1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt

94 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Nghiên cứu Nông nghiệp - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp
Tác giả Phùng Thị Hồng Hà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Huế
Chuyên ngành Kinh tế & Phát triển
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Phân tích kinh tế nông hộ là một trong những nội dung quan trọng của dự án Agribiz nhằm giúp nhà nghiên cứu nắm bắt được tình hình bố trí sản xuất của các nông hộ, từ đó đánh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NÔNG HỘ VÙNG VEN BIỂN Ở TỈNH NGHỆ AN

Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp

NGƯỜI NGHIÊN CỨU Phùng Thị Hồng Hà

Nghệ An, 2006

Trang 2

MỤC LỤC

I PHÂN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG HỘ 4

1 Giới thiệu 4

2 Nội dung 4

2.1 Một vài nét khái quát về hộ 4

2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ 6

2.2.1 Đối với sản xuất trồng trọt 6

a) Rau 6

b) Lúa 12

2.2.2 Đối với sản xuất chăn nuôi 12

2.2.3 Thu nhập của hộ 12

2.3 Tập huấn của hộ 13

II PHÂN TÍCH CHUỐI CUNG 13

1 Lí do 13

2 Phương pháp 14

3 Mô tả chuỗi cung 14

3.1 Chuỗi cung các yếu tố đầu vào 14

3.2 Chuỗi cung các yếu tố đầu ra 16

3.2.1 Hướng thứ nhất: các hộ bán rau cho thu gom lớn 16

3.2.2 Hướng thứ hai: các hộ gia đình nông dân bán sản phẩm cho các nhà thu gom nhỏ 18

4 Phân tích hoạt động của chuỗi 20

III KẾT LUẬN 21

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Cơ cấu và nguồn hình thành các loại đất của hộ 5

Bảng 2: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của hộ 5

Bảng 3: Tình hình sử dụng lao động của hộ 6

Bảng 4: Công thức luân canh trên từng thửa đất của hộ 7

Bảng 5: Doanh thu của từng loại cây trồng, từng loại công thức luân canh 7

Bảng 6: Chi phí bình quân 1 sào của các loại rau 8

(tính cho một lứa) 8

Bảng 7: Hiệu quả sản xuất của từng loại cây trồng 9

và từng công thức luân canh 9

Bảng 8: Hiệu quả sản xuất rau của hộ 9

Bảng 9 Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua đến thu nhập của hộ 10

Bảng 10 Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua 11

đến lợi nhuận của hộ 11

Bảng 11: Kết quả và hiệu quả của sản xuất chăn nuôi 12

Bảng 12: Thu nhập lề, lợi nhuận ròng của từng loại 13

và của toàn bộ sản phẩm 13

Bảng 13 : Chênh lệch giá trong chuỗi cung 17

Bảng 14: Chênh lệch giá trong chuỗi các nhà thu gom nhỏ 19

Trang 4

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỀ PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP

Nhóm điều tra: Phùng Thị Hồng Hà – Khoa kinh tế & phát triển, Trường ĐHKT Huế Người viết báo cáo tổng hợp: Phùng Thị Hồng Hà

Ngày điều tra: 08/1/2006

Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp - Xóm 4 - xã Quỳnh Lương - huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An Thời gian: từ 9h00 đến 12h00

I PHÂN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG HỘ

1 Giới thiệu

Phân tích kinh tế nông hộ là một trong những nội dung quan trọng của dự án Agribiz nhằm giúp nhà nghiên cứu nắm bắt được tình hình bố trí sản xuất của các nông hộ, từ đó đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nông hộ

Mục đích của bài viết:

- Đánh giá thực trạng hệ thống sản xuất của các nông hộ - đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của nông hộ

- Mô tả và phân tích sơ bộ chuỗi cung rau của nông hộ - tìm ra những khó khăn, thách thức

mà chuỗi phải đổi mặt - đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi

- Đánh giá nhu cầu tập huấn của các nông hộ

- Rút ra một số nhận xét về hệ thống sản xuất nông nghiệp ở vùng Đồng Bằng ven biển tỉnh Nghệ An làm cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo cho các đối tượng liên quan

2 Nội dung

2.1 Một vài nét khái quát về hộ

Xã Quỳnh Lương là một xã ven biển của huyện Quỳnh Lưu, có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất rau Mặc dù nằm ở vùng ven biển, nhưng đất của Quỳnh lương lại là đất đỏ, rất tơi sốp Khí hậu ở đây mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới

có pha trộn ôn đới Ngoài ra, Quỳnh Lương còn có nguồn nước ngầm vô tận Chính nhờ những dặc điểm này mà Quỳnh Lương có thể sản xuất nhiều loại rau cả rau vùng nhiệt đới (rau muống, cải, …) đến các loại rau ôn đới (xu hào, bắp cải, xu lơ…) Trong tổng diện tích đất gieo trồng của cả xã (809 ha), cây rau chiếm 73,5% và có xu hướng tăng Năm

2005, diện tích trồng rau tăng 1,7% so với năm 2004

Nhờ phát triển sản xuất rau nên đời sống của các hộ gia đình nông dân ở đây ngày một cải thiện So với các vùng khác, thu nhập bình quân của nông dân xã Quỳnh Lương không chỉ đạt 50 triệu đồng/1 ha mà còn cao hơn thế

Để tìm hiểu tình hình sản xuất rau của các hộ gia đình nông dân trong xã, chúng tôi

đã đến phỏng vấn hộ gia đình nhà ông Bùi Duy Giáp

Ông Giáp xuất thân từ một gia đình nông dân Gia đình ông sống ở đây từ khi ông còn nhỏ Năm nay ông đã 51 tuổi, học hết lớp 7/10 Ông có 4 người con, 2 trai, 2 gái 3 người con của ông hiện đã đi vào thành phố Hồ Chí Minh để làm ăn Hiện gia đình chỉ còn

3 người Trong đó, cậu con trai Bùi Duy Huy năm nay đã 28 tuổi nhưng chưa lập gia đình,

Trang 5

Do các con ông đã lớn, lại có công việc ổn định nên mục đích chính của ông bà là làm sao có nhiều tiền để tích luỹ nhằm sửa sang lại nhà cửa và có tích luỹ cho tuổi già

Hiện nhà ông được xã cấp cho 4 mảnh ruộng và đất ở với tổng diện tích 2260 m2 Ngoài ra, ông còn thuê thêm một mảnh ruộng rộng 500 m2 (1 sào) với thời gian 10 năm để trồng lúa, rau khoai lang Mỗi năm ông phải trả cho việc thuê mảnh ruộng này là 50 ngàn đồng

Ngoài đất trồng cây hàng năm, ông còn được xã cấp cho 50 m2 đất để trồng phi lao Mục đích chính là trồng rừng phòng hộ

Bảng 1: Cơ cấu và nguồn hình thành các loại đất của hộ

Do quy mô sản xuất nhỏ nên gia đình ông chỉ trang bị 2 máy bơm nước với giá trị 650 ngàn đồng/cái, một bình bơm thuốc sâu bằng tay trị giá 60 ngàn đồng/cái và hệ thống ống dẫn nước tưới cho rau

Bảng 2: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của hộ

Loại TLSX Số

lượng

Tổng giá trị (1000.đ)

T/gian có thể

sử dụng (năm)

T/gian đã

sử dụng (năm)

Giá trị còn lại (1000 đ)

Trang 6

tiếp sản xuất rau Cậu con trai làm nghề thợ may tại nhà nên không tham gia vào công việc đồng áng của cha mẹ Do thiếu lao động nên ông bà phải thuê thêm 1 tháng 1 lao động làm 5 công để làm cỏ và chăm sóc rau Tiền thuê 1 công là 25 ngàn đồng Theo ông Giáp, việc thuê lao động ở đây không khó khăn lắm

Bảng 3: Tình hình sử dụng lao động của hộ

Số ngày/tháng (ngày LĐ) Loại lao động Số

người

Số tháng làm trong năm (tháng)

Bình quân

Cao nhất

Thấp nhất

Tổng số ngày làm trong năm

lụt nên việc trồng rau gặp nhiều rủi ro

2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ

Hiện nay, hộ sản xuất các loại sản phẩm chính: rau, chăn nuôi lợn và trâu Trong

đó, trồng rau tạo ra nguồn thu chính của hộ

2.2.1 Đối với sản xuất trồng trọt

a) Rau

Hộ sản xuất 2 loại sản phẩm chính là rau và lúa Đối với cây lúa, do trồng trên đất khô, không chủ động nước nên 1 năm gia đình ông chỉ trồng được 1 vụ sản xuất Đông Xuân, sản lượng đạt được 1,5 tạ thóc Kết thúc vụ sản xuất lúa, ông bà trồng khoai lang để lấy rau nuôi lợn Vì thế chúng tôi sẽ chỉ đi sâu phân tích hiện trạng sản xuất rau của hộ

Trang 7

1,0 Lúa Đông - Xuân Khoai lang

Cây rau được chọn để trồng bao gồm 5 loại: rau cải ngọt, cải dưa, hành hoa, cà

chua và cà rốt

Cây cà rốt có thời gian sinh trưởng dài nhất (3 tháng 1 lứa) Cà chua là loại cây trồng

một lần nhưng thu sản phẩm liên tục cho đến khi cây tàn Hành có thời gian sinh trưởng ngắn,

1,5 tháng thu hoạch được một lứa Cải ngọt chỉ có 25 ngày thu được 1 lứa

Bốn mảnh ruộng nhà ông Giáp đều có thể trồng các loại rau (bao gồm cả cải bắp

và xu hào, xu lơ) nhưng ông Giáp chỉ chọn 4 loại cây trồng trên Trong đó, hành hoa là loại

cây được trồng với diện tích lớn nhất Theo ông Giáp, thời gian trồng hành hoa ngắn

nhưng lại cho thu nhập cao nên ông đã dành nhiều diện tích để trồng nó Cải là cây cũng có

thời gian sinh trưởng ngắn nhưng đòi hỏi công chăm sóc nhiều Với điều kiện thiếu sức lao

động như nhà ông, việc trồng cải sẽ gặp khó khăn nên không được ưu tiên bằng hành

Với những tính toán trên, ông Giáp đã bố trí các công thức luân canh trên từng thửa

như bảng trên

Căn cứ vào diện tích gieo trồng, năng suất và giá bán của từng loại cây trồng,

chúng tôi đã tính toán được doanh thu của từng loại sản phẩm trên từng thửa ruộng

Bảng 5: Doanh thu của từng loại cây trồng, từng loại công thức luân canh

Thửa 1 (1,06 sào)

Thửa 2 (1,06 sào)

Thửa 3 (0,4 sào )

Thửa 4 (0,6 sào)

