗ trợ và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả
Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên phải là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của những thanh thiếu niên trong lứa tuổi này một cách tế nhị và có hiệu quả, có thể tiếp cận được, giá cả phù hợp, an toàn, phục vụ theo những cách thức
mà vị thành niên chấp nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của vị thành niên và khuyến khích các em trở lại cơ sở y tế khi cần, cũng như giới thiệu dịch vụ với bạn
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 21- Quan niệm của xã hội về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên còn hạn chế
- Các chính sách, chiến lược về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên còn ít, chưa cụ thể, chưa có nhiều chính sách động viên vị thành niên
- Thiếu các cơ sở cung cấp dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên
- Thái độ định kiến của thầy cô giáo, cha mẹ, cộng đồng đối với việc cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Đa số cán bộ cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản còn chưa được huấn luyện
để tiếp xúc và làm việc với vị thành niên [3]
1.2 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên trên Thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
* Vấn đề quan hệ tình dục, có thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở vị thành niên
Trên thế giới, các nghiên cứu về SKSS vị thành niên đã được tiến hành từ sau năm 1975 tại các nước thuộc các khu vực khác nhau như Châu Á, Châu Phi, Châu
Mỹ, Châu Âu Quan hệ tình dục (QHTD) sớm là vấn đề xã hội ở nhiều nước: Ở Thái Lan hơn 60% thanh thiếu niên nam có quan hệ tình dục với bạn gái hoặc gái điếm Ở Mỹ, ở tuổi 15 có 1/4 nữ và 1/3 nam có hoạt động tình dục, đến tuổi 17 thì
tỷ lệ này tăng lên 50% cho nữ và 60% cho nam [54]
Theo Quỹ dân số Liên Hợp Quốc, tỷ lệ vị thành niên mang thai ở Philippines giữ vững trong nhiều năm, trong khi các nước châu Á khác có xu hướng giảm Gần đây, xu hướng này có thay đổi nhỏ Dữ liệu từ cuộc Điều tra Dân số và Y tế Quốc gia năm 2017 cho thấy 9% phụ nữ Philippines trong độ tuổi 15-19 bắt đầu sinh con, giảm 10% so với năm 2013 Thế nhưng con số này vẫn còn cao, so với tỷ lệ 4,7% trung bình toàn cầu năm 2015 của Tổ chức Y tế Thế giới [69]
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 229 Mỗi năm, ước tính có khoảng 21 triệu nữ vị thành niên và 2 triệu trẻ gái dưới
15 tuổi mang thai ở các nước đang phát triển Cũng tại các quốc gia này, có gần 16 triệu nữ vị thành niên và khoảng 2,5 triệu trẻ gái dưới 16 tuổi sinh con mỗi năm [48],[60]
Theo số liệu của UNFPA, hiện có khoảng hơn 500 triệu trẻ em gái đang sinh sống tại các nước đang phát triển Trong số đó có hàng triệu trẻ em gái phải lập gia đình khi còn nhỏ tuổi; phải mang thai và sinh con khi các em chưa thực sự trưởng thành về mặt thể chất, tình cảm và chưa đủ trưởng thành về mặt xã hội để sẵn sàng làm mẹ Cụ thể, trên toàn cầu, cứ 3 nữ thanh niên trong độ tuổi từ 20-24 thì có 1 người (tương đương với khoảng 70 triệu người) kết hôn trước lần sinh nhật thứ 18 Nếu xu hướng hiện nay không được cải thiện, trong vòng một thập kỷ tới sẽ có 142 triệu trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18 (tính tới thời điểm năm 2020) Điều này có nghĩa là mỗi năm sẽ có 14,2 triệu trẻ em gái, hay mỗi ngày sẽ có 39 ngàn trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18 Bên cạnh đó, hàng năm có khoảng 16 triệu em gái tuổi từ 15-19 sinh con và cứ 10 trẻ vị thành niên thuộc nhóm này thì có 9 vị thành niên đã lập gia đình Khu vực châu Phi thuộc tiểu vùng
Sa mạc Shahara là nơi có tỷ lệ sinh ở tuổi VTN cao nhất với 120 trẻ/1.000 trẻ VTN trong độ tuổi từ 13 - 19 Ở khu vực châu Mỹ Latin và vùng Caribbean, tỷ lệ sinh con ở tuổi VTN vẫn ở mức cao và chỉ mới bắt đầu giảm gần đây Tương tự, số lượng bà mẹ sinh con ở tuổi VTN tại các nước ở khu vực Đông Nam Á hiện vẫn rất cao [73], [74]
Đáng lưu tâm là các biến chứng khi mang thai và khi sinh tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ cho các em gái tuổi từ 15-19 ở các nước
có thu nhập thấp và thu nhập trung bình Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỷ lệ thương tật và tử vong do nạo thai không an toàn ở trẻ em gái VTN và
nữ thanh niên trẻ cao; ước tính năm 2008 số ca nạo thai không an toàn ở vị thành niên trong độ tuổi từ 15-19 tại các nước đang phát triển là khoảng 3 triệu ca; thai chết lưu và tử vong sơ sinh chiếm hơn 50% các ca sinh của các bà mẹ dưới 20 tuổi
