Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận công tác pháp chế tại doanh nghiệp Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện công tác pháp chế tại Tổng công ty Điện lực miền Bắc để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế nhằm phát huy các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm. Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giải quyết tổ chức thực hiện công tác pháp chế tại Tổng công ty Điện lực miền Bắc
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn thạc sĩ là trung thực và chưatừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả ký và ghi rõ họ tên
Trịnh Tuyết Mai
Trang 2LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Lê Thị Hương đã chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận
văn thạc sĩ một cách tốt nhất
Tôi trân trọng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, các giảng viên, các lãnh đạoHọc viện Hành chính Quốc gia đã có những giúp đỡ, đóng góp chân tìnhtrong suốt thời gian tôi tham gia học tập tại trường, đặc biệt là trong giai đoạnlàm luận văn thạc sĩ
Tôi cũng rất biết ơn và xin gửi lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo và toàn thểcán bộ công nhân viên tại Tổng Công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi tìm hiểu, thu thập tài liệu, số liệu báo cáo phục vụcho nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu luận văn còn nhiều vướng mắc, lý luận cònhạn chế không tránh khỏi những sai sót, kinh nghiệm và tầm nhìn còn non nớtmong các thầy, cô giáo xem xét Tôi rất mong được sự quan tâm, đóng góp ýkiến của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2023
Tác giả luận văn
Trịnh Tuyết Mai
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 7
1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhà nước 7
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhà nước 8
1.2 Khái quát chung về tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước.13 1.2.1 Khái niệm, phân loại tổ chức pháp chế 13
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước 14
1.2.3 Vai trò của tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước 16
1.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước 17
1.3.1 Cơ cấu tổ chức 17
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước 20
1.4.1 Yếu tố chính trị 20
1.4.2 Yếu tố kinh tế 26
Trang 41.4.3 Yếu tố pháp luật 26
1.4.4 Yếu tố nguồn nhân lực 28
Kết luận chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN PHÁP CHẾ TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC 30
2.1 Khái quát về Tổng Công ty Điện lực miền Bắc 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc 30
2.1.2 Đặc điểm ngành nghề và quy mô quản lý 32
2.2 Thực tiễn tổ chức và hoạt động công tác của Ban pháp chế Tổng công ty Điện lực miền Bắc 42
2.2.1 Thực tiễn tổ chức Ban pháp chế Tổng công ty Điện lực miền Bắc .42
2.2.2 Về xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về thực hiện công tác pháp chế tại EVNNPC 43
2.2.3 Về tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật về vai trò và công tác pháp chế cho CBCNV 63
2.2.4 Việc quản lý thực hiện công tác pháp chế tại EVNNPC 67
2.2.5 Triển khai chuyển đổi số trong công tác pháp chế tại EVNNPC 70 2.3 Nhận xét về Ban Pháp chế Tổng công ty Điện lực miền Bắc 80
2.3.1 Ưu điểm 80
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 82
Kết luận chương 2 84
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TẠI DOANH NHIỆP NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIỄN TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC 85
3.1 Quan điểm đổi mới tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước 85 3.2 Giải pháp đổi mới tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước 88
Trang 53.2.1 Hoàn thiện các văn bản QPPL nhằm cải thiện và nâng cao vai trò tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp nhà nước nói chung và
EVNNPC nói riêng 88
3.2.2 Tăng cường sự chỉ đạo và sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước và của Lãnh đạo EVN và EVNNPC 88
3.2.3 Kiện toàn cơ cấu tổ chức pháp chế và chất lượng cán bộ 96
3.2.4 Tăng cường công tác đào tạo và phổ biến pháp luật 99
3.2.5 Nâng cao công tác pháp chế thông qua chuyển đổi số 106
3.2.6 Áp dụng chuyển đổi số trong công tác pháp chế tại EVNNPC 106
Kết luận chương 3 108
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NPC Tổng Công ty điện lực Việt Nam Northern Power
CompanyVBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Danh mục các Quy chế, Quy định, Quy trình trong EVN 54
Bảng 2 2:Danh mục các Quy chế, Quy định, Quy trình trong EVNNPC 58
Bảng 3 1: Kế hoạch kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện pháp chế 94
Bảng 3 2: Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2024 103
Bảng 3 3: Kế hoạch và nội dung tập huấn pháp luật năm 2024 105
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2 1: Bộ máy tổ chức quản lý của Tổng Công ty điện lực miền Bắc 40Hình 2 2: Cuộc thi "Tìm hiểu pháp luật và quy chế quản lý nội bộ" trên Cổngthông tin pháp chế EVN 64Hình 2 3: Trang phần mềm pháp điển của EVNNPC 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Việt Nam hiện đang mở cửa để hội nhập sâu hơn vào nềnkinh tế toàn cầu Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương và chính quyền địaphương đang triển khai một số giải pháp nhằm thúc đẩy, kêu gọi, thu hút đầu
tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Do đó, hoạt động giao lưu, kinh doanh vàthương mại của doanh nghiệp ngày nay đã vượt ra khỏi phạm vi một địa điểmhay quốc gia, mà thay vào đó, chúng đã mở rộng sang nhiều quốc gia và khuvực trên toàn thế giới Điều này đặt ra những thách thức về rủi ro pháp lý, đặcbiệt là trong ngữ cảnh của luật pháp và quy tắc quốc tế, luôn ẩn chứa nhữngvấn đề cần được giải quyết và đề xuất các biện pháp ngăn chặn, hạn chế đểgiảm thiểu tổn thất phát sinh từ các hợp đồng và tranh chấp trong các giaodịch dân sự, thương mại và các giao dịch khác
Bộ phận pháp chế của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc
hỗ trợ người quản lý thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng Bộ phận pháp chếthực hiện việc thẩm định kỹ lưỡng các dự thảo thỏa thuận và hợp đồng hợptác, nhằm đảm bảo rằng mọi khía cạnh của chúng tuân thủ đầy đủ về mặtpháp luật và các quy định liên quan Bên cạnh đó, họ chịu trách nhiệm viết vàthẩm định các quy định quản lý, cũng như cập nhật thông tin về văn bản quyphạm pháp luật mới Ngoài ra, bộ phận này cung cấp dịch vụ tư vấn để hỗ trợnhững quyết định kinh doanh, dự báo tác động của giá cả và tình hình thịtrường, nhằm giảm thiểu rủi ro và tổn thất có thể xảy ra
Mục tiêu hàng đầu của việc thành lập bộ phận pháp chế trong tổ chức
và doanh nghiệp là đảm bảo rằng mọi hoạt động kinh doanh được triển khai
an toàn và tuân thủ đầy đủ quy định trong khuôn khổ của hệ thống pháp luật.Khi công ty đã có đội ngũ luật sư chất lượng, đặc biệt là trong các cuộc đàm
Trang 11phán với đối tác quốc tế, điều này giúp củng cố vị thế và uy tín của công ty.Điều này không chỉ thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật, mà còn khẳngđịnh sự minh bạch và tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, tạo ra một hìnhảnh đáng tin cậy trong cơ cấu thị trường và khiến công ty nổi bật khi hợp tác
và liên kết với các đối tác
Tổng Công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), doanh nghiệp hàng đầutrong lĩnh vực kinh doanh, phân phối điện, công nghệ thông tin, và sản xuấtcác lĩnh vực khác tại 27 tỉnh, thành phố phía Bắc EVNNPC không ngừng đổimới, phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo, bền bỉ đưa dòng điện đến cácvùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội,giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nước thực hiện trọn vẹn sứ mệnh “đitrước một bước”, xứng đáng với niềm tin của nhân dân và trọng trách Đảng