Vườn nhà (0,2 sào) Tổng

Trang 8

Số liệu của bảng trên cho thấy, thửa thứ 3 với công thức luân canh Hành quanh

năm có doanh thu cao nhất Bình quân 1 sào thu được 9,600 triệu đồng/năm Cho doanh

thu cao thứ hai là công thức luân canh Cà rốt - Hành, doanh thu đạt 9,23 triệu đồng/năm

Thấp nhất là vườn nhà với công thức luân canh Hành - rau cải cho doanh thu 6,55 triệu

đồng/năm Tổng doanh thu một năm đạt 28,179 triệu đồng Bình quân 1 sào trong một

năm đạt 8,269 triệu đồng

Để đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại cây và từng công thức luân canh, chúng

tôi đã tính toán chi phí sản xuất cuả từng loại cây và thu nhập lề (Gross Margin) của chúng

Trang 9

Bảng 7: Hiệu quả sản xuất của từng loại cây trồng

và từng công thức luân canh Thửa 1

(1,06 sào)

Thửa 2 (1,06 sào)

Thửa 3 (0,4 sào)

Thửa 4 (0,6 sào)

Vườn nhà (0,2 sào)

Cà chua Cải

Cà chua

Rau cải

Rau cải Hành

Khác với phần phân tích trước, thửa thứ 2, công thức luân canh Cà rốt - Hành mặc

dù có doanh thu thấp hơn so với thửa 1 (trồng hành quanh năm), nhưng lại cho hiệu quả kinh tế cao nhất Bình quân 1 sào thu nhập lề (Gross Margin) đạt 6,412 triệu đồng/năm Thửa thứ 3, trồng hành quanh năm thu nhập lề chỉ đạt 6,108 triệu đồng/sào/năm Vườn nhà với công thức Rau - hành cho hiệu quả thấp nhất, bình quân 1 sào thu nhập lề đạt 3,55 triệu đồng/năm

Sở dĩ việc trồng Hành quanh năm cho doanh thu cao nhất nhưng thu nhập lề đạt thấp hơn so với việc trồng Cà rốt - hành là do phí về giống cao Bình quân 1 sào chi phí về giống mất đến 207 ngàn đồng/lứa

Nhìn chung, sản xuất rau đã mang lại thu nhập cho gia đình khá cao Bình quân một năm với 3,24 sào đất canh tác, hộ đã có một khoản thu nhập lề (GM) là 18,185 triệu đồng Nếu trừ khấu hao và công lao động của gia đình, một năm hộ có một khoản lợi nhuận là 5,983 triệu đồng

Bảng 8: Hiệu quả sản xuất rau của hộ

Trang 10

PHÂN TÍCH RỦI RO

Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp có nhiều nguyên nhân: rủi ro do điều kiện sản xuất không thuận lợi (hạn hán, nguồn nước tưới…), do biến động giá cả của thị trường, rủi

ro về mặt tài chính

Do quy mô sản xuất nhỏ, nhu cầu về vốn không lớn nên rủi ro về tài chính sẽ không

đề cập ở đây Rủi ro do điều kiện sản xuất không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng Do ảnh hưởng của thị trường sẽ làm cho giá sản phẩm giảm xuống Do vậy sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ

Để nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố thị trường và điều kiện sản xuất đến thu nhập của hộ, chúng tôi sử dụng 2 yếu tố: giá và sản lượng cây trồng

Trong các công thức luân canh ở trên, chúng tôi nhận thấy: Hai cây trồng có doanh thu lớn nhất là hành và cà chua Vì thế, sự biến động về sản lượng và giá của hai loại cây này sẽ có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Giả sử, bố trí công thức luân canh của hộ không thay đổi Giá của hành và cà chua có thể đạt mức cao nhất là 4000 đ/kg hành và 3000 đ/kg

cà chua; thấp nhất là 1500 đ/kg (hành hoặc cà chua)

Bảng 9 Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua đến thu nhập của hộ

Trang 11

-11290 915 -1679 19590 5065 1433

Tính trung bình cho cả hai loại trên là 2000 đ/kg Năng suất cà chua đạt thấp nhất là

1,5 kg/cây; cao nhất là 3,5 kg/cây Năng suất hành đạt cao nhất là 900 kg/sào và thấp nhất

là 600 kg/sào Thu nhập lề và lợi nhuận của hộ có thể sẽ bị thay đổi do ảnh hưởng của hai

nhân tố như sau (bảng 1.9 và 1.10):

- Trong trường hợp điều kiện sản xuất không thụân lợi, nhưng giá thị trường cao, hộ

sẽ có một khoản thu nhập lề là 21708 ngàn đồng (lợi nhụân đạt 9506 ngàn đồng)

Nếu giá thị trường xuống ở mức 2000 đ/kg cà chua và hành thì thu nhập lề của hộ

chỉ còn 11139 ngàn (lỗ 1063 ngàn đồng) Ở mức giá thấp nhất (1500 đ/kg hành và

1500 đ/kg cà chua) hộ sẽ lỗ 4791 ngàn đồng

- Trong trường hợp điều kiện sản xuất thuận lợi, giá cả lên cao nhất thì hộ sẽ đạt mức

thu nhập lề và lợi nhuận cao nhất (44824 ngàn đồng và 32622 ngàn đồng) Nếu giá

cả xuống thấp thì thu nhập lề cũng đạt 16893 ngàn đồng

Trong trường hợp giá cả biến động, hộ có thể thay thế một số cây trồng khác Với

điều kiện đất đai hiện có, trong cùng một khoảng thời gian các cây sau có thể thay thế cho

nhau:

- Cây Xu hào có thể thay cây cà rốt (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau) Tuy nhiên,

xét trên mặt bằng giá hiện tại, giá của cà rốt lớn hơn giá của xu hào (1,5 đến 2 lần)

Trong khi đó năng suất của 2 loại cây là tương đương nhau vì thế trồng cà rốt vẫn

cho hiệu quả cao hơn Nếu giá cà rốt giảm đi ½ thì trồng cà rốt hoặc xu hào đều

cho hiệu quả như nhau

- Công thức hành - cải trồng ở vườn nhà có hiệu quả thấp nhất Nếu thay cải bằng su

hào hay cải bắp thì hiệu quả của xu hào hay cải bắp cao hơn trồng cải ngọt 57 ngàn

Trang 12

đồng (lấy giả định chi phí trồng xu hào gần bằng chi phí trồng cà chua và giá cải

ngọt không thay đổi) Vì thế, nếu có thể gia đình nên thay thế cây cải ngọt bằng

cây su hào bởi trong thời gian này giá của cải ngọt có thể xuống thấp do có nhiều

loại rau cao cấp làm sản phẩm thay thế

b) Lúa

Lúa được trồng trên đất đấu thầu với diện tích rất khiêm tốn 1 sào Tuy nhiên, điều

kiện sản xuất trên thửa ruộng trồng lúa không thuận lợi nên một năm hộ chỉ trồng 1 vụ với

sản lượng 1,5tạ/sào Sau khi trừ chi phí, GM chỉ đạt 0.095 triệu đồng Lợi nhuận từ sản

xuất lúa lỗ 0.03 triệu đồng

2.2.2 Đối với sản xuất chăn nuôi

Một năm hộ nuôi 2 lứa lợn, mỗi lứa 1 con Tổng trọng lượng xuất chuồng là khoảng

140 kg Với giá bán bình quân 14 ngàn đồng/kg Một năm doanh thu từ chăn nuôi lợn đạt

1,96 triệu đồng Sau khi trừ chi phí, thu nhập lề được 0,46 triệu đồng Nếu trừ công lao

động gia đình và chi phí về rau do gia đình tự trồng thì chăn nuôi lợn lỗ 0,777 triệu đồng

Ngoài nuôi lợn, hộ có nuôi 1 con bò cái Bình quân 1 năm bò cái đẻ được 1 con Hộ

không để nuôi mà bán ngay khi bê được khoảng 1 - 1,5 năm Mỗi con bê hộ bán được 1,5

triệu đồng Nếu trừ đi chi phí trực tiếp, công chăm sóc và khấu hao một năm hộ bị lỗ 406

Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sản xuất của từng sản phẩm, chúng tôi đã xác định được thu

nhập và cơ cấu thu nhập của hộ kết quả được chỉ ra ở bảng 8

Trang 13

Bảng 12: Thu nhập lề, lợi nhuận ròng của từng loại

và của toàn bộ sản phẩm (ĐVT: 1000 đ)

Trong cơ cấu thu nhập cũng như lợi nhuần ròng, rau chiếm một tỷ trọng lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của hộ Trồng lúa, chăn nuôi lợn và bò tuy có thu nhập lề (GM) nhưng không có hiệu quả sản xuất

2.3 Tập huấn của hộ

Trong những năm qua, ông Giáp là người được tham gia tập huấn nhiều nhất Ông

đã tham gia 10 lớp tập huấn tại xã về những nội dung: kỹ thuật trồng rau, Bảo vệ thực vật, các lớp IPM Phần lớn các lớp này được tổ chức bởi Ban nông nghiệp Huyện hoặc sở nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An Thời gian tổ chức các lớp học trên thường là 1 buổi hoặc nhiều nhất là 1 ngày tại ngay xã Quỳnh Lương

Theo ông Giáp, các lớp tập huấn trên đã giúp cho ông nắm được quy trình sản xuất rau, cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp

Ông vần mong muốn được tham gia nhiều hơn vào các lớp tập huấn kỹ thuật trồng rau, cách ghi chép sổ sách, cách tính tổng thu nhập Thời gian tập huấn nên ngắn, tối đa 1 ngày Địa điểm tập huấn nên tổ chức ngay tại xã

II PHÂN TÍCH CHUỐI CUNG

1 Lí do

Quỳnh lương là một xã vùng ven biển của huyện Quỳnh Lưu, có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất rau Trong tổng số 809 ha đất gieo trồng thì diện tích đất trồng rau là 595 ha chiếm 73,5% và có xu hướng tăng nhanh Thị trường tiêu thụ rau rất sôi động Xuất phát từ lý do trên nên chúng tôi đã chọn cây rau để nghiên cứu chuỗi cung

Mục đích của báo cáo này là nhằm mô tả khái quát tình hình tiêu thụ rau của người

Trang 14

dân từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của chuỗi

2 Phương pháp

Như đã phân tích ở phần trước, phần lớn thu nhập của gia đình ông Giáp là thu từ sản xuất rau Vì thế trong báo cáo này chúng tôi quyết định chọn cây rau là đối tượng để phân tích chuỗi cung

Chuỗi cung của rau ở xã Quỳnh lương đi theo 2 hướng (Xem sơ đồ) Lượng tiêu thụ ở cả 2 hướng này đều rất lớn Vì thế chúng tôi sẽ phân tích cả 2 hướng này