so với những bà mẹ từ 20 - 29 tuổi…[69]
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2310 Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở VTN Việt Nam ngày càng sớm Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn rất hạn chế - chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên Theo các chuyên gia y tế-dân số, với con số mang thai vị thành niên và nạo hút thai nêu trên, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi VTN cao nhất Đông Nam Á
và đứng thứ 5 trên thế giới Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số nước ta, mà đáng lưu tâm hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước [12]
Tỷ suất sinh ở lứa tuổi vị thành niên dao động khá lớn giữa các khu vực: 115/1000 phụ nữ ở Tây Phi; 64/1000 phụ nữ ở khu vực Mỹ Latin, khu vực Đông Nam Á là 45/1000 phụ nữ và Đông Á chỉ là 7/1000 phụ nữ Sự khác biệt này cho thấy, dù tỷ suất sinh toàn cầu của lứa tuổi vị thành niên đã giảm (từ 65/1000 phụ nữ năm 1990 xuống còn 47/1000 phụ nữ năm 2015) nhưng đây vẫn là một vấn đề rất đáng quan tâm [58], [59]
Mang thai và sinh con sớm ở lứa tuổi này không chỉ dẫn đến nguy cơ cho những đứa trẻ mà nó còn ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của các nữ vị thành niên Các bà mẹ ở lứa tuổi từ 10 đến 19 phải đối diện với nguy cơ tiền sản giật, viêm nội mạc tử cung, nhiễm khuẩn huyết cao hơn so với các phụ nữ ở lứa tuổi từ 20 đến 24 Hơn nữa, nhu cầu về tình cảm, tâm lý và xã hội đối với các nữ vị thành niên mang thai cũng cao hơn so với phụ nữ ở các lứa tuổi khác Bên cạnh vấn đề mang thai sớm, mỗi năm, có khoảng 3,9 triệu nữ giới trong độ tuổi 15 đến 19 nạo phá thai không an toàn [56] Nên biết rằng, 8% nguyên nhân tử vong thai kỳ ở phụ nữ là do nạo phá thai Đối với vị thành niên, nguy cơ này càng nguy hiểm hơn vì các em có
xu hướng tìm đến các cơ sơ nạo phá thai không an toàn và khi có các triệu chứng
về sức khỏe sau khi nạo phá thai, các em cũng sợ sệt, trì hoãn việc đến các cơ sở y
tế vì lo lắng Điều này càng làm tăng nguy cơ tử vong, ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản của các em sau này [73]
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2411
* Vấn đề các bệnh lây qua đường tình dục và HIV/AIDS
QHTD sớm, QHTD trước hôn nhân, QHTD không được bảo vệ là nguy cơ làm tăng các viêm nhiễm bộ phận sinh dục, lây truyền qua đường tình dục Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới thì hàng năm có trên 250 triệu người mới bị bệnh lây truyền qua đường tình dục mà tỷ lệ cao nhất là ở tuổi 20-24, thứ hai là tuổi 15-19 Theo số liệu của WHO trên thế giới có khoảng 1/20 vị thành niên nhiễm các BLTQĐTD mỗi năm
Một vấn đề sức khỏe quan trọng khác ở lứa tuổi vị thành niên đó là HIV/AIDS Theo thống kê của WHO, năm 2017 có khoảng 1,8 triệu trẻ vị thành niên mắc HIV trên toàn cầu, chiếm 5% tổng số người nhiễm HIV Tuy nhiên, vị thành niên mới nhiễm HIV lại chiếm tới 16% số người trẻ mới mắc HIV [60], [61], [76]
Từ năm 2010 đến 2015, số trẻ vị thành niên từ 10 đến 14 tuổi tử vong liên quan đến AIDS đã giảm (còn khoảng 20,000 ca vào năm 2015), nhưng số vị thành niên từ 15 đến 19 tuổi chết liên quan đến AIDS lại tăng lên tới 20,800 ca vào năm
2015 Trên thực tế, nhóm tuổi vị thành niên là nhóm duy nhất có tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS không giảm trong khoảng từ năm 2000 đến 2015, ngược lại, nó còn tăng lên gấp đôi trong khoảng thời gian này [63]
* Các nguy cơ về sức khỏe và hậu quả về kinh tế, xã hội của vấn đề thai nghén và
sinh đẻ ở tuổi vị thành niên
Thai nghén và sinh đẻ ở VTN hầu như không có chuẩn bị, do vậy các biến chứng và tai biến do thai nghén ở VTN cao hơn nhiều tuổi trên 20 dù có chồng hay không Tỷ lệ tử vong ở bà mẹ VTN cao hơn 1,5 lần so với nhóm tuổi 20-29 Tử vong sơ sinh cũng rất cao trong những bà mẹ VTN hơn 30% cho những phụ nữ 15-19 tuổi Đẻ non, sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu cũng như thai kém phát triển trong tử cung cũng chiếm tỷ lệ cao hơn [9]
Ngoài tác động xấu của thai nghén đến sức khỏe, nữ VTN có thai ngoài ý muốn còn có những hậu quả về kinh tế, xã hội Thai nghén sớm dưới 20 tuổi làm hạn chế khả năng học tập và nguy cơ khó kiếm việc làm thích hợp Xã hội phải chi trả các dịch vụ về y tế, xã hội, trợ cấp khó khăn cho cả mẹ và con Các vấn đề tệ
