1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN STUART MILL TRONG TÁC PHẨM THUYẾT CÔNG LỢI

11 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Về Đạo Đức Của John Stuart Mill Trong Tác Phẩm Thuyết Công Lợi
Tác giả TS. Nguyễn Ánh Hồng Minh
Trường học Trường Đại Học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 243,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

John Stuart Mill (viết tắt là J.S. Mill) (1806 – 1873) là triết gia người Anh. Cha ông là James Mill – cũng là một triết gia, đồng thời là nhà sử học, kinh tế học người gốc Scotland. Từ rất sớm, J.S. Mill đã bộc lộ rõ tài năng của mình, phần vì có tư chất, phần vì nhận được sự giáo dục hết sức nghiêm khắc từ cha ông. Năm 13 tuổi, J.S. Mill đã có được kiến thức tương đương với chương trình đại học dù ông không đến trường, tất cả đều là nhờ tự học dưới sự hướng dẫn của cha. James Mill đã chuẩn bị cho con trai mình một chương trình giáo dục đầy đủ và không kém phần nặng nề do chịu ảnh hưởng từ quan niệm của John Locke (1632 – 1704) nên cho rằng cần phải bắt đầu viết vào “tấm bảng trắng” của cậu con trai càng sớm càng tốt và ông chính là người có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời John Stuart Mill. Cũng chính khoảng thời gian này, James Mill gặp gỡ và làm quen với Jeremy Bentham (1748 – 1832) – một người theo thuyết công lợi, sau trở thành người thầy, người bạn tâm giao về tư tưởng với James. Chính Bentham là người đầu tiên đề nghị James rằng J.S. Mill cần phải được giáo dục để trở thành người tiếp nối dẫn đường cho chủ nghĩa kinh nghiệm, thuyết liên tưởng và thuyết công lợi. Đây quả là một kỳ vọng không hề nhỏ. Bởi vậy, J.S.Mill đã làm quen với tư tưởng công lợi từ rất sớm. Năm 15 tuổi, J.S. Mill đã đọc tác phẩm của Bentham nói về thuyết công lợi và kể từ đây, ông không bao giờ từ bỏ nguyên tắc hạnh phúc cực đại. J.S. Mill tự nhận mình là người bảo vệ và truyền bá cho chủ nghĩa công lợi. Một trong những bước đi đầu tiên của ông đối với công việc này là thành lập một nhóm những người cùng chí hướng hội họp với nhau tại một căn phòng bỏ trống tại nhà Bentham và ông gọi tên nhóm là “Hội những người theo thuyết công lợi”. Nhóm này đã duy trì họp định kỳ hai tuần một lần trong ba năm.

Trang 1

QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN STUART MILL

TRONG TÁC PHẨM THUYẾT CÔNG LỢI

TS Nguyễn Ánh Hồng Minh

John Stuart Mill (viết tắt là J.S Mill) (1806 – 1873) là triết gia người Anh Cha ông là James Mill – cũng là một triết gia, đồng thời là nhà sử học, kinh tế học người gốc Scotland Từ rất sớm, J.S Mill đã bộc lộ rõ tài năng của mình, phần vì có tư chất, phần vì nhận được sự giáo dục hết sức nghiêm khắc từ cha ông Năm 13 tuổi, J.S Mill đã có được kiến thức tương đương với chương trình đại học dù ông không đến trường, tất cả đều là nhờ tự học dưới sự hướng dẫn của cha James Mill đã chuẩn bị cho con trai mình một chương trình giáo dục đầy đủ và không kém phần nặng nề do chịu ảnh hưởng

từ quan niệm của John Locke (1632 – 1704) nên cho rằng cần phải bắt đầu viết vào “tấm bảng trắng” của cậu con trai càng sớm càng tốt và ông chính là người có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời John Stuart Mill Cũng chính khoảng thời gian này, James Mill gặp gỡ và làm quen với Jeremy Bentham (1748 – 1832) – một người theo thuyết công lợi, sau trở thành người thầy, người bạn tâm giao về tư tưởng với James Chính Bentham là người đầu tiên