và Nhà nước giao phó góp phần cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)thực hiện tốt vai trò chủ đạo của một ngành kinh tế mũi nhọn trong nhiệm vụđảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia
Chính vì vậy, bộ phận pháp chế trong EVNNPC đóng vai trò quantrọng trong việc tham mưu cho lãnh đạo EVNNPC trong công tác quản lý, chỉđạo, điều hành công tác pháp luật và các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của EVNNPC
Nhận thức được tầm quan trọng của thực trạng tổ chức thực hiện công tácpháp chế tại Tổng công ty Điện lực miền Bắc, tác giả đã quyết định lựa chọn đề
tài “Tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp - thực tiễn Tổng công ty Điện lực
miền Bắc” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến các công trình nghiên cứu về tổ chức thực hiện công tácpháp chế đã có nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Trong đó, có một sốcông trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Trang 12Trong cuốn sách: “Pháp chế trong quản lý” của tác giả Trần QuangHiển, xuất bản năm 2017, Nhà xuất bản Hà Nội Cuốn sách giới thiệu một sốcâu hỏi lý luận về đảm bảo tính pháp lý trong quản lý; Kiểm soát hoạt độngcủa Quốc hội, Hội đồng nhân dân trong các vấn đề quản lý; hoạt động thanhtra, kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước trong vấn đề quản lý; Giảiquyết khiếu nại, tố cáo với cấp quản lý; tài phán hành chính trong các vấn đềquản lý; hoạt động kiểm tracủa Đảng, tổ chức xã hội và công dân trong quản
lý [7]
Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhànước” của tác giả Lê Khắc Công (2022), trường đại học Luật Nghiên cứu tậptrung vào cơ sở lý luận cơ bản về pháp luật liên quan đến tổ chức quản lýdoanh nghiệp nhà nước Đồng thời, ông đã phân tích và đánh giá các quy địnhpháp luật của Việt Nam về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước và đưa rađánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật này tại các ngân hàng thương mại [4]
Luận văn thạc sĩ: “Chế độ pháp lý về quản trị công ty cổ phần theo luậtdoanh nghiệp” của tác giả Trần Lương Đức (2022), trường Đại học Quốc gia
Hà Nội Tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về quản trị công ty cổphần: khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý và mô hình quản trị công ty cổ phầntrên thế giới [5] Ngoài ra, tác giả cũng phân tích các điểm mới trong quy định
về quản trị công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và đưa ra cáckiến nghị về phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Namliên quan đến cơ cấu tổ chức và cơ chế quản trị công ty cổ phần
Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về tổ chức quản lý DNNN và thực tiễn thihành ở Việt Nam” của tác giả Đinh Tuyết (2021) thực hiện tại Trường Đạihọc Luật Hà Nội Trong luận văn của mình, tác giả đã phân tích thực trạngthực hiện pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vàđưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả tuân thủ thực
Trang 13hiện về vấn đề này [11].
Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về cơ cấu tổ chức và quản lý DNNN” củatác giả Đặng Thị Mỹ Châu (2017) thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Luật(Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề
lý luận cơ bản về tổ chức doanh nghiệp, đổi mới DNNN và quản lý sự thayđổi trong điều kiện mới, cần vận dụng các quy định pháp luật hiện hành vàothực tiễn để nhận thức được lợi ích của việc thúc đẩy và hướng dẫn khắcphục những hạn chế, mâu thuẫn trong các văn bản quy phạm pháp luật có liênquan [2]
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Bình (2015) với đề tài: “Vai Trò Của TổChức Pháp Chế Trong Các Doanh Nghiệp Thuộc Tập Đoàn Công NghiệpThan - Khoáng Sản Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội,Việt Nam Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động của các tổ chức phápluật trong doanh nghiệp nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than khoángsản Việt Nam, với việc tìm ra ưu điểm, tồn tại, hạn chế cũng như nguyên nhângây ra những vấn đề này Dựa trên kết quả phân tích lý luận và thực tiễn, luận
án đề xuất 5 yêu cầu và 6 nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các tổchức pháp luật doanh nghiệp và vai trò của các tổ chức pháp luật nói chungtrong các công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Như vậy, có thể nói, hiện nay có khá ít đề tài nghiên cứu về thực hiệncông tác pháp chế trong doanh nghiệp Tuy nhiên, chưa có một công trình nàođánh giá một cách đầy đủ về tổ chức thực hiện công tác pháp chế tại Tổng
công ty Điện lực miền Bắc Khi thực hiện đề tài “Tổ chức pháp chế tại
Doanh nghiệp Nhà nước - từ thực tiễn Tổng công ty Điện lực miền Bắc”,
tác giả có kế thừa cơ sở lý luận của một số công trình trước đó, tuy nhiên đềtài này có nội dung mới và không trùng lắp với các công trình khoa học đãcông bố trước đây
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện mô hình, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của công tác pháp chếtrong EVNNPC
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận công tác pháp chế tại doanhnghiệp
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện công tác pháp chế tại Tổngcông ty Điện lực miền Bắc để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhâncủa hạn chế nhằm phát huy các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm
- Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giảiquyết tổ chức thực hiện công tác pháp chế tại Tổng công ty Điện lực miềnBắc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài công tác pháp chế tại Tổng công tyĐiện lực miền Bắc
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: phương pháp này được tác giả sử dụng để
Trang 15xem xét, đánh giá một cách cụ thể hoạt động pháp chế trong EVNNPC
- Phương pháp tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để khái quátnội dung của từng vấn đề trong luận văn, rút ra được những nhận xét, kết luậnmang tính tổng quan, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng hoạt động của hoạt động pháp chế trong EVNNPC
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh…Các phương pháp nghiên cứu này được sử dụng kết hợp với nhau nhằm mụcđích đảm bảo cho nội dung nghiên cứu của luận văn vừa có ý nghĩa lý luậnvừa mang ý nghĩa thực tiễn và khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài đã tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác pháp chếtrong doanh nghiệp nói chung và đánh giá thực trạng thực hiện công tác phápchế tại EVNPC nói riêng, qua đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuấtcác giải pháp để hoàn thiện công tác pháp chế tại EVNNPC
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những cán bộ công nhân viêntrực tiếp tham gia công tác pháp chế của các đơn vị trực thuộc EVNNPC, cácnhà lãnh đạo, quản lý các cấp Kết quả nghiên cứu đề tài là nguồn tư liệu cóthể tham khảo phục vụ cho sinh viên, học viên, các nhà khoa học quản lýtrong quá trình nghiên cứu về thực hiện công tác pháp chế tại các doanhnghiệp khác nhau
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về tổ chức pháp chế tại doanh nghiệpnhà nước
Chương 2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ban pháp chế TổngCông ty Điện lực miền Bắc
Trang 16Chương 3 Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức pháp chế tại doanhnhiệp nhà nước từ thực tiễn Tổng Công ty Điện lực miền Bắc
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TẠI DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhà nước
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Thuật ngữ "doanh nghiệp" được lần đầu tiên đưa vào văn kiện phápluật của Việt Nam qua Sắc lệnh số 104/SL ngày 1/1/1948 về doanh nghiệpnhà nước năm 1948 Từ đó, khái niệm này đã trở thành một phần quan trọngcủa hệ thống pháp luật kinh tế của đất nước Thuật ngữ này trở nên mơ hồtrong thời đại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mà thay vào đó, các thuậtngữ thường được sử dụng là xí nghiệp, chủ thể kinh tế, tổ chức kinh tế ViệtNam đã chứng kiến sự phát triển của nền kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa,trong bối cảnh có cơ chế thị trường và sự điều tiết từ phía nhà nước Thuậtngữ "doanh nghiệp" xuất hiện và được định nghĩa trong Luật Doanh nghiệpnăm 1999 khi nền kinh tế chuyển từ mô hình tập trung sang mô hình thịtrường và hàng hóa