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2512 nạn xã hội cũng tăng cao như mại dâm, ma túy Sinh đẻ ở độ tuổi VTN làm tốc độ tăng dân số nhanh hơn
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Theo các chuyên gia y tế - dân số, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi VTN cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số nước ta, mà đáng lưu tâm hơn là nó
để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước Ngày nay, thanh thiếu niên có thể dễ dàng tiếp cận với các thông tin đa chiều
về giới tính và sức khỏe sinh sản (SKSS) qua các kênh như: truyền hình, sách báo, băng đĩa, radio, internet Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho biết, tỷ lệ tuổi vị thành niên mang thai ở nước ta những năm gần đây có xu hướng giảm dần
dù vẫn tương đối cao Tỷ lệ này các năm 2010, 2014 và 2015 lần lượt là 3,24%, 2,78% và 2,66% [1], [2] Tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2009, tỷ lệ VTN có thai chiếm 4% trong số các trường hợp có thai Đây không chỉ là gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số, mà đáng lưu tâm hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước
Tỷ lệ phá thai cũng tương tự Thống kê của Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em năm
2010 cả nước có 470.000 ca phá thai, trong đó hơn 9.000 ca vị thành niên.Năm
2015 có hơn 5.500 ca vị thành niên trong số gần 280.000 ca phá thai Hơn 42.000 trường hợp vị thành niên sinh năm 2015, chiếm hơn 3,5% tổng ca đẻ trong năm Đây chỉ mới là con số được thống kê từ hệ thống y tế công, chưa kể từ các cơ sở y
tế tư nhân Con số thực tế do đó cao hơn rất nhiều [1]
Mang thai ngoài ý muốn dẫn đến nạo phá thai, tảo hôn, kết hôn cận huyết là vấn đề lớn mà trẻ vị thành niên nước ta đang phải đối mặt Tỷ lệ nữ giới tuổi 10-19 hiện chiếm khoảng 15% dân số, tương đương 14 triệu trẻ vị thành niên [1]
Tại Việt Nam, thực tế đang chứng kiến nhiều trẻ vị thành niên mang thai và thậm chí là sinh con ở tuổi 12-13 [1]
Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình VN, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2613 sinh, sinh viên Mặc dù tỉ lệ nạo phá thai ở VN trong 10 năm trở lại đây giảm, nhưng
tỉ lệ nạo phá thai ở trẻ vị thành niên, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng - chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai [8]
Cụ thể, theo báo cáo của Bệnh viện Phụ sản trung ương tại một cuộc hội thảo được tổ chức mới đây, thực trạng phá thai to ở trẻ vị thành niên chiếm tỉ lệ khá cao, hơn 10% trong tổng số ca phá thai Các trường hợp phá thai to trên gặp nhiều nhất ở đối tượng học sinh, sinh viên Còn theo báo cáo của Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP.HCM năm 2012, cứ 100 trường hợp trẻ sinh ra sống có 73 trường hợp nạo phá thai, trong đó 2,4% là của trẻ vị thành niên Điều đáng lưu ý, đây mới chỉ là thống kê từ các bệnh viện khu vực nhà nước, còn số liệu từ các bệnh viện tư, phòng khám tư thì không thống kê được [8]
Theo một kết quả điều tra gần đây của Bộ Y tế, có tới 300.000 trường hợp có thai ở độ tuổi dưới 20 và có đến 37,5% số trường hợp nạo phá thai là trẻ VTN Như vậy, một tỷ lệ rất lớn đối tượng VTN không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan
hệ tình dục, đây chính là nguyên nhân quan trọng và cũng chính là nguy cơ dẫn đến tình trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nguy cơ lây nhiễm HIV ngày càng tăng [5]
Theo tác giả của Trần Minh Hậu về “Kiến thức, thái độ, thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản” có tới 92,9% VTN hiểu đúng QHTD không an toàn là quan hệ không dùng các biện pháp bảo vệ Về hậu quả của việc QHTD ở tuổi VTN vẫn còn 13,0% cho rằng không có vấn đề gì Chỉ có 47,9% VTN hiểu rằng QHTD có thể gây ảnh hưởng tới học tập, 58,7% biết có thể mắc bệnh LTQĐTD Hậu quả khi QHTD làm bạn gái có thể mang thai được 82,7% VTN biết đến [40]
Biện pháp tránh thai được VTN biết nhiều nhất là thuốc tránh thai (92,7%)
và BCS (95,8%), 82,1% VTN biết tác dụng phòng bệnh LTQĐTD của BCS, 88,1% biết tác dụng tránh thai tạm thời của viên tránh thai, 88,8% biết các BPTT từ internet 20% VTN hiểu đúng thời điểm dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh, 58,4% biết khi có thai kinh nguyệt, 6,9% cho rằng nạo hút thai ở tuổi VTN không để lại
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2714 hậu quả gì Có đến 6,2 – 8,8% hiểu sai về bệnh LTQĐTD, 81,4% - 93,1% biết HIV
và giang mai lây qua đường tình dục, 92,9% biết dùng BCS có thể phòng được bệnh LTQĐTD [9]