đề nghị James rằng J.S Mill cần phải được giáo dục để trở thành người tiếp nối dẫn đường cho chủ nghĩa kinh nghiệm, thuyết liên tưởng và thuyết công lợi Đây quả là một kỳ vọng không hề nhỏ Bởi vậy, J.S.Mill đã làm quen với

tư tưởng công lợi từ rất sớm Năm 15 tuổi, J.S Mill đã đọc tác phẩm của Bentham nói về thuyết công lợi và kể từ đây, ông không bao giờ từ bỏ nguyên tắc hạnh phúc cực đại J.S Mill tự nhận mình là người bảo vệ và truyền bá cho chủ nghĩa công lợi Một trong những bước đi đầu tiên của ông đối với công việc này là thành lập một nhóm những người cùng chí hướng hội họp với nhau tại một căn phòng bỏ trống tại nhà Bentham và ông gọi tên nhóm là

Trang 2

“Hội những người theo thuyết công lợi” Nhóm này đã duy trì họp định kỳ hai tuần một lần trong ba năm

Bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ 19, J.S Mill ngày càng phê phán nhiều hơn những gì mà ông gọi là “học thuyết về bản chất con người của

Bentham” Hai bài báo Nhận xét về triết học của Bentham (1833) và Bentham

(1838) là những đóng góp quan trọng đầu tiên vào việc phát triển thuyết công

lợi của J.S Mill Tác phẩm Thuyết công lợi là tác phẩm quan trọng nhất của

J.S Mill về đạo đức công lợi Mục tiêu của tác phẩm này là truyền bá những

tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa công lợi trong phạm vi ảnh hưởng có thể, trong

đó, có quan niệm của John Stuart Mill về khoái lạc, hạnh phúc và lương tâm nhưng một phần không thể thiếu để hiểu được trọn vẹn nguyên tắc đạo đức công lợi của ông

*

1 Quan niệm của J.S Mill về khoái lạc

Nói về chủ nghĩa công lợi, trường phái này xem nguyên tắc công lợi, hay còn gọi là nguyên tắc hạnh phúc cực đại là nền tảng của lý luận Nguyên

tắc đó cho rằng: “Một hành động là đúng nếu thúc đẩy hạnh phúc, là sai nếu

có xu hướng tạo ra cái đối lập với hạnh phúc” Hạnh phúc ở đây được hiểu là khoái lạc và không có khổ đau, ngược lại, bất hạnh chính là khổ đau và thiếu thốn khoái lạc Theo thuyết công lợi, cuộc sống không có mục đích nào cao

hơn khoái lạc Khoái lạc là khách thể tốt nhất và cao quý nhất để khát khao và theo đuổi Bentham thậm chí còn phủ nhận các niềm vui tâm linh, xem chúng

là những khoái lạc giả tạo, khẳng định khoái lạc thể xác là điều tốt đẹp nhất

có thể đạt được trong cuộc sống và mục tiêu duy nhất con người hướng đến là mưu cầu khoái lạc

Trong Thuyết công lợi, J.S Mill dùng từ “pleasure” để chỉ niềm vui hay

sự khoái lạc Cho đến tận ngày nay, khi nhắc đến khoái lạc nhiều người vẫn thường nghĩ ngay đến những vui sướng đơn thuần về thể xác thậm chí còn theo chiều hướng tiêu cực J.S Mill cho rằng người chỉ trích thuyết công lợi

Trang 3

cũng theo nhiều chiều hướng khác nhau: có phía cho rằng tính công lợi đối chọi với khoái lạc, nhưng phe khác lại quy mọi thứ liên quan đến thuyết công lợi về khoái lạc Tuy nhiên, những ai ít nhiều biết về thuyết công lợi đều thấy

từ Epicurus đến Bentham - những triết gia nổi tiếng của chủ nghĩa công lợi - đều hiểu tính hữu ích (utility) không hề đối chọi với khoái lạc và bản thân khoái lạc luôn đồng hành cùng tự do ngay kể cả trong sự đau khổ; và những người này luôn tuyên bố rằng tính hữu dụng (usefulness) bao gồm cả sự vui sướng, hài lòng hay niềm hãnh diện chứ không hề đối lập với những điều này J.S Mill chỉ ra có rất nhiều người, gồm cả những tác gia viết sách, báo đã sai lầm khi suy nghĩ một cách nông cạn rằng họ có thể nắm bắt được thuật ngữ