Theo Luật Doanh nghiệp 1999, doanh nghiệp được định nghĩa là mộtpháp nhân được thành lập và đăng ký với mục đích thực hiện các hoạt độngkinh doanh Luật Doanh nghiệp 2020 đã cung cấp thêm chi tiết, xác địnhdoanh nghiệp là tổ chức được thành lập hoặc đăng ký theo quy định của phápluật, có tên, tài sản và trụ sở giao dịch riêng, với mục đích chính là thực hiệncác hoạt động kinh doanh Điều này thể hiện sự tiến bộ và điều chỉnh của hệ
Trang 17thống pháp luật nhằm phản ánh đúng bản chất và yêu cầu của nền kinh tếđang phát triển Doanh nghiệp có những đặc điểm như sau:
Thành lập và đăng ký kinh doanh theo thủ tục pháp lý cụ thể:Pháp luật quy định rõ ràng về các thủ tục liên quan đến việcthành lập và đăng ký doanh nghiệp, tùy thuộc vào loại hìnhdoanh nghiệp cụ thể
Được công nhận là pháp nhân: Doanh nghiệp được coi là mộtpháp nhân và có thể tham gia vào các giao dịch hợp pháp dướitên riêng của mình Nó cũng có quyền tham gia vào các trao đổi
và kiện tụng dân sự
Nhiệm vụ và chức năng chính là kinh doanh: Doanh nghiệp đượcphép thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như sản xuất, muabán, phân phối hàng hóa, dịch vụ với mục đích tạo ra lợi nhuận
và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quanquản lý cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các công ty
Dựa theo quy định tại Điều 1 Luật Doanh nghiệp 2020, hiện nay, có 04loại hình doanh nghiệp phổ biến tại Việt Nam
Công ty trách nhiệm hữu hạn;
Công ty cổ phần;
Công ty hợp danh;
Doanh nghiệp tư nhân
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhà nước
Ngoài Việt Nam, trên thế giới còn có nhiều nước quy định về các loạihình doanh nghiệp nhà nước nên cách hiểu pháp lý về thuật ngữ doanh nghiệpnhà nước ở mỗi nước cũng khác nhau Trước hết phải kể đến định nghĩa vềdoanh nghiệp nhà nước của Liên hợp quốc Thuật ngữ "doanh nghiệp nhà
Trang 18nước" được định nghĩa khác nhau tùy theo quốc gia và các tổ chức quốc tế,nhưng một số đặc điểm chung có thể được nhận biết.
Theo Liên hợp quốc, doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là nhữngdoanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ toàn bộ hoặc một phần cổ phần và kiểmsoát quyết định của chúng Ngân hàng Thế giới mô tả doanh nghiệp nhà nướcnhư một thực thể kinh tế do Chính phủ sở hữu hoặc kiểm soát, tạo ra thu nhậpchủ yếu thông qua việc bán hàng hóa và dịch vụ, thường hoạt động ngoài các
cơ quan và tổ chức chính phủ
Ở New Zealand, theo Đạo luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1986,doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là công ty trách nhiệm hữu hạn, doNhà nước là chủ sở hữu duy nhất và được đại diện bởi hai Bộ trưởng
Tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp 2020 xác định doanh nghiệp nhànước là công ty mà nhà nước sở hữu từ 50% vốn cổ phần trở lên, có thể tổchức dưới dạng công ty nhà nước, công ty cổ phần, hoặc công ty trách nhiệmhữu hạn.Doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trongnền kinh tế và có thể có một chủ sở hữu duy nhất (100% vốn), hoặc có nhiềuchủ sở hữu với tỷ lệ sở hữu chi phối lớn hơn 50% và nhỏ hơn 100%
Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước:
Chủ Đầu Tư: Chủ đầu tư của doanh nghiệp nhà nước có thể là Nhànước hoặc cả Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác
Chức năng chính là nhà đầu tư duy nhất, với quyền lực tuyệt đối quyếtđịnh về tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc hình thành, chuyển đổi, bố trí,
và giải thể doanh nghiệp
Sở Hữu Vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữuphần vốn góp chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ)
Trang 19 Hình Thức Tồn Tại: Doanh nghiệp nhà nước có nhiều hình thức tồn tạinhư doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty tráchnhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, và công ty nhà nước Nếu có100% vốn nhà nước, có thể tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau như
Tư Cách Pháp Lý: Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân
Luật Áp Dụng: Các doanh nghiệp nhà nước có thể chuyển đổi thànhcông ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, hoạt động theo luậtcông ty Các loại hình khác tuân theo quy định của luật công ty
Quy định Bổ Nhiệm Người Quản Lý
Nghị định số 69/2023/ND-CP quy định 9 điều kiện bổ nhiệm ngườiquản lý doanh nghiệp nhà nước, thay thế 7 điều kiện quy định tại Nghị định
Trang 20Nếu doanh nghiệp mới thành lập chưa phê duyệt phương án thì sẽ được
cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định
3 - Có hồ sơ, lý lịch cá nhân, bản kê khai tài sản, thu nhập theo quyđịnh
4 - Tuổi bổ nhiệm:
a) Người được bổ nhiệm lần đầu tiên vào vị trí quản lý hoặc vào vị tríquản lý cấp cao phải trong độ tuổi lao động trong thời gian được bổ nhiệm.Thời điểm tính tuổi lao động phụ thuộc vào quy định của cơ quan có thẩmquyền Những trường hợp đặc biệt sẽ được cơ quan có thẩm quyền xem xét,quyết định
b) Không tính tuổi bổ nhiệm các nhân sự được điều động, bổ nhiệm giữchức vụ mới tương đương hoặc thấp hơn chức vụ đang giữ, theo quy định tạiđiểm a
5 - Đảm bảo đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao
6 - Điều này không áp dụng nếu việc nắm giữ một vị trí bị pháp luậthoặc quy định cấm
7 - Không trong thời hạn kỷ luật nếu bị điều tra, truy tố, đưa ra xét xử.Trường hợp bị cơ quan có thẩm quyền thanh tra thì cơ quan có thẩm quyềnphải lấy ý kiến của cơ quan thanh tra, kiểm toán về nhân sự được bổ nhiệmtrước khi ra quyết định
8 - Đã giữ chức vụ hiện tại hoặc chức vụ tương đương ít nhất 02 năm(24 tháng) Nếu không liên tiếp, nó sẽ được tích lũy (chỉ tích lũy trong khoảngthời gian bạn giữ vị trí được đề cập) Những trường hợp đặc biệt sẽ được cơquan có thẩm quyền điều tra và xác định
9 - Người quản lý doanh nghiệp bị kỷ luật khi đang đương chức khôngđược đề nghị bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ cao hơn trong thời hạn do cơquan có thẩm quyền quyết định
Trang 21Phân loại doanh nghiệp nhà nước:
a) Theo Hình Thức Tổ Chức:
Công Ty Nhà Nước: Nhà nước sở hữu 100% vốn cổ phần Thành lập,quản lý, và tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp nhà nước độc lập vàcông ty nhà nước
Công Ty Cổ Phần Nhà Nước: Công ty cổ phần với tất cả cổ đông làcông ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền đầu tư vốn
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Nhà Nước Một Thành Viên: Nhà nước
sở hữu toàn bộ vốn điều lệ Tổ chức quản lý và đăng ký theo Luật DoanhNghiệp năm 2005
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Nhà Nước Hai Thành Viên Trở Lên:Công ty trách nhiệm hữu hạn với tất cả thành viên là công ty nhà nước hoặc
có thành viên là công ty nhà nước Thành viên được ủy quyền góp vốn và tổchức theo luật doanh nghiệp
Doanh Nghiệp Cổ Phần, Vốn Góp Chi Phối của Nhà Nước: Doanhnghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ.Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp
b) Dựa Theo Nguồn Vốn:
Loại 1: Doanh Nghiệp Nhà Nước 100% Vốn: Công ty nhà nước, công
ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên,công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên
Loại 2: Doanh Nghiệp Cổ, Vốn Góp Chi Phối của Nhà Nước: Công ty
cổ phần nhà nước mà nhà nước chiếm trên 50% cổ phiếu Công ty tráchnhiệm hữu hạn mà nhà nước chiếm trên 50% vốn góp
c) Dựa Theo Mô Hình Quản Lý:
Loại 1: DNNN có Hội Đồng Quản Trị: Hội đồng quản trị là cơ quan đạidiện trực tiếp cho chủ sở hữu nhà nước Chịu trách nhiệm trước nhà nước
Trang 22Loại 2: DNNN Không Có Hội Đồng Quản Trị: Giám đốc doanh nghiệpđược nhà nước bổ nhiệm hoặc thuê để điều hành hoạt động Quản lý theo quyđịnh của nhà nước.