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Hải Vân về “Kiến thức và thái độ của học sinh Trung học phổ thông huyện Hoài Đức, Hà Nội về chăm sóc sức khỏe sinh sản
vị thành niên” cho kết quả:73,1% học sinh biết ít nhất một biện pháp tránh thai (BPTT), chỉ có 13,7% biết thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt dễ mang thai nhất và 67,0% biết rằng bạn gái có thể mang thai dù chỉ quan hệ một lần Tỷ lệ học sinh không chấp nhận việc có thai trước hôn nhân và quan hệ tình dục trước hôn nhân khá cao (91,0% và 82,0%) [46].Trong nghiên cứu này, tác giả cũng phát hiện ra một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về dậy thì, kiến thức về mang thai và BPTT của học sinh THPT Hoài Đức bao gồm: khối lớp, kết quả học tập, trình độ học vấn của bố và giới của học sinh Các yếu tố về giới tính, việc sống chung với bố mẹ có ảnh hưởng đến thái độ của học sinh về việc QHTD trước hôn nhân của học sinh
Theo tác giả Trần Minh Hậu có đến 70,4% VTN quan tâm đến vấn đề SKSS, 62,7% lo lắng nếu mắc bệnh LQĐTD, 93,1% đồng ý sử dụng các BPTT trong QHTD, 60,4% phản đối QHTD ở tuổi VTN [40]
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Bích Hồi và cộng sự về “Kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trường Trung học phổ thông Ngô Sĩ Liên tỉnh Bắc Giang năm 2015” cho thấy: 76,3% học sinh có kiến thức về quan hệ tình dục an toàn, nhưng một số vẫn còn hiểu sai về khái niệm an toàn Có 93,9% học sinh có nghe tới các biện pháp tránh thai, nhiều nhất là bao cao su (98,8%) và thuốc tránh thai khẩn cấp (86,9%) nhưng hiểu biết về các biện pháp tránh thai này còn hạn chế 15,7% em không biết nguyên nhân có thai ngoài ý muốn và 16,8% em không biết
về tai biến do nạo hút thai [39].Với các bệnh LTQĐT, hầu hết các em đều nghe tới
ít nhất một bệnh trong đó HIV/AIDS chiếm tỉ lệ cao nhất 93,9% Đa số các em nghe tới ít nhất một bệnh lây truyền qua đường tình dục đều có hiểu biết về biểu hiện bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nữ trong đó tỉ lệ hiểu biết của các em nữ đều cao hơn nam Tỷ lệ các em biết biểu hiện “ra khí hư bất thường” chiếm cao
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2815 nhất với 57% (nữ 59,1%, nam 54,9%) Có 62,1% học sinh đạt kiến thức chung về sức khỏe sinh sản ở vị thành niên [39]
Tình dục an toàn ở lứa tuổi vị thành niên, không chỉ giúp tránh mang thai ngoài ý muốn, mà còn giúp phòng tránh các bệnh LTQĐTD Xu hướng hiện nay VTN dậy thì sớm hơn, xu hướng xây dựng gia đình muộn hơn Mặt khác nhiều tác động có tính kích dục trên thông tin đại chúng làm cho vấn đề QHTD trước hôn nhân có chiều hướng gia tăng hơn trước Vì thế, cần chú trọng phòng bệnh LTQĐTD ở lứa tuổi này, đặc biệt là phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Kết quả điều tra mô tả cắt ngang 300 VTN về kiến thức về bệnh LTQĐTD
và HIV/AIDS của vị thành niên trên địa bàn huyện Kiến Xương-Thái Bình năm
2012 của Nguyễn Đức Thanh cho thấy: phần lớn VTN cho rằng nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD do sinh hoạt tình dục với người mắc bệnh mà không dùng bao cao
su (63,0%) Tỷ lệ lớn nhất VTN biết hậu quả bệnh LTQĐTD là làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV (66,3%); còn có 23,3% số VTN được hỏi không biết hậu quả nào của bệnh LTQĐTD Tỷ lệ VTN biết lây nhiễm HIV qua đường tình dục, đường máu và mẹ truyền cho con chiếm tỷ lệ cao (trên 90%) Còn tới 16% số VTN có nhận đinh sai rằng có thể nhận biết người nhiễm HIV thông qua hình dáng bề ngoài
và lối sống của họ Tỷ lệ VTN biết cách phòng lây nhiễm HIV chưa cao, cao nhất
là tỷ lệ biết không dùng chung bơm kim tiêm mới chỉ chiếm 69,7%; còn tới 9% số VTN không biết cách nào để phòng lây nhiễm HIV [26]
Nghiên cứu “Thái độ đối với HIV/AIDS, hiểu biết về nguồn cung cấp thông tin và nơi điều trị HIV/AIDS của học sinh trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Đức Thanh trên đối tượng là học sinh THPT huyện Thái Thụy cho thấy: thái độ của học sinh đối với người nhiễm HIV/AIDS chưa thực sự tích cực Mới chỉ có 48,4% học sinh có thái độ tìm cách chia sẻ và giúp đỡ, còn tỷ lệ khá cao học sinh có thái
độ xa lánh người nhiễm HIV/AIDS (7,4%), nông thôn cao hơn thành thị (8,6% so với 6,2%) Tỷ lệ học sinh biết về cơ sở y tế nhà nước cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS khá cao (91,7%); tuy nhiên tỷ lệ học sinh không biết nơi nào cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS còn