Để có đủ thông tin để phân tích chuỗi cung của rau, ngoài ông Giáp là chủ hộ sản xuất rau, chúng tôi còn đi phong vấn thêm Ông Hải, nhà thu gom lớn ở xã và anh Trung đại diện cho những nhà thu gom nhỏ ở xã

3 Mô tả chuỗi cung

3.1 Chuỗi cung các yếu tố đầu vào

Phân bón: Phân bón cho rau và các loại cây trồng khác được cung cấp bởi một nguồn duy

nhất là các cửa hàng bán lẻ ở trong xã

Các cửa hàng bán lẻ lấy hàng trực tiếp từ các chủ phương tiện vận tải Những người chuyên làm nhiệm vụ chở rau từ Quỳnh lương đi Vinh và chở phân bón, thuốc trừ sâu và các hàng hoá thông dụng khác từ Vinh về Quỳnh Lương Số lượng các cửa hàng bán lẻ phân bón trong xã khá nhiều Họ không chỉ bán phân bón mà còn bán các loại hàng tạp hoá

khác Vì thế, việc cung ứng phân bón ở đây cho sản xuất rau khá thuận lợi

Về giá cả: Chênh lệch giá cả từ chủ xe đến người bán lẻ và người sản xuất khoảng

3 đến 5 giá Ví dụ 1 kg phân đạm, các chủ xe bán cho các cửa hàng bán lẻ là 4500 đ/kg thì các cửa hàng lại bán lại cho các hộ là 5000 đ/kg

Do nguồn cung cấp phân khá thuận tiện nên lượng mua trong 1 lần của các hộ không nhiều ( 5 - 10Kg) Họ có thể mua chịu mà không phải trả lãi

Trang 15

15

Hộ nông dân

Phân bón Thuốc sâu Hạt giống

Xuất khẩu

Người bán lẻ

Đại lý cấp 2

Đại lý cấp 1 ở các chợ: Ba đồn, Đồng Hới, Đông Hà, Huế, Đà nẵng, Q.ngãi

Công ty Xuất khẩu Miền Bắc

Xí nghiệp C.Biến Xuân Lộc

Đại lý cấp 1 ở chợ đầu mối Vinh, Hà tĩnh

Đại lý cấp 2 Bán lẻ

Người tiêu dùng

Trang 16

Hạt rau giống: Hạt rau giống được cung cấp chủ yếu từ các cửa hàng bán tạp hoá ở

chợ Cũng giống như những hộ kinh doanh phân bón, hạt rau giống cũng chỉ là một trong số nhiều mặt hàng kinh doanh của cửa hàng (phân bón, xi măng, các mặt hàng gia dụng…) Các Chủ cửa hàng này lấy hạt rau giống từ Hà Nội Do có quan hệ bạn hàng truyền thống với các nhà cung cấp hạt rau ở Hà Nội, việc đặt mua hạt rau khá đễ dàng Hàng vụ, căn cứ vào lịch thời vụ sản xuất và nhu cầu của các hộ nông dân, các chủ cửa hàng đặt hàng với nhà cung cấp (gồm số lượng, chủng loại hạt rau) Do khối lượng hạt rau ít nên việc vận chuyển chúng từ Hà Nội về Quỳnh Lương được thực hiện thông qua các xe chở hành khách Vì thế, chi phí cho việc vận chuyển hạt giống từ Hà Nội về đến Quỳnh Lương thấp Tuy nhiên, chênh lệch về giá bán hạt giống khoảng 5% Tuỳ theo kế hoạch sản xuất của mình mà các hộ có thể đến cửa hàng để mua hạt giống Chất lượng hạt giống nhìn chung được đảm bảo Tuy nhiên, vẫn có hiện tượng người dân mua phải hạt giống kém chất lượng

Thuốc Bảo vệ thực vật: Hiện ở xã có một cửa hàng bán thuốc BVTV Người dân trong

xã có thể đến cửa hàng để mua thuốc về dùng

3.2 Chuỗi cung các yếu tố đầu ra

3.2.1 Hướng thứ nhất: các hộ bán rau cho thu gom lớn

BÁN SẢN PHẨM TẠI CÁC CHỢ

Hiện ở Quỳnh lương có ông Hải là chủ thu gom duy nhất và lớn nhất Bình quân mỗi ngày ông hải mua khoảng 30 - 50 tấn rau các loại Lượng rau mua mỗi ngày tuỳ thuộc vào lượng rau sản xuất trong vùng Sau khi được tập kết về địa điểm quy định, rau sẽ được cắt gọt, đóng bao chất lên xe và chở đến các chợ đầu mối ở Ba Đồn, Đồng Hới, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi để bán cho các Đại lý ở các chợ đầu mối Từ đó, rau được phân phối cho các đại lý ở các chợ khác trong từng tỉnh, rồi đến những người bán lẻ, người tiêu dùng

Theo hướng này độ dài chuỗi cung không lớn Từ người sản xuất đến người tiêu dùng, rau phải đi qua 3 - 4 trung gian mặc dù khoảng cách địa lý từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ khá xa (nơi xa nhất là Quảng Ngãi 700 km)

Phương thức phân phối trong chuỗi rất đơn giản Do có quan hệ bạn hàng từ lâu nên việc giao hàng từ ông Hải (nhà thu gom lớn) đến các đại lý khá đơn giản Trên đường vận chuyển rau từ Quỳnh Lương đi vào các tỉnh phía Nam, theo lời hẹn, ông Hải thường đặt rau

ở một vị trí quy định trên đường Quốc lộ I mà không cần gặp mặt và giao hàng trực tiếp cho các mối chính Trên mỗi bao hàng, ông Hải ghi tên của từng người, số lượng rau và giá bán của từng loại rau Sau đó các mối chính (đại lý cấp 1) ở các địa điểm (Ba Đồn, Đồng Hới, Đông Hà) sẽ cho người đến vị trí đó để chở hàng về Riêng các chợ Đông Ba, Đà Nẵng và Quảng Ngãi, rau được đưa đến tận chợ đầu mối để giao trực tiếp cho các đại lý

Để có thể thu gom và vận chuyển rau đi xa, ông Hải đã thuê 36 lao động Trong đó:

20 lao động làm nhiệm vụ chuyên chở rau từ các hộ sản xuất rau về địa điểm tập kết Bình quân 1 lao động loại này được trả 1,8 triệu đồng/tháng (bao gồm tiền công, tiền khấu hao xe

Trang 17

xe Bình quân 1 lao động loại này được trả 700 ngàn đồng/tháng; 6 lái xe chuyên làm nhiệm

vụ chở hàng Bình quân mỗi lái xe được trả 1,5 triệu đồng/tháng (không kể tiền ăn uống dọc đường)

Hiện ông Hải có 3 xe tải Hundai, trọng tải 7 tấn chuyên làm nhiệm vụ chở hàng Trong trường hợp có nhiều rau, ông Hải sẽ thuê thêm xe để chở Chi phí bình quân cho một chuyến hàng từ Quỳnh Lương đi Huế hết 1,8 triệu, đi Đà Nẵng hết 2,1 triệu và đi Quảng Ngãi hết 2,5 triệu đồng (bao gồm: xăng, thuế cầu đường, tiền ăn uống của lái xe và các lộ phí khác)

Hầu như không có biện pháp nào để bảo quản rau ngoài việc đóng gói rau vào các sọt hoặc bao bì rồi cho lên xe vận chuyển đến nơi tiêu thụ Vì thế, rau sẽ bị giảm chất lượng nếu để quá 12 - 14 giờ tình từ lúc bắt đầu thu hoạch Do những hạn chế này mà ông Hải không dám mở rộng thị trường ra các tỉnh xa hơn (Bình Định, Phú Yên)

Do phải chi phí cho các hoạt động trên nên chênh lệch giá từ ông Hải đến các đại lý

ở các chợ đầu mối khoảng 7 - 10 giá tuỳ thuộc khoảng cách

Bảng 13 : Chênh lệch giá trong chuỗi cung

Do điều kiện tự nhiên ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến Quảng Ngãi rất khắc nghiệt nên việc trồng rau gặp nhiều khó khăn, năng xuất rau thấp, chất lượng kém Vì thế, người tiêu dùng ở khu vực này khá dễ tính Họ có thể tiêu thụ hầu hết các loại rau mà Quỳnh Lương sản xuất ra (cải, hành, cà rốt, xu hào, xu lơ…) với chất lượng ở mức độ trung bình (rau hơi héo hoặc hơi già một chút vẫn có thể tiêu thụ được) Chính vì lý do này mà công việc tiêu thụ rau của ông Hải khá thuận lợi

Trong hướng này, ông Hải đóng vai trò trưởng chuỗi, quyết định khối lượng, chủng loại và giá bán sản phẩm Riêng giá mua sản phẩm tại Quỳnh Lương thì ông không thể điều tiết được, vì phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và mức độ cạnh tranh với những nhà thu gom nhỏ

Để có được thông tin về giá cả, số lượng, chủng lợi sản phẩm, ông Hải thường sử dụng điện thoại để liên hệ với các mối chính (đại lý cấp 1) Qua trao đổi, họ có thể thống nhất với nhau về những vấn đề về số lượng, giá cả, chủng loại rau và cả những thông tin về kết quả nhận được sản phẩm của đợt hàng trước và thời điểm thanh toán Từ những hoạt động trên có thể thấy, dòng thông tin từ nhà thu gom lớn (ông Hải) đến các đại lý cấp 1

Trang 18

(mối chính ở các chợ Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi) khá rõ ràng

Về phương thức thanh toán: căn cứ vào số lượng sản phẩm được ghi trên mỗi bao bì

và số lượng thực tế nhận được, các Đại lý sẽ thanh toán tiền cho ông Hải Phương thức thanh toán chủ yếu qua tài khoản ở ngân hàng Thời gian thanh toán 5 - 7 ngày Trong trường hợp có sự chênh lệch về số lượng giữa thực tế và số ghi trên bao bì, các đại lý sẽ điện thoại thông báo cho ông Hải Hai bên trao đổi thoả thuận Khi đã đạt được sự nhất trí, tiền sẽ được chuyển về qua tài khoản tại Ngân hàng

BÁN SẢN PHẨM CHO CÔNG TY CHẾ BIẾN XUÂN LỘC

Ngoài việc bán rau cho các chợ ở các tỉnh miền Trung, ông Hải còn đem hành bán cho công ty chế biến Xuân Lộc - Nam sách - Hải Dương Công ty này mua hành tươi của ông Hải để chế biến thành hành khô rối sau đó bán cho Công ty Xuất khẩu miền Bắc Từ