“thuyết công lợi” trong khi chả biết một tí gì về nó ngoại trừ tên gọi của nó Sai lầm lớn nhất của họ là đã đồng nhất khoái lạc (pleasure) với một vài dạng

cụ thể của nó như cái đẹp, niềm vinh hạnh và cả sự tiêu khiển, giải trí

Để đánh giá chất lượng của một khoái lạc, J.S Mill đưa ra tiêu chuẩn

mà ông gọi là “ý kiến của chuyên gia khoái lạc” - tức là, nếu cần chọn lựa một trong hai thú vui, khoái lạc nào đó thì quyết định đúng đắn sẽ thuộc về người đã từng có kinh nghiệm về cả hai thú vui ấy Trong tình huống cả hai đều có kinh nghiệm về hai thú vui ấy và bất đồng với nhau trong quá trình lựa chọn thì lời phán xét cuối cùng phải thuộc về người khôn ngoan và từng trải hơn bởi vì theo Mill, người này có thể đưa ra quyết định chính xác và đúng đắn hơn Ông viết: “Những người từng trải qua và có khả năng đánh giá cả hai thú vui một cách công bằng đều đưa ra một quyết định lựa chọn đáng trân trọng về thái độ đón nhận những gì tác động đến phần nhân tính - phẩm chất cao nhất bên trong tâm hồn mình Rất ít người cam tâm hạ thấp phẩm giá của mình xuống hàng thú vật chỉ để thỏa mãn những khoái lạc hạ đẳng Để hạnh phúc, người cao quý đòi hỏi những nhu cầu cao hơn và khả năng chịu đựng của họ cũng phải cao hơn Tuy nhiên, bất chấp những đòi hỏi ấy, hẳn anh ta

Trang 4

chẳng bao giờ ao ước muốn chìm đắm trong một đời sống mà anh ta cho rằng nhơ nhuốc và hạ cấp”1

Như Epicurus phân biệt rõ ràng khoái lạc nói chung với khoái lạc cụ thể Ông coi khoái lạc là hạnh phúc đầu tiên, mang tính bẩm sinh của con người, nhưng đó không phải là khoái lạc đơn thuần như ta vẫn hiểu là sự thỏa mãn ham muốn Epicurus tuy không coi thường những khoái lạc thể xác nhưng ông nhấn mạnh, quá đề cao những thú vui thể xác là không hợp tự nhiên và là con đường chắc chắn nhất dẫn tới bất hạnh và đau khổ Vì một số thú vui thể xác không bao giờ thỏa mãn được hoàn toàn và nếu con người cố gắng chiều theo chúng, họ sẽ không bao giờ thấy đủ và do vậy sẽ luôn thấy

đau khổ Người khôn ngoan, ngược lại, có thể ấn định cái tối thiểu họ cần và

có thể thỏa mãn nhanh chóng nhu cầu đó và họ giữ được trạng thái cân bằng

Bởi vậy, theo Epicurus, khoái lạc tinh thần là cái cần hướng đến để có được

tự do, hạnh phúc và giúp con người có sự “vô ưu” (không suy nghĩ, dằn vặt) Epicurus cho rằng ta “vô ưu” không phải để hưởng thụ ít đi mà là để khi ta không có nhiều, thì ta có thể bằng lòng với cái ít ỏi Theo đó, J.S Mill cho rằng đánh giá và lựa chọn khoái lạc nào cao hơn, thú vui nào tốt hơn cần dựa vào cả lượng và chất

J.S Mill nhận thức rõ không thể so sánh nguồn gốc khoái lạc với loài người hay loài heo đều như nhau, vì khoái lạc của cầm thú không thể thỏa mãn khái niệm hạnh phúc của con người Con người có những năng lực tiến hóa hơn ham muốn của loài vật, sẵn sàng khước từ khoái lạc, hạnh phúc để trở nên cao quý hơn vì nhiều lí do như: con người có lòng tự trọng; họ không muốn biến thành con vật vì họ yêu tự do và độc lập cá nhân, yêu quyền lực, yêu sự sôi động và quan trọng nhất là họ ý thức về phẩm giá của mình Ý thức

về phẩm giá tỷ lệ thuận với các năng lực cao cấp của con người Những ai nghĩ rằng lí do con người không muốn trở thành con vật là vì họ phải hi sinh một phần hạnh phúc, hay ai đó giả định rằng con người không hạnh phúc hơn