1.2 Khái quát chung về tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước
1.2.1 Khái niệm, phân loại tổ chức pháp chế
Pháp chế là hệ quy định, mà theo đó, tất cả cơ quan Nhà nước, tổ chức
xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để vàchính xác [1] Hệ thống luật pháp cũng đồng thời đại diện cho quá trình sángtạo và thiết lập luật Mặc dù luật pháp và pháp chế có những đặc điểm khácbiệt, tuy nhiên, chúng vẫn hiện thực mối liên kết chặt chẽ Luật pháp chế thểhiện yêu cầu và đòi hỏi đối với các pháp nhân trong việc tuân thủ một cáchnghiêm túc và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật trong xã hội
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Vladimir Lenin đã phát triển quanđiểm chi tiết hơn về khái niệm Pháp chế xã hội chủ nghĩa Theo ông, Phápchế xã hội chủ nghĩa là một hệ thống đặc biệt trong đời sống chính trị-xã hội.Trong cộng đồng này, mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,đơn vị vũ trang nhân dân, công chức và cơ quan, tổ chức, công dân, tổ chức
và mọi công dân đều phải tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật một cáchnghiêm túc và triệt để Bất kỳ hành vi nào xâm phạm lợi ích của nhà nước,quyền lực và lợi ích của cộng đồng, cũng như của công dân, đều sẽ bị xử lýtheo quy định của pháp luật [2]
Các tổ chức pháp chế tại cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, và cơ quan thuộcChính phủ, đặc biệt là các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấptỉnh, là những đơn vị đặc biệt được giao nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ Bộtrưởng và lãnh đạo cơ quan tương ứng Chúng thực hiện quản lý nhà nướctheo quy định của pháp luật, đồng thời tổ chức thực hiện công việc pháp luật
Trang 23theo quy định tại Điều 2 của Nghị định 55/2011/ND-CP.Theo nhiệm vụ,quyền hạn của tổ chức pháp chế ta có thể phân loại như sau:
- Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ
- Tổ chức pháp chế ở cơ quan thuộc Chính phủ
- Tổ chức pháp chế ở Tổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ, cơ quanngang Bộ
- Tổ chức pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấptỉnh
- Tổ chức pháp chế ở doanh nghiệp nhà nước
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước
Điều 2 Nghị định 55/2011/NĐ-CP đã xác định rõ tổ chức pháp chế ởdoanh nghiệp nhà nước như một đơn vị chuyên môn Khoản 2 của điều nàynêu rõ tổ chức pháp chế có hai chức năng chính là tham mưu và tư vấn Cácđối tượng mà tổ chức pháp chế này thường xuyên tư vấn bao gồm Hội đồngthành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, và Giám đốcdoanh nghiệp Trọng tâm của thẩm quyền tư vấn nằm ở việc cung cấp thôngtin và đánh giá về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
Điều này chứng tỏ sự quan trọng của tổ chức pháp chế trong việc đảmbảo tính hợp pháp và tuân thủ pháp luật trong quá trình quản lý và điều hànhdoanh nghiệp nhà nước Bằng cách này, nghị định đã tạo ra một cơ sở hợppháp và tổ chức chặt chẽ để giúp doanh nghiệp nhà nước hoạt động một cáchhiệu quả và pháp lý
Đặc điểm tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước:
Phụ thuộc vào yêu cầu của công việc pháp chế, các cấp lãnh đạo trongdoanh nghiệp nhà nước, như Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội
Trang 24đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc, có thể quyết địnhthành lập tổ chức pháp chế hoặc bổ nhiệm nhân viên pháp chế chuyên trách.
Tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp nhà nước thực hiện hoạt độngdưới sự hướng dẫn chuyên môn và nghiệp vụ trong lĩnh vực công tác phápchế, đồng thời đối diện với sự chỉ đạo và quản lý về pháp chế từ Vụ Pháp chếthuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, và chịu sự giám sát về pháp chế từ Bộ Tư pháp
Đối với tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp nhà nước ở địa phương,chúng sẽ dưới sự quản lý và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vựccông tác pháp chế từ Sở Tư pháp Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của
sự hỗ trợ và giám sát cấp trên trong đảm bảo tính chính xác và tuân thủ củacác quy trình pháp chế tại cấp địa phương Điều này nhấn mạnh tầm quantrọng của việc tuân thủ và thực hiện đúng quy trình pháp chế ở cấp địaphương
Người làm công tác pháp chế trong DNNN bao gồm:
Công chức pháp chế
Được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các tổ chức pháp chế ở các Bộ, cơquan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủyban nhân dân cấp tỉnh Đây thường là những người có kiến thức sâu rộng vềlĩnh vực pháp chế và thường xuyên đảm nhận vai trò tư vấn pháp lý cho cáccấp lãnh đạo và quản lý
Cán bộ pháp chế trong quân đội và công an nhân dân
Được điều động và tuyển dụng vào tổ chức pháp chế tại các đơn vịquân đội nhân dân và công an nhân dân Những người này thường có chuyênmôn sâu về pháp luật quốc phòng và an ninh, đóng góp vào việc xây dựng vàduy trì hệ thống pháp chế trong lực lượng vũ trang và lực lượng công an
Viên chức pháp chế trong sự nghiệp công lập
Trang 25Được tuyển dụng và bổ nhiệm vào tổ chức pháp chế ở các đơn vị sựnghiệp công lập Các viên chức này thường chịu trách nhiệm về pháp lý trongcác lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, và các lĩnh vực khác của ngành cônglập.