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 2916 khá cao (2,6%), nông thôn cao hơn thành thị (2,9% so với 2,3%) Tỷ lệ học sinh cho biết địa chỉ xét nghiệm HIV là Trung tâm phòng chống HIV/AIDS cao (75,1%), Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh (48,0%), Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh (43,8%) [27]
Kết quả từ cuộc điều tra cắt ngang trên 768 học sinh trung học phổ thông tại địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2013 của Nguyễn Đức Thanh và Đỗ Duy Bình cho thấy: hầu hết các đối tượng đều nghe về bệnh LTQĐTD Cụ thể, tỷ lệ nghe về các bệnh HIV/AIDS đạt đến 99,0%; các bệnh khác như lậu, giang mai cũng đạt trên 80% Về các biện pháp phòng chống bệnh LTQĐTD, các học sinh biết nhiều nhất
về biện pháp sử dụng bao cao su với 96,0% Tỷ lệ học sinh biết hậu quả của bệnh LTQĐTD làm tăng nguy cơ lâu nhiễm HIV cao đạt 82,6% Tỷ lệ học sinh biết các hậu quả khác thấp hơn như lây nhiễm sang trẻ sơ sinh (74,6%), vô sinh (62,5%) …
Về nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD, 79,0% học sinh biết là do sinh hoạt tình dục với nhiều người mà không dùng các biện pháp bảo vệ Tỷ lệ học sinh cho biết dịch vụ khám chữa bệnh LTQĐTD là cơ sở y tế nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất (89,1%), tiếp theo là phòng khám tư nhân: 8,5% [26]
Về vấn đề nạo phá thai, ở lứa tuổi vị thành niên nước ta chiếm đến 20% tỷ lệ nạo phá thai chung của phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi [7]
Nguyên nhân của vấn đề này có liên quan nhiều đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân Theo SAVY2, có 7,6% đối tượng được điều tra trả lời đã có hoạt động tình dục trước hôn nhân Tuy nhiên, tỷ lệ nạo phá thai theo SAVY 2 chỉ có 7,2% từng nạo hút Số liệu này có nhiều khác biệt so với các số liệu của các cuộc điều tra trước và sau đó, nguyên nhân được giải thích một phần do bản chất tế nhị của câu hỏi, một phần do việc lựa chọn các đối tượng – đa phần là các phụ nữ trẻ mới cưới, mong muốn có con cùng với đó, việc cung cấp thông tin cũng là vấn đề nhạy cảm [7]
Có thể thấy, vấn đề nạo phá thai ở vị thành niên đang tăng cao và là một vấn
đề vô cùng nhức nhối Do đó, tăng cường quan tâm đến vấn đề truyền thông, giáo dục SKSS cho lứa tuổi này là cần thiết để góp phần giảm thiểu tình trạng trên
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 309 tuổi.Khi điều tra về việc có sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên, có 50% VTN dùng BPTT trong lần QHTD đầu tiên, 33,3% không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên Sự khác biệt giữa nam và nữ về sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 [47]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 375 học sinh THPT Ngô Sĩ Liên, tỉnh Bắc Giang, cho thấy có mối liên quan giữa giới khối lớp với kiến thức chung của học sinh về SKSS Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự khác biệt giữa các yếu tố học lực, sống cùng bố mẹ, có người yêu chưa với kiến thức chung về SKSS không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05) [28]
Kết quả nghiên cứu trên 500 học sinh khối lớp 7,8,9 năm 2016, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính 47,8% học sinh có kiến thức chung đạt Trong đó, 30,3% học sinh có hiểu biết đúng về tình dục an toàn, 37,2% có kiến thức đúng về dấu hiệu dậy thì của nam và 39,8% có kiến thức đúng về dấu hiệu dậy thì của nữ 42,2% học sinh có thái độ tích cực với SKSS VTN, 83% học sinh có nhu cầu được cung cấp thêm thông tin về SKSS VTN Một
số yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, thái độ về SKSS VTN của học sinh gồm nguồn cung cấp thông tin, người học sinh trao đổi thông tin, bố mẹ chủ động trao đổi thông tin Nghiên cứu tìm ra mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về SKSS VTN Những học sinh có kiến thức chưa đạt về SKSS có nguy cơ có thái độ thiếu tích cực cao gấp 4,2 lần học sinh có kiến thức đạt [21]