1 Mill, John Stuart (1863), Utilitarianism, London: Parker, Son and Bourn, West Strand, pp 12-15

Trang 5

con vật khi được cùng đặt trong một tình huống giống nhau là đã lẫn lộn giữa hai khái niệm rất khác nhau là hạnh phúc và sự hài lòng Một điều hiển nhiên

là các sinh vật có năng lực thưởng thức càng thấp thì càng dễ dàng thỏa mãn nhu cầu của mình, còn các sinh vật cao cấp sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc mà

nó kiếm tìm trong thế giới thực tế là rất khó hoặc không hoàn hảo Nhưng sự không hoàn hảo đó không làm con người ghen tị với những loài vật không nhận thức được sự không hoàn hảo, vì: “Thà là một con người không thỏa nguyện còn hơn là một con heo khoái lạc; thà là một Socrates thất cơ lỡ vận còn hơn là làm một kẻ ngốc đắc chí Và nếu như kẻ dốt nát hay con heo bất đồng với ý kiến nói trên cũng chỉ bởi vì họ chỉ biết đến mặt phải của vấn đề khoái lạc Những người biết cả hai mặt của vấn đề ấy mới có được một cái nhìn so sánh chính xác ”2

J.S Mill cũng chỉ ra một số ý kiến phản đối nói rằng nhiều người có khả năng thưởng thức những khoái lạc cấp cao hơn nhưng thỉnh thoảng bị ảnh hưởng bởi sự cám dỗ lại tạm thời bỏ qua chúng để đến với những khoái lạc cấp thấp hơn Nhưng ông cho rằng điều này hoàn toàn tương thích với việc nhận thức đầy đủ sự ưu việt nội tại của các khoái lạc cấp cao hơn Do sự yếu đuối trong tính cách, con người thường lựa chọn những khoái lạc gần gũi mình hơn, dù biết nó ít giá trị hơn, dù đó là sự lựa chọn giữa hai khoái lạc thể xác hay lựa chọn giữa một khoái lạc thể xác và một khoái lạc tinh thần Ví dụ như có người theo đuổi khoái lạc thể xác như ruợu, thuốc lá, chất gây nghiện, v.v nó cho họ sự phấn khích, khoái lạc và niềm vui thú trong khoảnh khắc đó đến mức họ bỏ qua tác hại đối với sức khỏe, dù biết rõ rằng sức khỏe là cái thiện cao hơn, nhưng dường như nó còn một khoảng cách xa để bị bào mòn, nên con người vẫn chọn khoái lạc trước mắt, ở gần mình hơn

Với những người phản đối bằng cách đưa ra ví dụ rằng nhiều người khi còn trẻ đầy hoài bão tốt đẹp, nhưng khi trưởng thành lại trở nên lười biếng và ích kỷ, thì J.S Mill cho rằng ông không tin sự thay đổi từ khoái lạc cao cấp

2 Mill, John Stuart (1863), Utilitarianism, London: Parker, Son and Bourn, West Strand, pg.14

Trang 6

xuống khoái lạc cấp thấp này là do những người đó tự nguyện lựa chọn Con người mất đi nhưng khát vọng cao quý khi họ mất đi sự yêu thích dành cho khoái lạc trí tuệ, đúng hơn là họ không còn khả năng thưởng thức những khoái lạc này, vì thế, họ buông mình say mê những khoái lạc cấp thấp, không

vì họ chủ tâm thích chúng mà bởi vì đó là những khoái lạc duy nhất họ có thể tiếp cận hoặc cảm thụ Một câu hỏi J.S Mill đặt ra là: liệu người có khả năng cảm nhận hai đẳng cấp khoái lạc như nhau lại có lúc nào đó chủ động ưa thích các khoái lạc cấp thấp hơn, thực tế nhiều người - ở mọi lứa tuổi – đã thất bại trong việc cố gắng phối hợp hai loại khoái lạc Trên thực tế, giảng viên Micheal Sandel đã làm một thí nghiệm nhỏ về sự lựa chọn với các sinh viên của mình, ông đặt ra câu hỏi về hai loại hình nghệ thuật: phim hoạt hình Gia đình Simpsons và kịch Shakespeare, bạn thích thú vui nào hơn và thấy cái nào

có giá trị hơn? Phần lớn sinh viên đều thích xem phim Gia đình Simpsons hơn, nhưng họ vẫn cho rằng kịch Shakespeare có giá trị cao hơn Thực tế, Mill vẫn chưa phản hồi một cách thỏa đáng với những ý kiến phản đối vừa nêu Nhưng J.S Mill có khẳng định mục đích của việc lựa chọn khoái lạc không phải để thỏa mãn ham muốn của bản thân mà nó còn hướng tới mục tiêu tối cao của cuộc sống là hạnh phúc và hoàn thiện về phẩm giá