Nhân viên pháp chế trong doanh nghiệp nhà nước
Được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng lao động vào tổ chức pháp chế
ở các doanh nghiệp nhà nước Các nhân viên pháp chế này thường tham giavào việc thực hiện và tuân thủ các quy định pháp lý trong quá trình hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
Đội ngũ này đảm bảo rằng mọi hoạt động trong doanh nghiệp nhà nướcdiễn ra đúng theo quy định pháp luật và đảm bảo tính minh bạch, công bằngtrong quản lý và vận hành
1.2.3 Vai trò của tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước
Vai trò quan trọng của bộ phận pháp chế trong doanh nghiệp là đảmbảo sự tuân thủ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong toàn bộcác hoạt động của doanh nghiệp Chúng đảm nhận nhiều nhiệm vụ, bao gồmquản lý các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường, quản lý tàichính và thuế, quản lý nhân sự, và các vấn đề liên quan đến an toàn lao động
Vai trò của bộ phận pháp chế còn bao gồm thực hiện vai trò tham mưu
và tư vấn cho các nhà quản lý trong việc soạn thảo, sửa đổi, bổ sung điều lệhiệp hội, xây dựng và công bố các quy chế kinh doanh Bộ phận này cũngđóng vai trò là đại diện cho chủ doanh nghiệp trong quá trình giải quyết cáctranh chấp và tham gia tố tụng theo ủy quyền của chủ doanh nghiệp, nhằmbảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người lao động
Quản trị rủi ro cũng là một khía cạnh quan trọng của vai trò của tổ chứcpháp chế Trong quá trình tham gia hoạt động kinh doanh trong môi trườnghội nhập kinh tế quốc tế, việc dự báo, đánh giá, và quản lý rủi ro đóng một vai
Trang 26trò không thể phủ nhận đối với sự bền vững và thành công của doanh nghiệp.Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp nắm bắt được những thách thức tiềm
ẩn mà còn tạo ra cơ hội tối ưu từ môi trường đa dạng và phức tạp
Quá trình dự báo rủi ro là cơ hội để doanh nghiệp nhìn xa trước, xácđịnh và đánh giá các yếu tố có thể tác động đến hoạt động kinh doanh trongtương lai Bằng cách này, doanh nghiệp có thể chuẩn bị cho những thay đổitiềm ẩn và áp đặt các biện pháp phòng ngừa
Với đội ngũ cán bộ pháp chế vững mạnh, doanh nghiệp có thể tự tinđàm phán với đối tác, đặc biệt là đối tác quốc tế, và đảm bảo rằng mọi hoạtđộng nội bộ và kinh doanh đều được bảo vệ một cách chặt chẽ theo quy địnhpháp luật
1.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước
Phòng Pháp lý doanh nghiệp và Quản lý cổ đông
Mối quan hệ với các phòng/ban khác trong doanh nghiệp:
Hội đồng quản trị: Là mối quan hệ cấp trên – cấp dưới, chịu sự chỉ đạotrực tiếp, toàn diện từ các thành viên Hội đồng Quản trị và tiếp nhận chỉ thị,thông tin kế hoạch liên quan đến công việc Phòng Quan hệ cổ đông, hạngmục đầu tư
Ban Tổng Giám đốc: Là mối quan hệ cấp trên – cấp dưới, chịu sự chỉđạo trực tiếp, toàn diện từ Ban Lãnh đạo Doanh nghiệp tiếp nhận chỉ thị,
Trang 27thông tin kế hoạch liên quan đến công việc của Ban Pháp chế.
Ban Kinh doanh: Tư vấn, hỗ trợ Ban Kinh doanh trong việc xây dựngcác hợp đồng, văn bản pháp lý cũng như đưa ra các giải pháp pháp lý phục vụcho hoạt động bán hàng, chăm sóc khách hàng và giải quyết khiếu nại, tranhchấp phát sinh
Ban Kinh doanh chiến lược: Phối hợp đưa ra các chính sách bán hàngphù hợp với Quy định – pháp luật hiện hành; Phối hợp xây dựng các mẫu Hợpđồng, công văn, thông báo với khách hàng, đối tác …
Ban Tài chính: Tư vấn, hỗ trợ Ban Tài chính trong việc xây dựng/ ràsoát các hợp đồng, văn bản pháp lý cũng như đưa ra các giải pháp pháp lýphục vụ cho hoạt động điều hành nguồn vốn của Doanh nghiệp và các đơn vịthành viên
Ban Kế toán: Phối hợp trong việc quản lý phần vốn, cổ phần của Tậpđoàn và các đơn vị thành viên Hỗ trợ, tư vấn Ban Kế toán trong việc xâydựng/ rà soát các hợp đồng, văn bản pháp lý cũng như đưa ra các giải pháppháp lý phục vụ cho hoạt động kế toán, kiểm toán của Doanh nghiệp và cácđơn vị thành viên
Ban Truyền thông & Marketing: Tư vấn, hỗ trợ Ban Truyền thông vàMarketing trong việc xây dựng/ rà soát các hợp đồng, văn bản pháp lý phátsinh từ hoạt động truyền thông, marketing của Doanh nghiệp và các đơn vịthành viên
Ban Nhân sự: Phối hợp trong công tác tuyển dụng, đào tạo và thẩmđịnh nhân sự Tư vấn, hỗ trợ Ban Nhân sự trong việc xây dựng/ rà soát cáchợp đồng, văn bản pháp lý cũng như đưa ra các giải pháp pháp lý phục vụ chohoạt động quản trị nhân sự
Tùy theo cơ cấu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp mà có thể có sựliên kết với các phòng ban khác
Trang 281.3.2 Chức năng, nhiệm vụ
Tổ chức pháp chế của doanh nghiệp nhà nước có các nhiệm vụ vàquyền hạn quan trọng như sau, theo Điều 7 Nghị định 55/2011/NĐ-CP:
1 Chủ trì, quản lý, phối hợp tư vấn:
Tham mưu, giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủtịch, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp trong việc soạnthảo, sửa đổi, hoàn thiện điều lệ hiệp hội
Xây dựng và công bố các quy định nội bộ
Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, sửađổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạtđộng của doanh nghiệp
2 Chủ trì hoặc tham gia chuẩn bị hợp đồng:
Chuẩn bị các mẫu hợp đồng
Đưa ra ý kiến pháp lý và đánh giá các dự thảo hợp đồng
Tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng
3 Phối hợp hỗ trợ và đánh giá pháp luật:
Hỗ trợ các thành viên trong Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị,Chủ tịch, Tổng Giám đốc và Giám đốc
Góp ý kiến về các văn bản pháp luật do Hội đồng quản trị trình
4 Tổ chức thông tin và đào tạo nhân viên:
Tổ chức hoặc điều phối các tổ chức trong việc thông tin và đàotạo nhân viên về luật, nội quy và quy chế của doanh nghiệp
5 Giám sát việc tuân thủ và đánh giá kiến thức pháp luật:
Giúp đỡ các thành viên, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc công
ty, Giám đốc công ty theo dõi, khuyến khích, giám sát việc tuânthủ pháp luật
6 Tư vấn tuyển dụng và đánh giá rủi ro:
Trang 29 Tư vấn tuyển dụng chuyên gia tư vấn pháp luật.