đó, hành khô được đem xuất khẩu ra nước ngoài

Bình quân 1 ngày ông Hải có thể bán cho Công ty 1 - 2 xe hành tươi (5 - 10 tấn hành) Giá bán hành tuỳ thuộc vào giá cả thị trường Việc bán hành của ông Hải cho công

ty tương đối thuận lợi Qua điện thoại, ông Hải có thể trao đổi với công ty về giá cả, số lượng hàng

Do sản phẩm qua chế biến nên việc xác định chênh lệch giá không thể xác định chính xác Tuy nhiên, theo ông Hải, để chế biến được 1 tạ hành khô cần 2,5 tấn hành tươi Chi phí cho việc chế biến 1 kg hành hết 1000 đồng (bao gồm tiền than, củi và công lao động) Giá bán 1 kg hành khô biến động từ 60 đến 90 ngàn đồng/kg tuỳ chất lượng sản phẩm

Hiện nay, ông Hải đang xây dựng và sẽ đưa một nhà máy chế biến hành khô với công suất 7 tấn hành tươi/ngày tại địa bàn xã Nhà máy này có khả năng thu hút 30 công nhân vào hoạt động trong năm tới

3.2.2 Hướng thứ hai: các hộ gia đình nông dân bán sản phẩm cho các nhà thu gom nhỏ

Hiện ở Quỳnh Lương có khoảng 300 nhà thu gom nhỏ Trong đó có 50 người đem đến các chợ ở Thành phố Vinh để bán, số còn lại bán ở các chợ lẻ ở Thanh Hoá, và các huyện khác trong tỉnh Như vậy, hướng này có 2 cách:

Cách 1: Các thu gom nhỏ hợp tác với nhau để bán cho các đại lý cấp 1 ở các chợ đầu

Hành trình mua và bán sản phẩm của anh được tiến hành như sau: hàng ngày từ 7 giờ sáng, vợ anh đến tận các hộ sản xuất để mua rau Sau khi việc mua bán được thực hiện, anh và vợ chở rau từ các hộ về nhà để đóng gói 22 giờ, rau được chất lên xe và chở

về Vinh để bán Việc bán rau được thực hiện ngay trong đêm (0 đến 2 giờ sáng) Sau khi hoàn tất việc bán rau, anh cùng các bạn hàng theo xe khách để về nhà

Để có thể đóng gói và vận chuyển rau về Vinh, anh Trung phải chi 40 ngàn đồng

Trang 19

tiền xăng để chở rau từ các hộ nông dân về nhà, 20 bao bì (trị giá 40 ngàn đồng), 10 sọt bằng tre (trị giá 50 ngàn đồng), thuê 4 lao động làm nhiệm vụ bó, buộc và cắt rau (80 ngàn đồng), cùng 4 người khác thuê 1 chuyến xe ô tô để chở hàng về Vinh (giá thuê 350 ngàn đồng/chuyến)

Khi đem hàng đến Vinh, anh Trung thường bán rau cho 5 - 6 nhà bán buôn cấp 1 ở chợ Vinh Những người này (nhà bán buôn cấp 1) lại phân phối rau cho các nhà bán buôn cấp 2 ở chợ Vinh hoặc các chợ khác trong thành phố Vinh Từ đây, rau mới được đưa đến cho những người bán lẻ

Giá bán rau từ các hộ gia đình đến người tiêu dùng được thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 14: Chênh lệch giá trong chuỗi các nhà thu gom nhỏ

ĐVT: 1000 đồng/kg

Loại rau Giá mua ở các hộ

trồng rau

Giá bán cho bán buôn cấp 1

Người tiêu dùng cuối cùng

Mặc dù biết được sự chênh lệch về giá cao như vậy nhưng anh Trung không thể bán trực tiếp sản phẩm đến tay người tiêu dùng bởi khối lượng hàng bán lớn, anh lại không có nhân lực và thời gian

Về thanh toán: Sau khi mua rau của các hộ gia đình nông dân khoảng 3 - 5 ngày, anh Trung mới trả tiền cho các hộ (bằng tiền mặt) Tuy nhiên, khi bán rau cho các đại lý cấp 1 ở Vinh, anh lại được họ trả tiền ngay Bằng cách này, anh Trung hầu như không phải

bỏ vốn để kinh doanh Nguồn vốn sử dụng cho các hoạt động kinh doanh của anh đều dựa vào nguồn vốn của các hộ sản xuất rau

Mặc dù có sự chiếm dụng vốn của nhau nhưng quan hệ hợp tác giữa anh Trung và

35 hộ trồng rau khá chặt chẽ Anh Trung đảm nhận việc bao tiêu 80% lượng rau sản xuất của các hộ Việc bao tiêu này được duy trì trong mọi hoàn cảnh (thị trường thuận lợi hoặc không thuận lợi) Vì thế, anh Trung luôn có nguồn hàng ổn định Chỉ có 20% sản lượng còn lại của các hộ được bán cho những người bán lẻ khác

Quan hệ hợp tác của anh Trung với các đại lý cấp 1 ở Vinh cũng khá chặt chẽ Anh chỉ bán rau cho 5 - 6 người quen ở chợ Vinh Những người này sẽ bao tiêu sản phẩm cho anh trong mọi hoàn cảnh (ví dụ: khi anh gặp trục trặc trên đường vận chuyển từ Quỳnh Lương về Vinh, thời điểm giao hàng bị muộn so với điểm bán hàng thường ngày (0 giờ đến

Trang 20

2 giờ sáng) hàng của anh sẽ bị giảm giá hoặc không bán hết Khi đó, các đại lý sẽ chia sẽ rủi ro với anh bằng cách mua hết hàng cho anh với giá chấp nhận được)

Về dòng thông tin trong chuỗi: Anh Trung thường thông tin với các đại lý cấp 1 bằng điện thoại Hàng ngày, các đại lý gọi điện thoại cho anh để thoả thuận về số lượng, chủng loại và giá cả của sản phẩm Số lượng và chủng loại sản phẩm được quyết định bởi các hộ sản xuất; giá cả của từng loại rau được 2 bên trao đổi và thoả thuận

Người sản xuất nắm thông tin về giá cả thị trường thông qua những người thu gom trong xã Tuy nhiên, việc quyết định cơ cấu và chủng loại sản phẩm của các hộ sản xuất không chỉ phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường mà còn phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất của từng loại sản phẩm, vào quy mô sản xuất và các nguồn lực mà họ có Ví dụ, gia đình ông Giáp không trồng su hào và cải bắp mà trồng hành vì ông cho rằng thời gian trồng su hào và cải bắp dài (3 tháng), trong khi đó hành chỉ cần 1,5 tháng; Ngược lại, ông không trồng rau cải nhiều mặc dù thời gian sản xuất của cải chỉ có 25 ngày 1 lứa, bởi vì nhà ông không có đủ nguồn nhân lực Tuy nhiên, với các hộ có diện tích sản xuất rau nhiều

và xa nhà ở của họ, họ lại chọn cây su hào và cải bắp hoặc khoai tây để trồng vì nó đòi hỏi đầu tư công chăm sóc ít hơn các cây trồng khác

Từ những vấn đề trên cho thấy, người đứng đầu chuỗi trong hướng này là những nhà thu gom

Cách 2: Các thu gom nhở bán trực tiếp cho người tiêu dùng ở các chợ nông thôn trong

tỉnh Nghệ An

Khác với hình thức thứ nhất, ở hình thức này mỗi nhà thu gom chỉ mua 2 - 4 tạ rau trong một ngày Sau khi mua rau ở các hộ, họ trực tiếp chở rau bằng xe máy đến các chợ nông thôn trong tỉnh để bán cho người tiêu dùng Những nơi mà họ đem đến thường là những nơi không có điều kiện để sản xuất rau

Do vừa là người mua, vừa là người bán nên mọi thông tin về số lượng, cơ cấu, chủng loại sản phẩm và giá cả sản phẩm đều do chính họ quyết định trên cơ sở cung cầu trên địa bàn mà họ hoạt động

4 Phân tích hoạt động của chuỗi

Từ những mô tả trên cho thấy:

- Chuỗi cung đầu ra của rau có tính hợp tác rất chặt chẽ, đặc biệt là sự hợp tác giữa những nhà thu gom với các đại lý ở các chợ đầu mối Sự hợp tác này không chỉ thể hiện trong hợp đồng giao hàng (bằng miệng, không bằng văn bản) mà còn cùng nhau chia sẻ rủi ro Chính nhờ sự hợp tác này mà họ đã duy trì được mối quan hệ bạn hàng rất lâu dài và ổn định

- Hiện tại, cung rau của Quỳnh Lương phải đối mặt với 2 đối thủ Đó là các nhà sản xuất rau ở Đà Lạt và các nhà sản xuất rau ở các địa phương (Đồng Hới, Huế, Đà nằng…) Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh không cao Sở dĩ như vậy là vì sản xuất rau đòi hỏi phải có một điều kiện sản xuất khắt khe (đất phải tơi xốp, đủ nguồn nước ngầm, khí hậu thuận lợi) Trong khi đó, các tỉnh trong khu vực miền Trung (từ Quảng Trị trở vào đến Quảng Ngãi) điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt nên chi

Trang 21

phí sản xuất rau cao, chất lượng rau thấp Trong khi đó, Quỳnh Lương lại có điều kiện khá lý tưởng để sản xuất rau quanh năm với chi phí sản xuất thấp, chất lượng cao

- Chênh lêch giá không đồng đều Người hưởng chênh lệch giá nhiều nhất là các đại

lý và những người bán lẻ Sự bất hợp lý trên chỉ có thể khắc phục khi hệ thống các siêu thị ở Việt Nam được hình thành và phát triển

- Luồng thông tin về giá cả, cơ cấu, chủng loại và số lượng sản phẩm trong chuỗi khá thông suốt từ các đại lý đến nhà thu gom Tuy nhiên, đối với người nông dân, các thông tin về giá cả thị trường còn thiếu và phụ thuộc nhiều vào các nhà thu gom Việc quyết định cơ cấu, chủng loại và số lượng sản phẩm sản xuất ra được quyết định bởi chính người nông dân Vì thế tình trạng cung cầu không cân đối trong từng thời kỳ vẫn thường xảy ra

- Hiện nay, Quỳnh Lương đã xây dựng một trang WEB nhằm giới thiệu sản phẩm của mình Đây là một cơ hội tốt để rau của Quỳnh Lương tiếp cận với thị trường thế giới

- Việc bảo quản, chế biến rau nhằm nâng cao chất lượng và kéo dài tuổi thọ của sản phẩm chưa thực hiện được Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người sản xuất khi cung cầu mất cân đối

III KẾT LUẬN

- Nhìn chung việc tiêu thụ rau ở Quỳnh Lương khá thuận lợi Nhờ sự phát triển của

hệ thống các nhà thu gom nên quy mô sản xuất rau của Quỳnh Lương ngày càng được mở rộng