2 Quan niệm của J.S Mill về hạnh phúc

J.S Mill giải thích về nguyên tắc hạnh phúc cực đại như sau: “Tiêu chuẩn của thuyết công lợi không phải là hạnh phúc cực đại cho bản thân chủ thể hành động, mà là hạnh phúc cực đại của tất cả mọi người Nhiều người

nghi ngại một tính cách cao cả chưa chắc đã đem lại hạnh phúc cho chủ thể nhiều bằng một tính cách không được cao cả cho lắm Nhưng không ai có thể phủ nhận là một tính cách cao cả sẽ làm cho những người khác hạnh phúc hơn

và thế giới nói chung là bên hưởng lợi Thuyết công lợi, do đó theo J.S Mill, chỉ có thể đạt được mục đích bằng cách nuôi dưỡng sự cao cả của tính cách trong tất cả mọi người, thậm chí nếu mỗi cá nhân chỉ được hưởng lợi từ sự

Trang 7

cao cả của những người khác còn bản thân chịu thiệt nhiều do chính sự cao cả của mình”3

Như vậy, mục đích tối hậu của cuộc sống là sự tồn tại càng ít đau khổ

và càng nhiều khoái lạc, niềm vui thú càng tốt Tất cả những gì liên quan đến mục đích tối hậu này đều đáng được khao khát Sự kiểm chứng chất lượng và quy luật so sánh chất lượng với số lượng là sự ưa thích được thực hiện bởi những người có cơ hội, có khả năng kiểm nghiệm, có thói quen tự giác, tự quan sát và được cung cấp phương tiện để so sánh Theo quan điểm của J.S Mill, mục đích tối hậu là mục đích của hành động, cũng là tiêu chuẩn của luân

lý, là mệnh lệnh đối với hành động Tiêu chuẩn đạo đức được định nghĩa trên

cơ sở đó Mill phản đối cách Bentham tính hạnh phúc số đông chỉ dựa trên số lượng Vì trên thực tế, nếu các giá trị có lợi gộp lại thành tổng số hạnh phúc cực đại là tương đối dễ hiểu, thì trong trường hợp khi cá nhân cần hy sinh hạnh phúc vì phẩm giá đạo đức, vì hạnh phúc của số đông, liệu họ có cần chấp nhận lấy đi tính mạng của số ít để đổi lại hạnh phúc của số đông hay không? Đó là một vấn đề gây tranh cãi khi những người phản đối thuyết công lợi căn cứ vào đó để kết luận rằng thuyết công lợi không tôn trọng quyền cá nhân con người Vậy, Mill sẽ giải quyết vấn đề hạnh phúc như thế nào giữa cá nhân, thiểu số và số đông?

Những người phản đối thuyết công lợi cho rằng, hạnh phúc dù ở bất kì hình thức nào cũng không thể là mục tiêu mà con người hướng đến trong đời sống và hành động của mình, bởi vì, thứ nhất, họ cho rằng trên thực tế, hạnh phúc là thứ không thể đạt được, và họ sẽ hỏi một cách đầy hoài nghi rằng:

“Có đúng là nhà mi hạnh phúc không?”4 Tiếp theo, họ nói rằng con người có thể làm mọi thứ mà không cần đến hạnh phúc Những người này sẽ đi đến gốc

rễ của vấn đề, theo đó, nếu con người không thể có được hạnh phúc thì việc đạt được nó không thể là mục đích của luân lý, hoặc của bất kì sự chỉ đạo lí trí