Tư vấn các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, thương mạicủa công ty
Đánh giá rủi ro về môi trường đầu tư, kinh doanh của các dự ánđầu tư của công ty ra nước ngoài
7 Tư vấn giải quyết tranh chấp:
Tư vấn giúp Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Giám đốc công
ty, Tổng giám đốc và Giám đốc công ty trong việc giải quyếttranh chấp nhằm bảo vệ tính hợp pháp của quyền và lợi ích củacông ty
Tham gia tranh tụng hoặc tư vấn về việc thuê luật sư tham giatranh tụng theo ủy quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa công ty
và tương tác giữa các yếu tố xã hội, chính trị và pháp lý Thay vì chỉ đơn giản
là một phương tiện của nhà nước, pháp chế có thể được nhìn nhận như là kếtquả của sự thảo luận, đối thoại và sự thấu hiểu đa chiều về quyền lực vàquyền lợi trong xã hội
Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, như mô tả trong văn bản, không
Trang 30chỉ giới hạn ở việc xác định phương hướng và mục tiêu mà còn mở rộng đếnviệc định hình các nguyên tắc cơ bản của pháp chế Sự ảnh hưởng của đảngkhông chỉ thể hiện trong tổ chức và vận hành bộ máy hành chính cơ bản, màcòn làm nổi bật tính độc lập tương đối của nó so với các mô hình quyền lựckhác.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa, theo góc độ này, không chỉ là một hệ thốngquy định mà còn là một công cụ định hình và thúc đẩy sự tương tác xã hội
Nó không chỉ đặt ra các yêu cầu cơ bản mà còn làm nổi bật sự đa dạng trongcách các chủ thể khác nhau đối mặt và thích ứng với quy tắc pháp luật Phápchế không tồn tại theo vùng, mà thực sự là kết quả của sự thống nhất, nhưngkhông tuyến tính, của các nguyên tắc và giá trị xã hội
Nguyên tắc về tính tối cao được coi là hướng dẫn vững chắc và khôngthể thay đổi trong quá trình thiết lập các biện pháp và chính sách pháp chế.Điều này đặt ra một tiêu chuẩn cao về tính minh bạch, công bằng, và bảo vệquyền lợi của mọi thành viên trong cộng đồng, đồng thời khẳng định cam kếtcủa hệ thống pháp chế đối với nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc về tính tối cao tập trung vào việc tạo điều kiện cho cơ hộibình đẳng và quyền lợi cho mọi thành viên của xã hội, không phụ thuộc vàođịa vị xã hội, giai cấp, hay các yếu tố khác Điều này không chỉ là biểu hiệncủa sự cam kết đối với nguyên tắc công bằng mà còn hỗ trợ quá trình pháttriển và tiến bộ của xã hội Tôn trọng thẩm quyền của Quốc hội là cơ sở quantrọng nhất để tổ chức và thống nhất pháp luật ở cấp quốc gia, đồng thời đảmbảo tính linh hoạt và sự đáp ứng của nó đối với đa dạng các yêu cầu vànguyện vọng xã hội
Pháp chế xã hội chủ nghĩa được thiết lập như một thực tế và điều kiện
xã hội, chúng tham gia trực tiếp vào việc tạo ra trật tự xã hội, đồng thời có sứcmạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng pháp
Trang 31chế xã hội chủ nghĩa không tự tồn tại độc lập mà nó phản ánh sự phức tạp vàtương tác giữa các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội Sự hình thành và tồn tạicủa pháp chế này phụ thuộc chặt chẽ vào những điều kiện chính trị, kinh tế và
xã hội cụ thể, đó là nền tảng để xây dựng và hình thành xã hội
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang trên con đường hướng tới chủnghĩa xã hội, đặc biệt là trong ngữ cảnh của nền kinh tế nhiều thành phần và
sự phổ biến của sản xuất nhỏ Đảng và Nhà nước xem xét vai trò của phápluật xã hội chủ nghĩa như là một yếu tố cực kỳ quan trọng để duy trì ổn định
kỷ luật và lập lại trật tự trong xã hội
Tư tưởng của Đảng và Nhà nước được thể hiện rõ qua những nguyêntắc cơ bản, nơi ổn định và kỷ luật được coi là trụ cột Các nguyên tắc nàykhông chỉ làm nổi bật tính quyết liệt trong việc xây dựng và duy trì trật tự xãhội, mà còn tập trung vào việc đảm bảo sự hiệu quả và công bằng trong quátrình thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa
Chính sự tương tác giữa yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội là động lựcquan trọng đằng sau quá trình hình thành và phát triển của pháp chế xã hộichủ nghĩa Nó không chỉ là một bộ khung pháp lý, mà còn là biểu hiện của sựlinh hoạt và đáp ứng đối với thách thức và cơ hội mà xã hội đang phải đốimặt
Quán triệt nguyên tắc thống nhất trong việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, chức năng quản lý được tập trungvào tay nhà nước, đại diện cho ý chí của xã hội Sự tập trung quyền lực nàykhông chỉ phản ánh trong cơ cấu tổ chức và quyết định của chính phủ mà cònđược thể hiện qua hệ thống pháp luật Pháp luật xã hội chủ nghĩa không chỉ làmột bộ khung quy định mà còn là công cụ để duy trì và hỗ trợ chế độ sản xuất
xã hội chủ nghĩa
Trang 32Sự đồng nhất về pháp luật không chỉ tạo nên một môi trường ổn định
và dựa trên quy tắc mà còn là biểu hiện của sự nhất quán trong cách thức quản
lý và phân phối nguồn lực Sự thống nhất này chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu
xã hội chủ nghĩa, trong đó nhà nước có trách nhiệm đảm bảo công bằng vàcân nhắc trong quá trình quản lý xã hội Đồng thời, pháp luật cũng là bản chấtphản ánh ý chí thống nhất của Nhà nước, đặc biệt là dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản
Trong ngữ cảnh này, Nhà nước xã hội chủ nghĩa không chỉ đóng vai trò
là cơ quan quản lý mà còn là người định hình và bảo vệ hệ thống sản xuất vàquan hệ xã hội chủ nghĩa Pháp luật, như một công cụ quan trọng, phản ánh
và hướng dẫn việc thực hiện chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, đồng thời làmnổi bật sự đồng thuận và thống nhất của xã hội
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền tảng của hệ thống pháp luật, đặt
ra quyền lực tập trung trong tay Nhà nước để đảm bảo quản lý và điều hànhmọi khía cạnh của xã hội Chính sự thống nhất này không chỉ là về phươngdiện kinh tế mà còn bao gồm cả lĩnh vực chính trị, văn hóa và xã hội
Như vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa không chỉ là bộ khung quy định
mà còn là biểu tượng và công cụ thể hiện sự đồng thuận và thống nhất của xãhội dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và Đảng Cộng sản
Nguyên tắc pháp chế thống nhất yêu cầu trên hết, phải đảm bảo mức độcao nhất của nhà nước pháp quyền Nói cách khác, điều đó có nghĩa là từ việcthiết lập pháp luật đến việc áp dụng pháp luật, luật yêu cầu các cơ quan chínhphủ thực hiện nhiệm vụ của mình trong giới hạn quyền hạn hợp pháp và phùhợp với quy định của pháp luật Áp dụng nguyên tắc này cho các cơ quanchính phủ, cơ quan có thẩm quyền, tổ chức tài chính hoặc cơ quan tư pháp làmột bước quan trọng trong việc đảm bảo tính chính xác, nhất quán và tuân thủpháp luật của hệ thống quy phạm pháp luật Cơ quan nhà nước, cụ thể là cơ
Trang 33quan lập pháp và cơ quan ban hành văn bản tiêu chuẩn, đóng vai trò quantrọng trong việc xây dựng và duy trì hệ thống pháp luật ổn định và minh bạch.
Các văn bản tiêu chuẩn được ban hành bởi các cơ quan nhà nước phảituân theo và không được trái với các quy định của pháp luật Điều này đảmbảo rằng các tiêu chuẩn được xây dựng và triển khai với sự tuân thủ cao nhấtđối với quy định pháp luật, giúp tăng cường tính minh bạch và đáng tin cậycủa hệ thống
Các cơ quan lập pháp của Quốc hội có trách nhiệm ban hành các luậtphù hợp với Hiến pháp và các pháp luật khác của Nhà nước Việc này khôngchỉ tạo ra một hệ thống pháp luật chặt chẽ mà còn đảm bảo tính nhất quán vàphù hợp của luật pháp với các quy định cấp cao hơn Trong trường hợp cầnthiết, Quốc hội có thể ban hành luật để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, thể hiệnquyền và trách nhiệm lập pháp của cơ quan này
Tất cả các văn bản pháp luật của Nhà nước đều phải phải được tôn trọng và tuân thủ thực hiện nghiêm ngặt, ngoại trừ những luật bị bãi bỏ hoặc sửa đổi.