- Sản xuất rau vẫn còn manh mún và mang tính tự phát Để rau của Quỳnh Lương

có điều kiện phát triển mạnh hơn, hiệu quả hơn cần có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà sản xuất với các nhà kinh doanh;

- Trong tương lai cần nhanh chóng chuyển sang hướng sản xuất rau an toàn để nâng cao giá trị và hiệu quả của nghề trồng rau

- So với các nghề sản xuất khác, sản xuất rau vẫn là nghề mang lại thu nhập cao cho người dân trong xã Vì thế, cần duy trì và phát triển ngành sản xuất này

Trang 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NÔNG HỘ VÙNG GÒ ĐỒI Ở NGHỆ AN

Nông hộ: Tạ Khắc Thành

NGƯỜI NGHIÊN CỨU Trương Chí Hiếu

Nghệ An, 2006

Trang 23

Nông hộ: Ông Ngân Văn Thắng

NGƯỜI NGHIÊN CỨU

Lê Sĩ Hùng

Nghệ An, 2006

Trang 24

MỤC LỤC

I Phân tích sản xuất nông hộ 3

1 Giới thiệu 3 1.1 Lý do phân tích 3 1.2 Mục đích của báo cáo 3

2 Nội dung 4 2.1 Một vài nét khái quát về nông hộ 4 2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ 6 2.3 Giải pháp nâng cao thu nhập của hộ 11

II Phân tích chuỗi cung 12 III Kết luận 13

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Tổng hợp nhân khẩu và lao động của hộ 4 Bảng 2: Tình hình TLLĐ của hộ 5 Bảng 3: Cơ cấu đất đai của hộ 6 Bảng 5: Tổng hợp kết quả sản xuất của hộ 7 Bảng 6: Thu chi tiền mặt của hộ ở các tháng trong năm 8 Bảng 7: Kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ năm 2005 9 Bảng 8: Phân tích nhạy cảm theo giá và rủi ro trong SX của hộ 11

Trang 25

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

VỀ PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP Nông hộ:

Ông: Ngân Văn Thắng, Thôn 5 Xã Nghĩa Đức

Huyện: Nghĩa Đàn

Tỉnh: Nghệ An

Ngày phỏng vấn: 8-1-2006

Người phỏng vấn: Lê Sỹ Hùng Trường ĐHKT Huế

Người viết báo cáo: Lê Sỹ Hùng

Trong phạm vi báo cáo này, chúng tôi phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh của nông hộ điển hình ở vùng gò đồi Hai lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu là phân tích sản xuất cấp nông hộ và phân tích chuỗi thị trường một số sản phẩm chủ yếu của nông hộ

Phương pháp nghiên cứu điều tra phỏng vấn trực tiếp chủ hộ, phỏng vấn đầu mối tiêu thụ sản phẩm, nghiên cứu thị trường bán buôn và bán lẻ nông sản chủ yếu Đồng thời tham khảo các tài liệu liên quan đến định mức kinh tế kỹ thuật của một số cây trồng và vật nuôi liên quan Phương pháp chuyên gia cũng được áp dụng để kiểm tra lại thông tin phỏng vấn Trong phân tích kinh doanh nông hộ chúng tôi sử dụng một số chỉ tiêu thuộc

hệ thống tài khoản quốc gia SNA như: tổng giá trị sản xuất GO, chi phí trung gian IC, giá trị gia tăng GM, tỷ suất GO/IC, GM/IC để đánh giá kết quả và hiệu quả của nông hộ nghiên cứu Mặt khác, chúng tôi còn căn cứ vào chi phí cơ hôi của lao động gia đình để xác định lợi nhuận Căn cứ vào sự biến động của năng suất, giá bán chúng tôi phân tích nhạy cảm của kết quả và hiệu quả khi có sự thay đổi của các yếu tố trên

I Phân tích sản xuất nông hộ

1 Giới thiệu

1.1 Lý do phân tích

Căn cứ vào mục tiêu tổng quát của dự án AGRIBIZ là nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ kinh doanh nông nghiệp cho các nông hộ ở Miền Trung Việt Nam

1.2 Mục đích của báo cáo

- Đánh giá thực trạng hệ thống sản xuất nông nghiệp của nông hộ điển hình ở miền núi tỉnh Nghệ An

- Xác định kết quả, hiệu quả kinh tế, tình hình tiêu thụ sản phẩm và phân tích sơ bộ chuỗi cung một số sản phẩm quan trọng của hộ

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ Rút ra một số nhận xét về hệ thống sản xuất ở vùng miền núi tỉnh Nghệ An làm cơ sở để xây dựng chương trình tập huấn cho các đối tượng của dự án

Trang 26

2 Nội dung:

Nghĩa Đàn là huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 80

km về phía tây bắc Điều kiện khí hậu thời tiết và đất đai ở đây rất thuận lợi cho việc

canh tác các loại cây hàng năm và cây lâu năm như: Mía, sắn , cam, cà phê

Thuận lợi cơ bản của việc trồng mía hiện nay ở đây là hệ thống đường giao thông

khá hoàn chỉnh, đường cấp phối đủ cho 2 làn xe ô tô đã vào đến tận ruộng mía của các

nông hộ Tuy nhiên, do ở cách xa thành phố Vinh và địa hình phức tạp cho nên việc giao

lưu về hàng hoá, trao đổi khoa học kỹ thuật với trung tâm tỉnh lỵ còn gặp nhiều khó

khăn.2.1 Một vài nét khái quát về nông hộ

2.1.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ

Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ được phản ánh ở Bảng 1

Chủ hộ là ông Ngân Văn Thắng người dân tộc Thái Ông Thắng năm nay 42 tuổi,

trình độ văn hoá 7/10 Ông Thắng sinh ra, lớn lên và lập nghiệp tại đây, nghề nghiệp

chính của gia đình là nông nghiệp và đi làm thuê Hộ ông Thắng có 7 người gồm 2 vợ

chồng và 5 người con ( 4 trai, 1 gái) Anh con trai đầu năm nay 20 tuổi đã nghỉ học từ

năm lớp 10 cách đây 5 năm Dự kiến cuối năm nay ông Thắng sẽ cưới vợ cho con trai

đầu của mình Người con trai thứ 2 năm nay 20 tuổi và cũng đã nghỉ học từ năm lớp 9

cách đây 5 năm Hiên nay, người con trai thứ 2 đang làm thuê ở Sơn la Người con trai

thứ 3, 4 và cô con gái út đang học lớp 11, lớp 8 và lớp 7

Bảng 1: Tổng hợp nhân khẩu và lao động của hộ

Vợ ông Thắng cũng là người dân tộc Thái, năm nay 42 tuổi, trình độ văn hoá lớp

3/10 nhưng đọc và viết tiếng kinh rất tốt

Như vậy, lao động chính của hộ ông Thắng là 4 người gồm 2 vợ chồng và 2 đứa

con, 3 lao động phụ là 3 đứa con đang đi học, hàng ngày 1 buổi đi học ở trường còn 1

buổi làm việc đồng ruộng và gia đình giúp bố mẹ Ông Thắng cho biết lực lượng lao

động nhà ông là rất dồi dào, ông cho rằng với diện tích đất đai ít như nhà ông thì chỉ cần

2 lao động và 2 lao động phụ là đủ Như Vậy hộ ông Thắng đang trong tình trạng thừa lao

động thiếu việc làm

Trang 27

Khi hỏi về mục tiêu của hộ trong năm 2006 và vài năm tới thì ông Thắng trả lời

ngay là:

Thứ nhất: Đảm bảo đủ ăn tiêu cho cả nhà

Thứ hai: Duy trì việc học của 3 đứa con ít nhất là hết lớp 12

Năm 2004 gia đình ông Thắng thuộc diên hộ nghèo, nhưng từ năm 2005 gia đình

ông được xã xếp vào loại trung bình và cũng từ đây gánh nặng của việc học tập cho 3 đứa

con tăng lên rất nhiều

2.1.2 Cơ sở vật chất hiện có của hộ

Tình hình trang bị tư liệu lao động của hộ được phản ánh ở Bảng 2

Tài sản có giá trị nhất của hộ là chiếc xe máy Dream Trung Quốc, trị giá 8.000

nghìn đồng Gia đình ông sử dụng chiếc xe này chủ yếu cho việc đi làm thuê, chăm sóc

mía và đi lại của gia đình Ông Thắng cho biết, sai lầm lớn của gia đình ông ở năm 2004

là việc quyết định mua chiếc xe này vì kể từ khi có nó thì hộ nhà ông được bà con trong

thôn 5 bình bầu là đã thoát nghèo và như vậy là gia đình ông không còn được hưởng một

số chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo

Bảng 2: Tình hình TLLĐ của hộ Loại TLLĐ Số

lượng

Giá trị (1000đ)

Thời gian sử dụng (năm)

Thời gian đã sử dụng (năm)

Giá trị còn lại (1000đ)

Tư liệu lao động phục vụ chăn nuôi, nông hộ có 1 chuồng lợn diện tích 12m2

Năm 2004 hộ đã nuôi lợn nái nhưng do không nắm vững kỹ thuật nên đã bị thua lỗ nặng,

từ năm 2005 đến nay hộ đã chuyển sang nuôi lợn thịt Về chuồng bò hộ có một cái với

diện tích 24m2 làm từ năm 2004 với chi phí hết 3.000 nghìn đồng và giá trị còn lại là

2.000 nghìn đồng Hiện tại hộ đang có 2 con bò và 1 con bê Một số TLLĐ cơ bản phục

vụ cho trồng trọt như: Bình phun thuốc sâu, máy bơm nước, xe cải tiến hộ ông Thắng

không có Ông cho biết khi cần có thể đi mượn của bà con trong gia đình, vì vậy ông

chưa sắm các loại TLLĐ này

Về vốn vay, đầu năm 2004 hộ đã vay của ngân hàng phục vụ người nghèo 10.000

nghìn đồng, với mức lãi suất 0,7% 1 tháng và thời hạn vay là 12 tháng Nhờ số vốn vay

này mà hộ đã làm được chuồng bò và mua được 2 con bê, khoản vay này hộ đã trả cho

ngân hàng vào cuối năm 2004 Hiện nay hộ đang vay của ông Tiến ( người cùng thôn)

Trang 28

3.000 nghìn đồng lãi suất 1% 1tháng, theo thoả thuận thì trả khi nào là tuỳ ông Thắng

Khoản tín dụng này hộ vay từ đầu năm 2005 và sử dụng cho việc học tập của 3 đứa con