3 Mill, John Stuart (1863), Utilitarianism, London: Parker, Son and Bourn, West Strand, pp 16

4 Mill, John Stuart (1863), Utilitarianism, London: Parker, Son and Bourn, West Strand, pp 17

Trang 8

nào Tuy vậy, ngay cả trong trường hợp con người không thể có hạnh phúc thì vẫn còn một vài điều mà thuyết công lợi vẫn phải trình bày bởi vì thuyết công lợi không chỉ gồm việc mưu cầu hạnh phúc mà còn cả sự ngăn ngừa, giảm bớt những bất hạnh; và nếu như những mục tiêu trước đây là ảo tưởng, thì rồi sẽ lại có những mục tiêu cao quý hơn và sự cần thiết cấp bách hơn cho sau này Trong bất kỳ sự đánh giá nào, điều này sẽ luôn đúng, ít nhất là tới khi nhân loại vẫn nghĩ rằng nó phù hợp với cuộc sống của mình Tuy nhiên, khi một người khẳng định rằng “Cuộc đời con người không thể nào có hạnh phúc” thì tuyên bố này nếu không phải một lối chơi chữ, ngụy biện thì chí ít cũng đã cường điệu và thổi phồng vấn đề Bởi nếu “hạnh phúc” được đặt theo nghĩa

“một trạng thái sự phấn khích vui vẻ cao độ liên tục” thì hiển nhiên hạnh phúc

là không thể có được Trạng thái khoái lạc cao quý chỉ kéo dài trong khoảnh khắc, hoặc trong một vài trường hợp gián đoạn – có thể là một vài giờ hoặc nhiều ngày, mỗi một trải nghiệm là “ánh sáng rực rỡ của niềm thích thú lóe lên trong giây lát” chỉ thỉnh thoảng mới có được chứ không phải là ngọn lửa đều đặn, vĩnh cửu “Hạnh phúc” mà J.S Mill hiểu không phải là trạng thái sung sướng vô tận, nhưng một cuộc đời chứa đựng một vài khoảnh khắc vui sướng tột cùng, một chút ít những nỗi đau ngắn ngủi, và rất nhiều niềm vui khác nhau; cuộc sống linh hoạt nhiều hơn là thụ động; chúng ta không thể trông đợi những điều vượt quá khả năng mà cuộc sống có thể mang lại

Trong chương 2 của Thuyết công lợi, J.S Mill đưa ra hai yêu cầu cơ bản của hạnh phúc: một là phải có sự dạy dỗ về mặt tinh thần; hai là không được ích

kỷ

Đáp lại những người cho rằng con người có thể làm mọi thứ mà không cần quan tâm đến hạnh phúc, J.S Mill cho rằng thực tế đúng là như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể làm mọi thứ mà không cần có hạnh phúc Trong suốt thế kỷ XIX, nhân loại đã bắt buộc phải làm những việc mà không nghĩ tới hạnh phúc như là kết quả cuối cùng, kể cả khi điều đó có thể làm cho một phần nhân loại hiện tại sẽ phải chìm đắm trong tình trạng dã man Điều đó

Trang 9

thường xảy ra khi một vị anh hùng hay kẻ tử vì đạo nào đó bỏ qua hạnh phúc

vì một mục tiêu nào đó mà anh ta cho là có giá trị hơn cả hạnh phúc cá nhân của mình Nhưng “mục tiêu nào đó” của vị anh hùng có thể là gì nếu không phải là vì hạnh phúc của những người khác? J.S Mill cho rằng thật đáng khâm phục khi ai đó dám nhường toàn bộ phần hạnh phúc của mình hoặc là

cơ hội để có được hạnh phúc vì hạnh phúc của người khác, nhưng không ai cam kết sẽ hi sinh bản thân mình chỉ đơn giản vì lí do là thích thế hay muốn làm thế cả, người đó sẽ phải có mục tiêu hay chủ tâm nào đó J.S Mill viết, một người nào đó có thể nói rằng: “Mục đích của một người khi quên mình,

hi sinh một điều gì đó của mình không phải vì hạnh phúc của nguời khá, mà

đó là đức hạnh, điều này còn cao quý hơn cả hạnh phúc”5

Đáp lại vấn đề này, J.S Mill đặt ra một câu hỏi: Liệu người anh hùng hay kẻ tử vì đạo có hi sinh quên mình nếu họ không tin rằng những người khác sẽ không phải chịu sự hi sinh tương tự? Hoặc nếu anh ta nghĩ rằng việc