Đối với việc tuân thủ pháp luật, nếu pháp luật đã được ban hành đúngthẩm quyền và thể thức theo quy định của Nhà nước, không có lý do nào đểtranh cãi về việc tuân theo và chấp hành nó Pháp chế xã hội chủ nghĩa đặt rayêu cầu cao cả về sự nghiêm túc và không điều kiện trong việc thực hiện phápluật Thái độ tự do, tùy tiện trong việc chấp hành pháp luật được coi là viphạm nguyên tắc pháp quyền, không tương thích với cơ sở kinh tế của chế độcai trị xã hội chủ nghĩa
Tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật có nghĩa là tuân theo câu chữ và tinhthần của pháp luật Việc bỏ qua bất kỳ khía cạnh nào cũng có thể dễ dàng dẫnđến sai lầm trong thực tế (dù là cố ý hay vô thức) Tuy nhiên, tuân thủ nghiêmchỉnh pháp luật không có nghĩa là tuân thủ nghiêm ngặt, mà trái lại, pháp luật
Trang 34xã hội chủ nghĩa yêu cầu phải tuân thủ pháp luật một cách triệt để Thêm vào
đó, việc sử dụng những quy tắc và tiêu chuẩn của pháp luật vào việc hoànthành các nhiệm vụ kinh tế, chính trị ở mỗi giai đoạn khác biệt của quá trìnhphát triển của xã hội chủ nghĩa là rất thiết yếu và có ý nghĩa
Mọi người phải bình đẳng trước pháp luật – pháp luật bình đẳng trước mọi người
Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa không công nhận bất cứ mộtđặc quyền nào trong lĩnh vực thực hiện pháp luật Trong xã hội xã hội chủnghĩa, chỉ có một luật lệ và kỷ luật nhà nước cho tất cả mọi người Đảng viên,ngoài đảng, lãnh đạo và người dưới quyền lãnh đạo, không phân biệt quốctịch, tôn giáo, đều có nghĩa vụ phát sinh từ pháp luật và có quyền yêu cầu sựtôn trọng, bảo vệ của các cá nhân, tổ chức khác Đảm bảo quyền lợi hợp phápcủa bạn Mọi người đều phải tuân theo luật này như nhau Ai vi phạm đều bịđối xử bình đẳng
Bảo vệ các quyền và tự do của công dân đã được pháp luật quy định
Trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam công dân được hưởng những quyềndân chủ đã được Hiến pháp đảm bảo Công dân được ghi nhận các quyền dânchủ trong hiến pháp Bên cạnh việc quan tâm đến đời sống nhân dân, các cơquan nhà nước phải kính trọng, bảo hộ các quyền của công dân theo quy địnhcủa hiến pháp, đảm bảo bản chất các quyền tự do dân sự, ngăn cản các hoạtđộng, hành vi lợi dụng, lừa đảo là một trong những yêu cầu trọng yếu củachính sách xã hội chủ nghĩa Công dân không được có quyền vi phạm lợi íchcủa nhà nước, xã hội hoặc lợi ích của công dân khác thông qua việc sử dụngquyền tự do của mình theo quy định của pháp luật
Trong bối cảnh này, nhà nước cần liên tục quan tâm và tạo điều kiệncần thiết để đảm bảo việc thực hiện các quyền và tự do của công dân diễn ramột cách hiệu quả Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng một môi trường
Trang 35pháp lý và xã hội mà công dân có thể thoải mái, an toàn và hiệu quả trongviệc thực hiện quyền tự do của mình mà không làm tổn thương lợi ích chunghay cá nhân của người khác.
1.4.2 Yếu tố kinh tế
Pháp chế được bảo đảm thông qua chế độ kinh tế của xã hội Pháp luậtkhông thể tách rời chế độ kinh tế sinh ra nó Chế độ kinh tế xã hôi chủ nghĩakhông chỉ là mảnh đất tốt mà còn là nền tảng để xây dựng pháp chế và xâydựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Pháp chế và chế độ kinh tế luôn có mốiquan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau một cách tích cực Nếu xây dựng chế độkinh tế tách rời quá trình bảo đảm pháp chế thì không những chế độ kinh tế ấykhông có điều kiện tồn tại mà pháp chế cũng không có ý nghĩa gì trong thực
tế Pháp luật phải được hình thành trên cơ sở phù hợp, đồng nhất với chế độkinh tế của xã hội đó
1.4.3 Yếu tố pháp luật
Pháp chế được đảm bảo thông qua một hệ thống các yếu tố pháp lý, baogồm thể chế pháp lý, quy chế, pháp luật, hình thức, và quy chế Những yếu tốnày đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu của nhà nước, xâydựng và hoàn thiện quyền công dân, cũng như quyền con người
Thể chế pháp lý đặt ra các nguyên tắc và quy tắc căn bản, tạo nênkhung pháp luật tổng thể cho xã hội Quy chế là bộ luật nhỏ, quy định chi tiết
về các mặt cụ thể của hoạt động trong xã hội Pháp luật, là tập hợp các quyđịnh được xây dựng và ban hành bởi cơ quan lập pháp, đóng vai trò quy định
và điều chỉnh hành vi của công dân và tổ chức Hình thức pháp lý thể hiệnhình thức của văn bản pháp luật và các quy định của nó, trong khi quy chế làcác quy tắc cụ thể và chi tiết
Trang 36Tất cả những yếu tố này cùng nhau tạo nên một cơ sở pháp lý vữngchắc, đảm bảo quyền lợi và tự do của công dân, đồng thời định hình và hỗ trợcho sự phát triển của xã hội.
Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) hiện tại có hơn 58nghìn văn bản vẫn còn có hiệu lực ở đất nước ta Hệ thống pháp luật ViệtNam bao gồm hơn 8,000 văn bản từ cấp trung ương trở lên và hơn 50,000 vănbản từ cấp tỉnh trở xuống (cấp địa phương) Đây là một tổng số ấn tượng củacác quy định và quy chế mà nhà nước thực hiện để điều hành và quản lý xãhội tại cấp quốc gia và địa phương Hệ thống văn bản tương đối cồng kềnh,phức tạp, nhiều tầng nấc, đây là một trong những yếu tố chính gây ảnh hưởngđến vai trò của tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước
Cơ quan đã chuẩn bị kế hoạch chi tiết từ trước để tổ chức và triển khaiviệc hệ thống hóa các văn bản cơ bản một cách phù hợp với quy định củapháp luật (63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), đồng thời tiếp nhận
và áp dụng những thành tựu đã đạt được trước đây Con đường thống nhấtđầu tiên kỳ hệ thống hóa văn bản trong cả nước năm 2013 Nhìn chung, cácđơn vị nhận thấy tầm quan trọng của việc hệ thống hóa văn bản trong chỉ đạo,quản lý các ngành hành chính nhà nước và bảo đảm tính minh bạch, liên tụccủa hệ thống pháp luật Chất lượng kết quả hệ thống hóa văn bản, đơn vị chủyếu đạt yêu cầu
Bên cạnh đó, kết quả hệ thống hóa văn bản cũng biểu hiện rằng các vănbản còn trùng lặp, xung đột về nội dung, không còn thích hợp với tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội và không thể nhận biết được giá trị pháp lý Điềunày tạo ra sự lúng túng trong tổ chức pháp chế của các công ty trong việc thựchiện, khó tìm hiểu, chuẩn bị các văn bản để hệ thống hóa và sử dụng các vănbản trong cơ sở dữ liệu, các văn bản pháp luật trong nước còn chưa đáp ứngđược yêu cầu
Trang 37Pháp chế doanh nghiệp tại Việt Nam còn đang gặp nhiều thách thứcnhư sự khó khăn trong thực hiện các quy định, việc áp dụng pháp luật khôngđồng đều giữa các tổ chức, doanh nghiệp Do đó, cần có sự nghiên cứu và cảitiến để pháp chế doanh nghiệp tại Việt Nam hoạt động hiệu quả và đáp ứngđược yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
1.4.4 Yếu tố nguồn nhân lực
Trong bối cảnh hiện nay, trình độ của cán bộ công chức, viên chứcpháp chế còn chưa đồng đều Các cán bộ nhà nước, viên chức hành chínhcông phải sở hữu bằng cử nhân ngành luật các cán bộ nhà nước, viên chứchành chính công phải sở hữu bằng cử nhân ngành luật Tuy nhiên, thực tế chothấy rằng những cán bộ này đang thực hiện nhiệm vụ về công tác pháp chế tạicác cơ quan chính là những cán bộ làm công tác đặc biệt mà chưa được phép.Đào tạo nghề với bằng cử nhân bằng luật Vì vậy, nó cũng ảnh hưởng tới quátrình hoàn thành nhiệm vụ
Cán bộ, nhân viên pháp luật còn rất lúng túng trong nhiệm vụ củamình Công dân không được có quyền vi phạm lợi ích của nhà nước, xã hộihoặc lợi ích của công dân khác thông qua việc sử dụng quyền tự do của mìnhtheo quy định của pháp luật Trong bối cảnh này, nhà nước cần liên tục quantâm và tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các quyền và tự docủa công dân diễn ra một cách hiệu quả Điều này đồng nghĩa với việc xâydựng một môi trường pháp lý và xã hội mà công dân có thể thoải mái, an toàn
và hiệu quả trong việc thực hiện quyền tự do của mình mà không làm tổnthương lợi ích chung hay cá nhân của người khác
Hiện nay trong toàn quốc tổng số người làm công tác pháp chế làkhoảng 10.000 người, trong số đó có gần 3.000 người làm pháp chế chuyêntrách và có gần 7.000 người kiêm nhiệm Có tổng cộng 89 tổ chức pháp chếtại các bộ và ngành trung ương, cùng với 65 phòng pháp chế tại địa phương
Trang 38Điều này cho thấy sự phổ quát và quan trọng của các tổ chức này trong việc
hỗ trợ và định hình các khía cạnh pháp chế tại cấp quốc gia và địa phương.Các tổ chức và phòng pháp chế có vai trò quan trọng trong việc tham mưu, tưvấn, và giúp đỡ các cơ quan, đơn vị, và doanh nghiệp để đảm bảo tuân thủpháp luật và thực hiện các quy định pháp chế hiệu quả Nhân lực pháp lý cònrất mỏng, một số bộ, ngành chưa ưu tiên công tác pháp chế So với nhiệm vụ,văn bản quy phạm pháp luật mà các bộ, ngành phảichuẩn bị, công bố, góp ý,
sư, trợ lý để xác định số lượng người làm việc trong lực lượng này
Kết luận chương 1
Chương này tác giả trình bày tổng quan các khái niệm, đặc điểm cơ bản
về doanh nghiệp nhà nước, về tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước vàvai trò, cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức pháp chế tại doanh nghiệpnhà nước Bên cạnh đó chương này cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến
tổ chức pháp chế tại doanh nghiệp nhà nước như chính trị, kinh tế, pháp luật,nguồn nhân lực Các lý thuyết được đề cập trên đây đóng vai trò quan trọnglàm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài của tác giả Chúng cung cấp cơ sở lý
Trang 39thuyết để tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài một cách chính xác và có tínhkhoa học.
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN PHÁP CHẾ
TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC 2.1 Khái quát về Tổng Công ty Điện lực miền Bắc
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Điện lực miền Bắc
Tổng Công ty Điện lực miền Bắc, hay "Tổng Công ty" hoặc "NPC"(viết tắt), trước đây là Công ty Điện lực 1, đã trở thành một công ty mẹ trongTập đoàn Điện lực Việt Nam từ ngày 01/01/2010, theo Quyết định số0789/QĐ-BCT ngày 05/02/2010 của Bộ Công Thương Tổng Công ty là mộtđơn vị thành viên độc lập với tư cách pháp nhân và tổ chức hạch toán kế toánriêng
Ngày 06/10/1969, Công ty Điện lực, tiền thân của Tổng Công ty Điệnlực miền Bắc hiện nay, được thành lập theo Quyết định số 106/QĐ-TC của
Bộ trưởng Bộ Điện và Than nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Năm 1976, ngành Điện lực Việt Nam được hợp nhất và tạo ra ba công
ty điện lực tương ứng với ba vùng miền Bắc-Trung-Nam Công ty Điện lựcmiền Bắc (trước đây là Công ty Điện lực) thuộc quản lý của Bộ Điện và Than
Năm 1981, Bộ Điện lực được thành lập theo Nghị định số 170-CP ngày23/4/1981 của Hội đồng chính phủ Công ty Điện lực miền Bắc chuyển từ Bộ
Trang 40Điện và Than sang trực thuộc Bộ Điện lực và đổi tên thành Công ty Điện lực1.
Theo Nghị quyết 149/CT của Chính phủ, Công ty Điện lực 1 bắt đầutiếp nhận các lưới điện và tổ chức quản lý lưới điện được kết nối với lưới điệnquốc gia Công ty mở rộng hoạt động và tiếp nhận các tổ chức và lưới điệncủa các địa phương nằm ngoài hệ thống
Năm 1987, Bộ Năng lượng được hình thành, và Công ty Điện lực 1 trởthành đơn vị thuộc Bộ Năng lượng
Năm 1995, cùng với sự xuất hiện của Tổng công ty Điện lực Việt Nam(nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Công ty Điện lực 1 được chuyển từ BộNăng lượng về thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam Nhiệm vụ quản lý nhànước về điện lực được chuyển giao cho Bộ Công nghiệp và các Bộ côngnghiệp trên địa bàn
Những đơn vị thuộc Công ty Điện lực 1, như các nhà máy điện, Điệnlực Hà Nội, Trạm Truyền tải điện, Máy tính Trung tâm Điện lực, Trung tâmthông tin và Ban Dự án Lưới điện miền Bắc, đã trải qua sự thay đổi trong cơcấu và quản lý
Công ty bước vào giai đoạn mới bằng việc thực hiện cơ chế: kinhdoanh điện và phát triển mạng lưới phía Bắc Vùng kiểm soát rộng lớn ở phíaBắc, chủ yếu là vùng cửa sông, vùng nông thôn và miền núi, vùng ngoại vi,
Tổng Công ty Điện lực miền Bắc được thành lập vào năm 2010 theoQuyết định số 0789/QD-BTC ngày 5/2/1010 của Bộ Công Thương, thông quaquá trình tái cơ cấu Công ty Điện lực 1 và thu hồi các cơ sở khác, bao gồmCông ty TNHH Điện lực Hải Phòng, Hải Dương và Ninh Bình Công ty được
tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và hoạtđộng dưới mô hình công ty mẹ - công ty con
Năm 2014 đánh dấu một sự kiện lịch sử quan trọng khi Tổng Công ty