Tình hình đất đai của hộ được phản ánh ở Bảng 3

Tổng diện tích đất đai của hộ là 35 sào, trong đó đất nông nghiệp là 34,6 sào

chiếm 98,8%, phần còn lại là đất ở 0,4 sào chiếm 1,2% Trong đất nông nghiệp chỉ có đất

canh tác và đất vườn không có đất trồng cây lâu năm và ao hồ Như vậy hoạt động chính

của hộ là canh tác các loại cây trồng hàng năm và chăn nuôi gia đình

Đất trồng lúa của hộ có 3 sào, được chia thành 2 thửa, thửa 1 là 1,4 sào và thửa 2

là 1,6 sào 2 thửa đất trồng lúa chỉ cách nhà ở của hộ khoảng 1,5 km và đặc biệt là đã

được tưới tiêu chủ động nên rất thuận lợi cho việc canh tác Hàng năm 3 sào đất trồng lúa

đều đảm bảo 2 vụ ăn chắc với năng suất đạt 250-300kg/sào 1vụ Nhưng vì hộ đông người

nên 3 sào ruộng này chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu lương thực của hộ Vì vậy, hàng năm

hộ vẫn phải mua thêm lương thực để tiêu dùng

Đất trồng mía của hộ là 30 sào được chia thành 3 thửa, mỗi thửa 10 sào Cả 3 thửa

đất này cách nhà ở của hộ khoảng 7-8 km cho nên khi chăm sóc hoặc thu hoạch hộ phải

sử dụng xe máy

Đa số các loại đất của hộ là được chính quyền cấp và đã có thẻ đỏ, riêng 1 sào đất

trồng sắn là hộ tự khai hoang năm 2004 và đã canh tác được 1 vụ sắn ở năm 2005 cho

đến nay chưa được cấp giấy tờ gì

Bảng 3: Cơ cấu đất đai của hộ

Với cơ cấu đất đai và TLLĐ của hộ cho thấy hoạt động sản xuất chủ yếu của hộ là

trồng trọt, trong đó đa số là các loại cây trồng hàng năm Bố trí mùa vụ của hộ được thể

hiện ở Bảng 4

Trang 29

5 Vườn quanh năm

Theo lịch thời vụ trên đối với cây lúa vụ đông xuân thường gặp rét ở đầu vụ

nhưng ở cuối vụ là nắng hạn Với vụ hè thu thì đầu vụ là nắng hạn cuối vụ là mưa lụt

Nhìn chung công việc của hộ là ít căng thẳng, chỉ vào những năm phải trồng mới mía thì

vào tháng 12 và tháng 1 năm sau công việc của hộ là khá bận rộn

2.2.2 Kết quả sản xuất của hộ

Kết quả sản xuất của hộ được thể hiện ở Bảng 5

Hoạt động làm thuê đã đem lại kết quả lớn nhất cho hộ Tổng số tiền thu được từ

hoạt động này là 5.000 nghìn đồng nhưng phải chi phí 500 nghìn đồng tiền xăng nên GM

là 4500 nghìn đồng Hàng năm ngoài những lúc bận rộn công việc sản xuất trong gia đình

ông Thắng và 2 người con trai đi làm thuê cho các hộ khác trong xã hoặc trong huyện để

kiếm thêm thu nhập, công việc thường làm là phụ thợ xây, dọn vườn và nói chung ai thuê

gì thì làm nấy Mức thù lao 1 ngày công của ông thường là 22 nghìn đồng còn của 2 anh

con trai chỉ là 18 nghìn đồng Theo tính toán của chủ hộ thì hiện nay hộ đang thừa 2 lao

động chính và 1 lao động phụ, nếu có đủ việc làm thì thu nhập của hộ sẽ tăng lên nhiều so

với hiện tại

Bảng 5: Tổng hợp kết quả sản xuất của hộ

Giá

Loai cây, con

Số lượng

(sào,con)

Năng suất

(kg)

Sản lượng

Cây lúa đã đem lại nguồn thu lớn nhất cho hộ ở ngành trồng trọt Với 3 sào ruộng

lúa chủ động tưới tiêu trong cả 2 vụ, năm 2005 họ đã thu được 1700 kg lúa và GM là

2834 nghìn đồng Theo tính toán của chủ hộ thì nếu có thêm 2 sào ruộng lúa nữa thì vấn

Trang 30

đề lương thực của hộ sẽ được đảm bảo Nhưng điều này là không thể được vì xã Nghĩa Đức không còn ruộng để cấp và cũng không có hộ nào bán hay cho thuê

Thu nhập từ vườn của hộ là 360 nghìn đồng Cây trồng chủ yếu trong vườn là chuối, ngoài ra còn có chè, khoai lang và một số cây gia vị để phục vụ cho tiêu dùng và chăn nuôi của hộ Với 0,6 sào đất vườn chưa được đầu tư và qui hoạch nên thu nhập đem lại còn rất thấp

Năm 2005 hộ đã nuôi được 2 lứa lợn thịt, mỗi lứa 3 con trọng lượng xuất chuồng bình quân 1con là 45kg Toàn bộ chi phí thức ăn là của gia đình không phải mua ngoài,

hộ chỉ phải chi tiền mặt trực tiếp là 1080 nghìn đồng để mua con giống Hoạt động chăn nuôi lợn thịt của hộ đã đem lại 2160 nghìn đồng GM

Hiện tại hộ đang có 3 con bò và 1 con bê, năm 2005 hộ không bán con nào mà mua thêm 1 con bê Khi được hỏi tại sao không bán thì chủ hộ cho biết chỉ khi nào gia đình có việc lớn như: làm nhà, mua xe máy, hiếu, hỷ thì mới bán Qua tìm hiểu chúng tôi được biết đây là tập quán chăn nuôi bò của đồng bào dân tộc Thái nói chung ở xã Nghĩa Đức

Tình hình thu, chi tiền mặt cho sản xuất của hộ ở các tháng trong năm được thể hiện ở Bảng 6

Khoản thu bằng tiền của hộ từ 4 hoạt động: mía, vườn, chăn nuôi lợn và làm thuê Cây lúa và cây sắn hộ sản xuất là để phục vụ cho tiêu dùng nội bộ Các khoản thu của hộ tập trung vào các tháng 5, 9, 11 và 12, đây là thời gian hộ bán lợn và thu hoạch mía Các khoản chi bằng tiền của hộ cho sản xuất đều có ở các tháng trong năm, tập trung nhiều vào 6 tháng đầu năm, tháng 7 và tháng 10 chi tiền mặt cho sản xuất là thấp nhất Đây là thời gian các đối tượng sản xuất của hộ đang trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển

Cân đối thu chi của hộ cho thấy, 2 tháng đầu năm chi lớn hơn thu, đây là thời gian

hộ bắt đầu các hoạt động sản xuất trong năm Nhưng cân đối thu chi của 2 tháng này vẫn

là 1405 nghìn đồng và 125 nghìn đồng vì có 2500 nghìn đồng từ tháng 12 năm trước chuyển sang 6 tháng cuối năm thu lớn hơn chi, đặc biệt là vào các tháng 9, 11 và 12, đây

là thời gian hộ bán lợn và thu hoạch mía

Bảng 6: Thu chi tiền mặt của hộ ở các tháng trong năm

Trang 31

Tóm lại: Qui mô sản xuất của hộ còn nhỏ lẻ, cơ cấu sản xuất đơn điệu, sản phẩm

hàng hoá của hộ ít, kết quả đạt được là chưa tương xứng với tiềm năng của hộ

2.2.3 Phân tích kết quả và hiệu quả sản xuất mía

Nghĩa Đức là xã miền núi của huyện Nghĩa Đàn, điều kiện tự hiên ở đây rất thuận lợi cho việc canh tác các loại cây công nghiệp hàng năm như mía Đặc biệt kể từ năm

1999 khi Công ty liên doanh mía đường Nghệ An Tate and Lyle (Quỳ Hợp) đi vào hoạt động thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm cho các nông hộ đã được giải quyết một cách ổn định

Xã Nghĩa Đức nói chung và hộ ông Thắng nói riêng đều coi cây mía là cây trồng chính, trong điều kiện bình thường thì mía là cây trồng đem lại nguồn thu lớn nhất cho hộ Vì vậy việc chọn cây mía để phân tích từ đó giúp hộ định hướng sản xuất và tiêu thụ là vấn

đề hợp lý

Năm 2005 cả tỉnh Nghệ An nói chung và xã Nghĩa Đức nói riêng bị hạn rất nặng, liên tục từ tháng 4 đến tháng 8 không có mưa Chính vì vây đây là năm mất mùa lớn đối với cây mía Ước tính năng suất bình quân cả xã chỉ bằng 60% so với những năm bình thường Riêng hộ Ông Thắng thất bại còn lớn hơn vì không có máy bơm Xuất phát từ thực tế như vậy, kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ được chúng tôi tính toán trong 2 trường hợp

Một là, trường hợp không chủ động tưới, đây là kết quả thực tế của nông hộ

nghiên cứu

Hai là, Trường hợp chủ động tưới Trường hợp này chúng tôi phỏng vấn 1 hộ

khác về chi phí bơm nước, hộ này có điều kiện ruộng đất trồng mía gần giống hộ ông Thắng Như vậy, đây là trường hợp hộ Ông Thắng có thể đạt được nếu đảm bảo được nước tưới cho mía

Tổng hợp chi phí sản xuất và kết quả thu được của hộ trong năm 2005 được thể hiện ở Bảng 7

Mía là loại cây trồng hàng năm, trồng 1 lần nhưng cho thu hoạch nhiều lần vào các năm tiếp theo, thời gian sinh trưởng của mía khoảng 10-12 tháng Ở xã Nghĩa Đức nói chung và hộ ông Thắng nói riêng thông thường là trồng 1 lần và thu hoạch 3 lần trong

3 năm Trong 3 năm thu hoạch thì năm 1 và năm 3 năng suất tương đương nhau, riêng năm 2 năng suất cao hơn gấp 1,2 lần so với năm 1 và năm 2 Vì vậy, toàn bộ chi phí phân

bổ (giống, làm đất, phân hữu cơ, công lao động) được chia cho 3,2 Năm 1 và 3 hệ số 1,

Trang 32

năm 2 hệ số 1,2 Năm 2005 là năm thu hoạch thứ 3 nên chi phí phân bổ hệ số1 với số tiền

- Chi phí cơ hội của lao

Chi phí khấu hao TSCĐ là 200 nghìn đồng, đây chính là phân bổ khấu hao chiếc

xe máy cho hoạt động trồng mía Trường hợp chủ động tưới là 1100 nghìn đồng tăng

thêm 900 nghìn đồng là do có thêm khấu hao máy bơm

Chi phí trung gian (giống, đạm, NPK, thu hoạch, dầu chạy máy bơm) là 7080

nghìn đồng, trường hợp chủ động tưới là 9580 nghìn đồng, tăng thêm 2500 nghìn đồng,