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3118 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS VTN của học sinh THPT tại tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được thực hiện năm 2015 với phương pháp mô tả cắt ngang trên 1434 học sinh THPT trên địa bàntỉnh Thừa Thiên - Huế, sử dụng bộ công cụ được thiết kế bao gồm các câu hỏi về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến chăm sóc SKSS VTN và phân tích hồi quytuyến tính xác định yếu tố liên quan Kết quả cho thấy 13,0% có kiến thức tốt; 67,0% có thái độ tốt và 73,2% có thực hành tốt về về SKSS VTN Có mối liên quan có ýnghĩa thống kê giữa: kiến thức và khu vực, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn của mẹ, thái độ và giới tính, thực hành và khu vực, giới tính, thái độ Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất tăng cường các chương trình, chính sách và phương tiện truyền thông để giúp cho các em nhận thức đầy đủ hơn [42]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 500 học sinh của 3 trường THPT công lập tại Huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2014 nhằm tìm hiểu kiến thức và thái độ của học sinh THPT trong chăm sóc SKSS và một số yếu tố ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy 89,0% học sinh biết ít nhất một dấu hiệu dậy thì, 73,1% biết ít nhất một biện pháp tránh thai, chỉ có 13,7% biết thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt dễ mang thai nhất và 67,0% biết rằng bạn gái có thể mang thai dù chỉ quan
hệ một lần Tỷ lệ học sinh không chấp nhận việc có thai trước hôn nhân và QHTD trước hôn nhân khá cao (91,0% và 82,0%) [46]
Trong năm 2001, theo thống kê của Bộ Y tế, có tới 60% người nhiễm HIV trong độ tuổi dưới 30 và 10% trong độ tuổi từ 13 – 19 Đây thực sự là những con số đáng báo động và cần nhận được sự quan tâm tâm gắt gao hơn của các cấp lãnh đạo cũng như cộng đồng xã hội [6]
1.4 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
1.4.1 Một số đặc điểm huyện Thái Thụy
Huyện Thái Thụy là một huyện ven biển, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình Phía Bắc giáp Hải Phòng; Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ; Phía Nam giáp huyện Kiến Xương, Tiền Hải; Phía Tây giáp huyện Đông Hưng, Quỳnh Phụ Tổng diện tích đất tự nhiên 256,83 Km2(bao gồm cả diện tích bãi triều) Dân số khoảng
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3219 28.980 người, mật độ dân số đông (trung bình khoảng 1090 người/ Km2 ) gấp 4 lần bình quân chung của cả nước Trong đó, số trẻ em ở độ tuổi VTN và TN là chiếm 21.280 người chiếm gần 8% dân số của toàn huyện Theo báo cáo của Trung tâm Dân số trong 6 tháng đầu năm có 25 bà mẹ sinh con ở dưới tuổi 20, có 03 trường hợp nạo phá thai dưới 18 tuổi Trường hợp nạo phá thai của VTN là vấn đề nhạy cảm và thường bị giấu diếm nên rất khó thống kê
Có 49 trường THCS trên địa bàn huyện Thái Thụy Trường THCS Thụy Xuân là trường có bề dày truyền thống và số lượng học sinh đông, đáp ứng đủ nhu cầu nghiên cứu, chính vì vậy trường THCS Thụy Xuân được chọn làm địa điểm nghiên cứu
1.4.2 Đặc điểm Trường trung học cơ sở Thụy Xuân
Trường trung học cơ sở Thụy Xuân là trường trọng điểm nằm phía ven biển, giáp danh nhiều địa bàn tỉnh khác với khối lượng dân cư đông đúc Địa bàn tuyển sinh của trường gồm các xã ven biển và vùng giáp ranh từ các huyện khác, hầu hết các xã thuộc phía Tây sông Trà lý
Với mô hình hoạt động trường chất lượng cao, 100% đội ngũ giáo viên tốt nghiệp Đại học trong đó hơn 30% có trình độ Thạc sĩ, một nhà giáo ưu tú Là những giáo viên giỏi, có năng lực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi, du học quốc tế; phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, có phong cách ứng xử thân thiện với học sinh và phụ huynh học sinh Nhưng lại chưa có giáo viên giảng dạy chuyên ngành giáo dục giới tính cho học sinh
Định kỳ hàng năm, nhà trường chủ động phối kết hợp với Đoàn thanh niên, Trung tâm học tập cộng đồng, Trung tâm Y tế huyện mở các lớp truyên thông, tư vấn cho các em học sinh về các chuyên đề chăm sóc sức khỏe sinh sản vào các buổi học ngoại khoá (01 buổi/1 năm) của nhà trường và nhà trường cũng lồng ghép vào các môn học Sinh học, môn Giáo dục công dân nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên và thanh niên
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3320
1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu
- Mối liên quan tới kiến thức của học sinh về chăm sóc SKSS VTN
- Kiến thức về hiểu biết đặc điểm dậy thì
- Kỹ năng chăm sóc cơ thể dậy thì
- Kiến thức hiểu biết về các biện pháp tránh thai
- Kiến thức hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Mối liên quan tới thái độ của học sinh về chăm sóc SKSS VTN
- Thái độ có ngại khi nói
chuyện hoặc hỏi người thân, bạn bè về lĩnh vực SKSS VTN
- Thái độ có quan tâm đến các thông tin về chăm sóc SKSSVTN
- Địa điểm học sinh biết về nơi cung cấp bao cao su