hi sinh hạnh phúc của mình sẽ chẳng mang lại kết quả gì cho đồng loại của mình ngoại trừ việc khiến họ muốn cư xử giống như anh: tức là đặt họ vào vị thế của người luôn từ chối hạnh phúc Câu trả lời của J.S Mill là sự vinh danh lớn nhất dành cho những ai dám từ bỏ niềm vui cá nhân trong cuộc sống để làm những việc có ích giúp tăng thêm hạnh phúc cho thế giới, nhưng khi ai đó làm điều này hoặc là tự nhận đã làm vì bất kì mục đích nào thì không còn xứng đáng với sự ngưỡng mộ Những người như thế có thể là bằng chứng cổ

vũ mọi người về những gì mà con người có thể làm được nhưng tuyệt nhiên không phải là ví dụ tốt cho những gì họ nên làm

*

J.S Mill viết tác phẩm Thuyết công lợi nhằm bảo vệ học thuyết đạo đức

này trước những ý kiến công kích, phản đối, đặc biệt là những quan điểm hiểu sai lệch bản chất của thuyết công lợi cũng như gán cho nó những điều không

thuộc về nó Chính vì vậy, Thuyết công lợi là tác phẩm tâm huyết của J.S

5 Mill, John Stuart (1863), Utilitarianism, London: Parker, Son and Bourn, West Strand, pp 23

Trang 10

Mill Ông muốn mọi người nhìn nhận lại thuyết công lợi với đúng giá trị và vị thế mà nó xứng đáng nhận được Nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức của

ông được thể hiện rất rõ theo lô-gích trình bày của tác phẩm Thuyết công lợi:

Đầu tiên, ông luận giải cho việc mỗi một học thuyết đạo đức đều cần phải có một nguyên tắc đạo đức tối cao và thuyết công lợi cũng không phải ngoại lệ Sau đó, thông qua việc phản bác lại các luận điểm công kích, phản đối, J.S Mill làm rõ thuyết công lợi là gì, động cơ nào thúc đẩy mọi người tuân theo nguyên tắc công lợi, chứng minh cho sự tồn tại không thể chối cãi của nguyên tắc đó và khả năng áp dụng vào đời sống đặc biệt là trong mối quan hệ với công lý và pháp luật Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung trình bày quan niệm đạo đức của ông về khoái lạc và hạnh phúc với tư cách là mục tiêu của hành động./

Tóm tắt: John Stuart Mill (1806 – 1873) là triết gia người Anh và

thường được biết đến nhiều trong các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội; tuy nhiên, ông còn dành một phần không nhỏ trong cuộc đời mình để nghiên cứu đạo đức, đặc biệt là học thuyết công lợi Điều này được thể hiện trong tác phẩm nổi tiếng Thuyết công lợi của J.S Mill, trong đó, ông đã nêu ra quan niệm của mình về một số khái niệm tiêu biểu trong đạo đức học như một phần không thể thiếu của nguyên tắc công lợi Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích một số quan niệm đạo đức nổi bật của John Stuart Mill về khoái lạc và hạnh phúc

*

Ngày đăng: 04/01/2024, 22:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Trần Văn Phòng (2006), Triết học Hy Lạp cổ đại, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Hy Lạp cổ đại
Tác giả: Trần Văn Phòng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
2) Richard David Precht (2012), Tôi là ai – và nếu vậy thì bao nhiêu, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi là ai – và nếu vậy thì bao nhiêu
Tác giả: Richard David Precht
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2012
3) Micheal Sandel (2013), Phải trái đúng sai, NXB Trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải trái đúng sai
Tác giả: Micheal Sandel
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2013
4) Francisco Vergara (2013), Đạo đức trong kinh tế, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức trong kinh tế
Tác giả: Francisco Vergara
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2013
5) Mill, John Stuart (1863), Utilitarianism, London: Parker, Son and Bourn, West Strand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Utilitarianism
6) Brown, D. G. (1973), “What is Mill’s Principle of Utility?”, in: Canadian Journal of Philosophy 3 (1), pp. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is Mill’s Principle of Utility?”, in: "Canadian Journal of Philosophy
Tác giả: Brown, D. G
Năm: 1973

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w