đây là chi phí mua dầu bơm nước và chi phí thu hoạch tăng thêm

Chi phí cơ hội của lao động gia đình gồm công làm cỏ, đặt hom giống (6 công 1

sào) và công chạy máy bơm (trường hợp chủ động tưới) Chi phí cơ hội của công lao

động gia đình trong thời gian này là đi làm thuê với mức tiền công 20 nghìn đồng 1 ngày

Kết quả sản suất của hộ cho thấy, năng suất chỉ đạt 1166,7kg 1sào, trường hợp

chủ động được nước tưới thì năng suất sẽ là 2500kg 1 sào Với mức giá bán bình quân

của năm 2005 là 0,32 nghìn đồng 1kg thì GM của hộ là 1354 nghìn đồng và lợi nhuận

kinh tế là – 2445 nghìn đồng Trường hợp chủ động tưới thì GM sẽ là 11654 nghìn đồng

và lợi nhuận kinh tế là 6654 nghìn đồng Như vậy, trong điều kiện bình thường thì canh

tác cây mía là có hiệu quả kinh tế

Để thấy rõ hơn kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ chúng tôi phân tích nhạy

cảm theo giá và rủi ro trong sản xuất Kết quả tính toán được trình bày ở Bảng 8

Trang 33

Hai chỉ tiêu chúng tôi chọn phân tích là giá và năng suất Với yếu tố giá thì giá bán của hộ ở trường hợp trung bình là 0,32 nghìn đồng/kg, đây cũng là mức giá bán trung bình của các hộ khác trong xã ở 3 năm qua Nhưng vì năm 2005 bị mất mùa do hạn hán nên Công ty Tate and Lyle đã có kế hoạch nâng mức giá lên 0,34 nghìn đồng/kg Đây là mức giá cao và biểu hiện trách nhiệm, sự hỗ trợ của Công ty đối với các hộ sản suất nguyên liệu Căn cứ vào chênh lệch của trường hợp cao với trung bình mà chúng tôi xác định mức giá trong trường hợp thấp là 0,3 nghìn đồng/kg

Chỉ tiêu thứ 2 là năng suất, qua phỏng vấn nông hộ và một số cán bộ ở xã Nghĩa Đức chúng tôi được biết, từ năm 1999 đến nay thì năm 2005 là khó khăn nhất của việc trồng mía do hạn nặng kéo dài hơn 4 tháng, đây là năm năng suất mía đạt thấp nhất 1167kg/sào Trong điều kiện bình thường hoặc chủ động được nước tưới thì năng suất đạt 2500kg/sào và nếu được thâm canh tốt thì đạt 3000kg/sào Vì vậy, chúng tôi chọn 3 mức năng suất này đại diện cho 3 trường hợp: thấp, trung bình và cao

Bảng 8: Phân tích nhạy cảm theo giá và rủi ro trong SX của hộ

(1000đ)

GM (1000đ)

Ở trường hợp năng suất trung bình và cao, kết quả tính toán cho thấy: doanh thu,

GM và Lợi nhuận kinh tế cao hơn nhiều so với trường hợp năng suất thấp Đặc biệt, lợi nhuận kinh tế của 2 trường hợp này là khá cao, điều này chứng tỏ trong điều kiện bình thường trồng mía là có hiệu quả kinh tế

2.3 Giải pháp nâng cao thu nhập của hộ

- Mía là cây trồng chính hàng năm đem lại nguồn thu lớn nhất cho hộ Chúng tôi đề nghị hộ đầu tư mua sắm máy bơm nước để giảm thiểu rủi ro trong sản suất mía Mua sắm máy phun thuốc trừ sâu để chủ đông phòng trừ sâu bệnh khi cần thiết

Trang 34

- Thay đổi tập quán chăn nuôi bò, không nhất thiết khi nào có việc lớn trong gia đình thì mới xuất bán mà nếu được giá và đạt trọng lượng xuất chuồng thì hộ nên bán để đầu tư cho lứa chăn nuôi tiếp theo

- Nhu cầu về ruộng đất các loại của hộ là rất lớn, song điều này không thể thực hiện được Vì vậy, để giải quyết vấn đề việc làm cho hộ thì mở rộng qui mô chăn nuôi lợn

là hướng có thể thực hiện được

- Qui hoạch lại đất vườn, diện tích đất vườn của hộ là 0,6sào, sản phẩm chủ yếu mà hộ đang thu hoạch từ vườn là chuối, nhưng cây chuối chưa được đầu tư thoả đáng mà chủ yếu là mọc tự nhiên Hộ nên qui hoạch lại vườn và đầu tư cho cây chuối để tăng thu nhập từ đất vườn

II Phân tích chuỗi cung

Trước năm 1999 vấn đề tiêu thụ mía ở Nghĩa Đức nói riêng và ở huyện Nghĩa Đàn nói chung gặp rất nhiều khó khăn Thời gian này chưa có Công ty liên doanh mía đường Nghệ An, các hộ sản suất thường bán sản phẩm của mình cho nhà máy đường sông con Tân Kỳ, nhà máy đường Lam Sơn Thanh Hoá hoặc bán cho các lò ép mật thủ công ở địa phương Mặc dù có nhiều địa chỉ tiêu thụ sản phẩm nhưng các nông hộ gặp rất nhiều khó khăn vì không ổn định Thời gian này đến mùa thu hoạch, hộ phải liên hệ trước với cán bộ thu mua của nhà máy để đặt vấn đề bán sản phẩm, nếu được chấp nhận thì mới tiêu thụ được sản phẩm của mình và tất nhiên hộ sản suất thường bị ép giá Trường hợp không bán được sản phẩm thì các hộ chấp nhận để ruộng mía trổ bông, sinh bấc ở thân và cuối cùng phải vứt bỏ

Năm 1999 Công ty liên doanh mía đường Nghệ An Tate and Lyle được thành lập, Công ty đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng nguyên liệu mà cụ thể là nâng cấp đường giao thông đến tận ruộng trồng mía của các hộ Cho đến nay hệ thống đường giao thông đã tương đối hoàn chỉnh Điều này đã được các hộ ở đây nghi nhận và đánh giá cao

vì nếu không có đầu tư của Công ty thì không bao giờ có được hệ thống giao thông tốt

Công ty Tate and Lyle

Hộ sản suất

Trang 35

như hiện nay Tuy nhiên, chính điều này đã ràng buộc trách nhiệm bán sản phẩm của mình cho công ty đối với các hộ Phỏng vấn một số cán bộ ở xã Nghĩa Đức, chúng tôi được biết năm 1999 và 2000 đã có một số hộ bán mía của mình cho công ty khác vì giá cao hơn, thế nhưng các hộ này đã bị dư luận phê phán Vì vậy, hiên nay các hộ đều bán sản phẩm của mình cho công ty Tate and Lyle

Công ty Tate and Lyle có trách nhiệm cung ứng vật tư cho hộ sản suất ở đầu vụ

và thanh toán vào cuối vụ khi thu hoạch xong sản phẩm Về phía hộ sản xuất thì không nhất thiết phải mua vật tư của Công ty mà có thể mua ở bất cứ đâu nếu hộ thấy có lợi Nếu mua ở nơi khác thí giá rẻ hơn nhưng lại phải trả tiền ngay và lại không yên tâm về chất lượng, nếu tạm ứng của Công ty thì giá cao hơn nhưng cuối vụ mới phải thanh toán

và yên tâm về chất lượng vật tư Chẳng hạn, năm 2005 Giá phân đạm mà hộ thanh toán cho Công ty là 560 nghìn đồng/tạ cao hơn giá thị trường 40 nghìn đồng/tạ, Giá NPK là

275 nghìn đồng/tạ cao hơn giá thị trường 25 nghìn đồng/tạ Nhìn chung tạm ứng của công

ty là có lợi hơn nên đa số các nông hộ đều thực hiện theo hướng này

Đến mùa thu hoạch mía, Công ty gởi trước thông báo tới từng hộ để hộ chủ động thu hoạch sản phẩm của mình theo đúng kế hoạch Xe chuyên dùng của công ty sẽ tới tân ruộng mía để gom sản phẩm, toàn bộ chi phí thu hoạch, bốc xếp và vận chuyển hộ sản xuất phải chịu Như vậy, việc tiêu thụ sản phẩm của hộ là thuận lợi không gặp trở ngại gì, người sản xuất rất yên tâm về vấn đề giải quyết đầu ra Về giá cả thu mua của công ty thì

hộ sản xuất không phàn nàn gì và cho rằng như vậy là được

III Kết luận

- Nguồn lao động của hộ khá dồi dào trong khi đó diện tích đất đai ít, tư liệu lao động của hộ nghèo nàn, cho nên nếu hộ không có kế hoạch sản xuất tốt thì có thể bị tái nghèo trở lại

- Qui mô sản xuất của hộ còn nhỏ, cơ cấu sản xuất và thu nhập của hộ còn đơn điệu, chăn nuôi lợn và bò của hộ chưa phát triển mạnh

- Mía là cây trồng chính nhưng việc đầu tư thâm canh của hộ chưa cao nên kết quả và hiệu quả còn thấp, năm 2005 lợi nhuận kinh tế của hộ là – 1635 nghìn đồng

- Vấn đề tiêu thụ mía của hộ được đảm bảo ổn định và thuận lợi, giá cả thu mua là chấp nhận được

- Chủ hộ đã được tham gia 1 khoá tập huấn 2 ngày về chăn nuôi bò do trung tâm khuyến nông của huyện tổ chức tại xã Nghĩa Đức vào năm 2004 Hiện nay chủ hộ đang có nhu cầu cao tham gia các lớp tập huấn nói chung về kinh tế, kỹ thuật và thị trường Theo hộ thì các khoá tập huấn nên tổ chức tại địa phương vào tháng 3 và tháng 8 hàng năm, vì đây là thời gian công việc ở địa phương ít bận rộn Mặt khác, là người dân tộc Thái trình độ dân trí có hạn nên chủ hộ yêu cầu các khoá huấn luyện phải thiết thực, nội dung rõ ràng, dễ hiểu và gần với các hoạt động của người nông dân

Trang 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NÔNG HỘ VÙNG GÒ ĐỒI Ở NGHỆ AN

Nông hộ: ông Đặng Thanh Thuỷ

NGƯỜI NGHIÊN CỨU

Trần Minh Trí

Nghệ An, 2006

Trang 37

3 Các giải pháp nâng cao hiệu qủa và phát triển SXKD của hộ 17

II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG SẢN PHẨM CAM 18

1 Giới thiệu 18 1.1 Lý do 18 1.2 Mục tiêu của phân tích chuỗi cung 18 2.3 Phương pháp nghiên cứu chuỗi cung cam 18

2 Tổng quan về tình hình tiêu thụ cam ở huyện Nghĩa Đàn 19

3 Mô tả chuỗi cung 20 3.1 Chuỗi cung các yếu tố đầu vào 20

Sơ đồ 1 Chuỗi cung cam ở Nghĩa Đàn 22 3.2 Chuỗi cung sản phẩm 23

4 Phân tích hoạt động của chuỗi cung cam 24 4.1 Các mối quan hệ trong chuỗi cung 24 4.2 Thông tin trong chuỗi cung 24 4.3 Giá cả và sự chênh lệch giá trong chuỗi cung 27