- Mối liên quan tới thực hành của học sinh về chăm sóc SKSS VTN
- Thực hành của học sinh về cách sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp nhất với vị thành niên
- Số học sinh trong năm vừa qua đã đi khám bệnh định kỳ liên quan tới SKSS VTN
- Địa điểm học sinh biết về nơi cung cấp bao cao su
- Địa điểm học sinh đi khám bệnh liên quan đến SKSS
- Nguồn thông tin về kiến thức chăm sóc SKSS học sinh được tiếp cận
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN HỌC SINH TRƯỜNG THCS THỤY XUÂN, THÁI THỤY, THÁI BÌNH
Trang 3421
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh nam, nữ vị thành niên khối lớp 6,7,8,9 tương đương với độ tuổi từ 12-15 tại trường THCS Thụy Xuân
* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
- Học sinh đang theo học tại trường THCS Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Có khả năng đọc, hiểu, tự điền vào bộ câu hỏi
- Được sự cho phép của Ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh và các
em học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng
- Số học sinh không đồng ý tham gia phỏng vấn
- Số học sinh vắng mặt trong thời gian phỏng vấn do ghỉ học, hoặc do điền sai phiếu phỏng vấn
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trường THCS Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 05/2020 đến tháng 11/2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Dịch tễ học với
thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu
Cỡ mẫu cho điều tra được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3522 Trong đó:
n : Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
- Z1 − / 2: Là hệ số tin cậy, ở ngưỡng xác xuất 95% ( α= 0,05)→ Z1 − / 2=1,96
- p: là ước đoán tỷ lệ học sinh THCS có kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe sinh sản p=0,62
- d: Sai số tuyệt đối, Sai số tuyệt đối chấp nhận được Lấy d = 0,047
➔ Kết quả n=410, (trên thực tế nghiên cứu có 417 em học sinh tham gia)
- Tiến hành phát vấn thứ tự theo danh sách đã chọn/lớp trong các khối lớp học
- Do một số em không tham gia vào cuộc trả lời phỏng vấn bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và một số em nghỉ học nên số phiếu phỏng vấn thu về được tổng 417 phiếu
2.3 Phương pháp thu thập thông tin
2.3.1 Công cụ thu thập thông tin
- Bộ câu hỏi có cấu trúc dành cho học sinh trung học cơ sở về kiến thức, thái
Tên khối Số học sinh Số lớp
Trang 3623
độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh Trường THCS Thụy Xuân (phụ lục 2)
2.3.2 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi đã được đã được thiết kế sẵn:
2.3.3 Cấu trúc bộ câu hỏi
- Đặc điểm chung của đối tượng: 10 câu hỏi (C1 đến C10) nhằm thu thập các thông tin chung về đối tượng phỏng vấn như giới tính, khối học, gia đình bạn đang ở xã nào của huyện, bạn theo đạo gì và hiện giờ bạn sống với ai?
- Kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên: 17 câu hỏi (C11 đến C27) nhằm đánh giá kiến thức cũng như các nội dung liên quan của các em học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên như; độ tuổi vị thành niên, trong chu kỳ kinh nguyệt, thời điểm nào dễ có thai nhất, làm mẹ quá trẻ dẫn đến hậu quả gì, nạo phá thai gây nguy hiểm gì và phá thai ở nơi nào là an toàn nhất, những biện pháp tránh thai, các bệnh lấy qua đường tình dục,…
- Thái độ về sức khỏe sinh sản vị thành niên: 17 câu hỏi (C28 đến C36) nhằm đánh giá thái độ cũng như thực hành về CSSKSS vị thành niên như; bạn có ngại khi nói chuyện hoặc hỏi người thân, bạn bè về lĩnh vực SKSS VTN không, bạn có thường xuyên quan tâm đến thông tin về chăm sóc SKSS không, đâu là nguồn
- Thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên: 10 câu hỏi (C37 đến C46) nhằm đánh giá thái độ cũng như thực hành về CSSKSS vị thành niên như; bạn có biết cách sử dụng bao cao su hay không; tác dụng của sử dụng BCS là gì; có biết cách thay băng vệ sinh khi bị kinh nguyệt ở nữ; có biết vệ sinh bộ phận sinh dục ở nam(nữ) khi tuổi dậy thì; biết cách phát hiện một số bệnh hay gặp ở VTN; biết các
cơ sở y tế cung cấp dịch vụ khám sức khỏe phù hợp với VTN…
2.3.4.Qui trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu
* Điều tra viên
Với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu viên kết hợp với 02 cán bộ Trung
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3724 tâm Y tế huyện Thái Thụy và 02 thành viên của lớp thạc sĩ Y tế công cộng khóa 7.2 Các cộng sự tham gia nghiên cứu này sẽ được tập huấn kỹ về nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra, các kỹ năng tiếp cận và phỏng vấn để đảm bảo độ chính xác cao Những người này có những thuận lợi trong việc giải thích, tiếp cận địa chỉ với đối tượng nghiên cứu
* Tiến hành thu thập thông tin
- Liên hệ với Ban giám hiệu Trường THCS Thụy Xuân đặt lịch để thực hiện phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi tự điền
- Thực hiện phỏng vấn theo trình tự các bước:
Bước 1: Thử nghiệm bộ câu hỏi
Bộ câu hỏi điều tra sẽ được thử nghiệm tại thực địa trước khi tiến hành nghiên cứu, kiểm tra mức dễ hiểu của các khái niệm dùng trong bộ phiếu thông qua trao đổi với một số đối tượng nghiên cứu, thay đổi và chỉnh sửa phù hợp sau khi thử nghiệm
Bước 2: Thống nhất kế hoạch thu thập thông tin
Xây dựng kế hoạch với Ban giám hiệu và thầy cô giáo trường THCS Thụy Xuân, cỡ mẫu, phương pháp và cách thức lựa chọn và đề nghị sự phối hợp thực hiện của nhà trường Liên hệ với trường trung học cơ sở đã chọn về kế hoạch triển khai thu thập số liệu
Bước 3: Tập huấn giám sát viên
Ngoài 2 nghiên cứu viên chính chúng tôi có sử dụng thêm một số cộng sự phòng Dân số - TTGDSK – trung tâm Y tế huyện Thái Thụy tham gia vào công tác giám sát điền phiếu điều tra định lượng Các nghiên cứu viên này được tập huấn một buổi về các khái niệm sử dụng trong bộ câu hỏi, những lưu ý của nghiên cứu
để có thể giải đáp thắc mắc liên quan đến nội dung phiếu hỏi của học sinh trong khi điền phiếu Các giám sát viên cũng được thống nhất về cách thức tiến hành thu thập thông tin và các yêu cầu của nghiên cứu trong khi thực hiện thu thập thông tin
Bước 4: Thu thập thông tin và giám sát
- Nghiên cứu viên giới thiệu bản thân, giới thiệu về nghiên cứu và lợi ích đối
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3825 với đối tượng tham gia vào nghiên cứu Giới thiệu bộ câu hỏi tự điền và phát giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
- Có 12 lớp học sinh được dự kiến sẽ đưa vào nghiên cứu định lượng do đó chúng tôi tiến hành thu thập thông tin định lượng trong một ngày với mỗi buổi một nửa số lớp
- Thời gian trả lời cho phiếu hỏi khoảng 30 phút
- Nghiên cứu viên giám sát quá trình trả lời điền phiếu của học sinh, tránh nhìn nhau, điền hộ…để đảm bảo tính riêng tư và khách quan trong câu trả lời của học sinh
Bước 5: Tổng hợp phiếu trả lời
- Sau khi đối tượng nghiên cứu hoàn thành bộ câu hỏi tự điền, điều tra viên kiểm tra phiếu và nêu các em bỏ sót đề nghị đối tượng nghiên cứu giúp hoàn thiện phiếu
- Sau đó, tổng hợp, kiểm tra lại phiếu trả lời thu được qua bộ câu hỏi phát vấn
Sơ đồ nghiên cứu
Lập danh sách đối tượng và đánh số thứ tự
Tiến hành giải thích từ ngữ, thuật ngữ và hướng dẫn trả
lời câu hỏi
Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
Hoàn thiện và tổng hợp thông tin đã thu thập
Báo cáo số liệu đã phân tích và đánh giá
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 3926
2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
2.4.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Phương pháp thu thập
- Tuổi - Biến rời rạc
-Tỷ lệ đối tượng phân theo tuổi: Tính theo năm dương lịch (tuổi gồm 4 nhóm tuổi 12,13,14,15)
Phỏng vấn trực tiếp
- Giới - Biến nhị
phân -Tỷ lệ giới tính (nam, nữ)
- Khối - Biến rời rạc -Tỷ lệ đối tượng phân theo
khối lớp học (khối 6,7,8,9)
- Trình độ văn hóa của Bố(mẹ) học sinh
đại học)
- Số con thứ mấy
trong gia đình - Biến rời rạc
-Tỷ lệ số con trong gia đình (Con thứ nhất; Con thứ hai; Con thứ ba; Con
thứ tư; là con thứ 5 trở lên)
-Tình trạng hôn nhân của Bố (mẹ) học sinh
-Biến thứ hạng
- Tỷ lệ tình trạng hôn nhân của bố, mẹ (Có vợ /chồng;
Li dị/li thân; Góa)
-Nghề nghiệp của -Biến danh -Tỷ lệ nghề nghiệp của
Luận án Y tế cộng đồng
Trang 40-Biến danh mục
-Tỷ lệ có kiến thức về tuổi
dậy thì
Phỏng vấn trực tiếp
- Kỹ năng chăm sóc
cơ thể dậy thì
-Biến nhị phân
-Tỷ lệ có kiến thức về CS
cơ thể khi dậy thì
- Kiến thức hiểu biết
về các biện pháp tránh thai
-Biến nhị phân
-Tỷ lệ có kiến thức về biện pháp tránh thai
- Kiến thức hiểu biết
về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
-Biến nhị phân
-Tỷ lệ có kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của đối tượng nghiên cứu
biến số
Cách thu thập
- Tuổi
- Giới
- Khối lớp
- Số người trong gia đình
- Tình trạng hôn nhân của bố mẹ
- Trình độ học vấn của bố mẹ
- Nghề nghiệp của bố mẹ
- Thu nhập bình quân đầu người
Biến độc lập/Đầu vào
Tính OR (CI95%),
p
Luận án Y tế cộng đồng