5 Những trở ngại cho hoạt động của chuỗi và hướng cải tiến 30 III KẾT LUẬN 31

1 Về sản xuất kinh doanh nông nghiệp của hộ 31

2 Về chuỗi cung cam 32

3 Các khoá tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng kinh doanh nông nghiệp 32 PHỤ LỤC 33

Trang 38

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 1 Tình hình sử dụng đất của nông hộ 6 Bảng 2 Giá trị tư liệu sản xuất của nông hộ 7 Bảng 3 Tình hình vốn vay của nông hộ 7 Bảng 4 Chi phí kiến thiết cơ bản đối với cây cam 9 Bảng 5 Kết quả kinh doanh cam thời kỳ 1998 – 2005theo phương pháp tính khấu hao vườn cây 11 Bảng 7 Phân tích giá và sản lượng hoà vốn theo phương pháp khấu hao 14 Bảng 8 Phân tích độ nhạy cho phương pháp tính NPV 14 Bảng 9 Tổng hợp kết quả và hiệu quả SXKD của hộ năm 2005 15 Bảng 10 Luồng tiền mặt thu chi của hộ năm 2005 17 Bảng 11 Ước lượng tỷ trọng sản lượng cam theo từng thị trường 20

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 BVTV: Bảo vệ thực vật

2 CTCSCPNA: Công ty Cao su – Cà phê Nghệ An

3 ĐVT: Đơn vị tính

4 KTCB: Kiến thiết cơ bản

5 NHN0N: Ngân hàng nông nghiệp

6 NPV: Giá trị hiện tại ròng

7 PA: Phương án

8 SXKD: Sản xuất kinh doanh

9 TSCĐ: Tài sản cố định

Trang 39

NGHÊN CỨU NÔNG HỘ TRỒNG CAM

Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN

Nông hộ: ông Đặng Thanh Thuỷ

Địa chỉ: thôn Tân Thịnh xã Nghĩa Hiếu huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An

Ngày phỏng vấn: 08/01/2006 - 09/01-2006

Người phỏng vấn và viết báo cáo: Trần Minh Trí

I PHÂN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG HỘ

1 Giới thiệu

Hoạt động trồng cam ở Nghĩa Đàn đã phát triển khá rộng rãi ở các nông hộ trong nhiều năm qua và đã có đóng góp đáng kể vào giá trị gia tăng của địa phương Sản phẩm cam

ở Nghĩa Đàn đã nổi tiếng trên thị trường khu vực phía Bắc với tên gọi Cam Vinh Tuy vậy,

trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng ngày càng khắt khe, sự cạnh tranh ngày cào cao như hiện nay, người trồng cam ở Nghĩa Đàn đang đứng trước nhiều thách thức và lựa chọn trong tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, những vấn đề này cần được quan tâm nghiên cứu

Hộ gia đình anh Đặng Thanh Thuỷ là một nông hộ làm ăn khá giả, hiểu biết sâu rộng

về hoạt động trồng cam cũng như việc tiêu thụ sản phẩm, các hoạt động sản xuất được anh ghi chép cẩn thận1 Vì vậy, việc lựa chọn trường hợp nông hộ anh Thuỷ sẽ đáp ứng được nhu cầu thông tin tốt cho việc nghiên cứu

Mục tiêu của của phân tích sản xuất nông hộ: Trong phạm vi báo cáo này, chúng tôi

phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh của nông hộ điển hình trồng cam ở vùng cây công nghiệp Nghĩa Đàn - Nghệ An, cụ thể nhằm:

- Phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và hiệu quả tài chính của hoạt động sản xuất cam của hộ gia đình anh Thuỷ để minh hoạ cho hiệu quả trồng cam trong vùng

- Đưa ra các gợi ý cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh của hộ

- Phân tích thu nhập và chi tiêu của hộ

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: phỏng vấn bán cấu trúc, chuyên sâu đối với

nông hộ điển hình, phương pháp chuyên gia được áp dụng để kiểm tra lại thông tin phỏng vấn Phương pháp phân tích lãi gộp (gross margin analysis), phương pháp tính giá trị hiện tại ròng (NPV) được sử dụng trong phân tích kết quả sản xuất

2 Nội dung phân tích sản xuất nông hộ

2.1 Vài nét khái quát về hộ

2.1.1 Nhân khẩu và lao động

Chủ nông hộ: anh Đặng Thanh Thuỷ, bộ đội chuyển ngành, cán bộ công ty Cao su –

Cà phê Nghệ An, chức vụ: Bí thư chi bộ Đội sản xuất Tân Thịnh, phụ trách công tác kiểm tra Đảng của Đảng bộ Công ty Cao su – Cà phê Nghệ An

Tuổi: 49 tuổi

1 Xem phụ lục về mẫu sổ ghi chép của gia đình anh Thuỷ

Trang 40

Trình độ văn hoá: 12/12

Tổng số khẩu: 6 người (gồm 2 vợ chồng và 4 người con - 1 trai 3 gái)

+ Con trai đầu, 20 tuổi, học Cao Đẳng kỹ thuật tại Vinh

+ Con gái thứ 2, 17 tuổi, đang học lớp 11

+ Con gái thứ 3, 15 tuổi, đang học lớp 9

+ Con gái thứ 4, 13 tuổi, đang học lớp 8

Thời gian sống ở địa phương: 13 năm, từ 1992 đến nay, trước 1992 sống ở huyện Tân

Kỳ tỉnh Nghệ An

2.1.2 Mục tiêu của nông hộ

- Tạo điều kiện tốt để cho con ăn học đầy đủ, có thể theo học các trường chuyên nghiệp (đại học, cao đẳng)2, có nghề nghiệp ổn định sau này

- Ngoài ra gia đình anh Thuỷ cũng mong muốn nâng cao thu nhập và làm giàu, trở thành một hộ khá giả trong xã

2.1.3 Hoạt động tạo thu nhập của nông hộ

+ Trồng cam

+ Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật

+ Trồng cây ngắn ngày: năm 2005 gia đình có trồng 1ha ngô

+ Buôn cam

+ Thu nhập từ lương: chị Hồ Thị Huyền - Vợ anh Thuỷ hiện đang là chủ tịch hội nông dân xã Nghĩa Hiếu với mức lương và các khoản thu nhập theo lương bình quân 750,000đ/tháng và anh Thuỷ có khoản thu từ phụ cấp chức vụ Bí thư chi bộ là 50,000đ/tháng Tổng cộng cả hai vợ chồng là 800,000đ/tháng

2.2 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất của nông hộ

* Thời tiết, khí hậu

Địa phương có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa

Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7

Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12

Đây là vùng đất bazan tương đối màu mỡ phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp Tuy nhiên diện tích đất của gia đình anh Thuỷ không có hệ thống thuỷ lợi nên rất bị động vào thời tiết, đặc biệt là những năm hạn hán không có nước tưới làm cho cây trồng giảm năng suất

và chất lượng, chi phí sản xuất cao

2.3 Tình hình năng lực sản xuất của hộ

2.3.1 Tình hình sử dụng đất của hộ

Tình hình sử dụng đất của nông hộ được trình bày ở Bảng 1 Qua Bảng 1 cho thấy nông hộ anh Thuỷ có 60 sào3 đất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu cho trồng cam Toàn bộ diện tích này đều do công ty Cao su Cà phê Nghệ An (CTCSCPNA) quản lý và giao khoán

2 Hiện nay, người con trai đầu của anh đang theo học cao đẳng tại thành phố Vinh, 3 người khác đang theo học tại các trường phổ thông tại trung tâm huyện (ở xa nhà)

3 1 sào = 500m 2

Ngày đăng: 22/06/2014, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu và nguồn hình thành các loại đất của hộ - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 1 Cơ cấu và nguồn hình thành các loại đất của hộ (Trang 5)
Bảng 2: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của hộ - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 2 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của hộ (Trang 5)
Bảng 3: Tình hình sử dụng lao động của hộ  Số ngày/tháng - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 3 Tình hình sử dụng lao động của hộ Số ngày/tháng (Trang 6)
Bảng 5: Doanh thu của từng loại cây trồng, từng loại công thức luân canh  Thửa 1 - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 5 Doanh thu của từng loại cây trồng, từng loại công thức luân canh Thửa 1 (Trang 7)
Bảng 6: Chi phí bình quân 1 sào của các loại rau   (tính cho một lứa) - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 6 Chi phí bình quân 1 sào của các loại rau (tính cho một lứa) (Trang 8)
Bảng 7: Hiệu quả sản xuất của từng loại cây trồng  và từng công thức luân canh - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 7 Hiệu quả sản xuất của từng loại cây trồng và từng công thức luân canh (Trang 9)
Bảng 8: Hiệu quả sản xuất rau của hộ - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 8 Hiệu quả sản xuất rau của hộ (Trang 9)
Bảng  9. Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua đến thu nhập của hộ - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
ng 9. Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua đến thu nhập của hộ (Trang 10)
Bảng  10. Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua đến lợi nhuận  của hộ - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
ng 10. Ảnh hưởng của sản lượng và giá của hành và cà chua đến lợi nhuận của hộ (Trang 11)
Bảng  11: Kết quả và hiệu quả của sản xuất chăn nuôi  ĐVT: 1000 đồng - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
ng 11: Kết quả và hiệu quả của sản xuất chăn nuôi ĐVT: 1000 đồng (Trang 12)
Bảng 14: Chênh lệch giá trong chuỗi các nhà thu gom nhỏ - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 14 Chênh lệch giá trong chuỗi các nhà thu gom nhỏ (Trang 19)
Bảng 2: Tình hình TLLĐ của hộ  Loại TLLĐ  Số - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 2 Tình hình TLLĐ của hộ Loại TLLĐ Số (Trang 27)
Bảng 5: Tổng hợp kết quả sản xuất của hộ  Giá - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 5 Tổng hợp kết quả sản xuất của hộ Giá (Trang 29)
Bảng 6: Thu chi tiền mặt của hộ ở các tháng trong năm - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 6 Thu chi tiền mặt của hộ ở các tháng trong năm (Trang 30)
Bảng 7:  Kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ năm 2005  Số lượng - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " PHÂN TÍCH KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - Nông hộ: Ông Bùi Duy Giáp " ppt
Bảng 7 Kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ năm 2005 Số lượng (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm