1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912

72 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Kỹ Thuật Sinh Sản Cá Rô Mo Kơne (Siniperca Kneri Garman, 1912)
Tác giả Nguyễn Văn Tùng
Người hướng dẫn TS. Lê Minh Châu, TS. Hồ Thị Bích Ngọc
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

48 Trang 10 viii TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả luận văn: Nguyễn Văn Tùng Tên luận văn: Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne Siniperca kneri Garman, 1912” Ngành khoa học của luận

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

––––––––––––––––––––

NGUYỄN VĂN TÙNG

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SINH SẢN CÁ RÔ MO KƠNE

(Siniperca kneri Garman, 1912)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN VĂN TÙNG

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SINH SẢN CÁ RÔ MO KƠNE

(Siniperca kneri Garman, 1912)

Ngành: Chăn nuôi

Mã ngành: 8 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Lê Minh Châu

2 TS Hồ Thị Bích Ngọc

THÁI NGUYÊN - 2023

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “ Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912)” được triển khai tại trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và phát triển thủy sản – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Các số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng Tác giả xin chịu trách nhiệm về nội dung và các công bố trong luận văn

Tác giả

Nguyễn Văn Tùng

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Phòng Đào tạo và bộ phận Sau đại học, các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới đề tài: Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cá

Mó tại Lạng Sơn, do trung tâm Đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là đơn vị trụ trì và Sở khoa học & công nghệ Lạng Sơn

là cơ quan chủ quản, đã tạo điều kiện để tôi có thể nghiên cứu thực hiện đề tài này trên đối tượng cá rô mo cho luận văn thạc sĩ của tôi

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân thuộc trung tâm Đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện để bố trí thí nghiệm, tiến hành đề tài và giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành, theo dõi các thí nghiệm

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2023

Tác giả

Nguyễn Văn Tùng

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH ẢNH vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

THESIS ABSTRACT ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Vị trí phân loại và thành phần loài 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái rô Mo Kơne (Siniperca kneri Garman, 1912) 3

1.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá rô Mo 4

1.1.4 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến thành thục sinh dục và sinh sản của cá 7

1.1.5 Một số kết quả nghiên cứu sinh sản và kích thích sinh sản họ cá rô bằng kích thích tố 9

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17

CHƯƠNG 2 19

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng 19

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 19

Trang 6

iv

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo 19

2.4.1 Phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ 19

2.4.2 Phương pháp kích thích sinh sản 22

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu ấp nở cá rô Mo 23

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu ương cá rô Mo 23

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 3 26

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Kết quả nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo 26

3.1.1 Nuôi vỗ cá rô Mo 26

3.1.2 Kích thích cá Siniperca kneri sinh sản 33

3.1.3 Kết quả ương cá bột lên cá hương 37

3.1.4 Ương cá Siniperca kneri từ 30-60 ngày tuổi 45

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

1 Kết luận 51

2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

I Tài liệu Tiếng Việt 52

II Tài liệu Tiếng Anh 55

III Tài liệu trên internet 60

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường bể nuôi vỗ 26

Bảng 3.2 Kết quả nuôi vỗ thành thục của cá Siniperca kneri 30 Bảng 3.3 Sức sinh sản của cá Siniperca kneri trong bể nuôi vỗ 32 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của LH-RHa+DOM lên các chỉ tiêu sinh sản của cá Siniperca kneri 34Bảng 3.5 Môi trường bể ương từ cá bột lên cá giống 37

Bảng 3.6 Tỷ lệ sống của cá Siniperca kneri giai đoạn cá bột lên cá hương 39 Bảng 3.7 Tăng trưởng khối lượng cá Siniperca kneri giai đoạn cá bột lên hương 42

Bảng 3.8 Tăng trưởng theo kích thước giai đoạn ương cá bột lên cá hương 44

Bảng 3.9 Tỷ lệ sống của cá Siniperca kneri giai đoạn cá hương lên giống 45 Bảng 3.10 Tăng trưởng khối lượng cá Siniperca kneri giai đoạn cá hương lên cá

giống 46 Bảng 3.11 Tăng trưởng kích thước theo chiều dài giai đoạn ương cá hương lên cá giống 47

Trang 9

vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Rô mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912) 4

Hình 3.1: Kiểm tra môi trường bể nuôi vỗ 28

Hình 3.2 Bể nuôi vỗ cá rô mo bố mẹ 29

Hình 3.3: Cá rô mo bố mẹ 29

Hình 3.4: Pha thuốc kích thích LRHa + DOM 33

Hình 3.5: Tiêm kích thích sinh sản cho cá cái 33

Hình 3.6: Vuốt trứng cá cái; 34

Hình 3.7: Vuốt sẹ cá đực ….……… 34

Hình 3.8: Bể ấp trứng cá rô mo; …… 36

Hình 3.9: Kiểm tra trứng trong bể ấp…… ………36

Hình 3.10: Cá rô mo hương 43

Hình 3.11: Đo kích thước cá rô mo hương 43

Hình 3.12: Đo kích thước cá rô mo giống 48

Hình 3.13: Cá rô mo giống 49

Trang 10

Ngành khoa học của luận văn: Chăn nuôi Mã số: 8 62 01 05

Tên đơn vị đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên

Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu này thực hiện nhằm bước đầu xác định được phương pháp nuôi

vỗ, kích thích sinh sản và ương nuôi giống cá rô Mo kơne

Phương pháp nghiên cứu:

Cá Siniperca kneri bố mẹ được tuyển chọn và tiến hành nuôi vỗ trong 6 tháng

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 3 nồng độ thuốc khác nhau Mỗi loại nồng độ có 3 cặp cá bố mẹ tham gia thử nghiệm Cá cái và cá đực được bố trí trong bể có dung tích 50 lít riêng biệt, nước dùng trong thí nghiệm đã qua lắng lọc, oxy hòa tan ≥ 5mg/l Sử dụng 3 loại nồng độ là 30µg LRHa + 8mg DOM cho 1kg cá cái, 40µg LRHa + 8mg DOM cho 1kg cá cái và 50µg LRHa + 8mg DOM cho 1kg cá cái Cá đực sử dụng liều lượng kích dục tố bằng 1/3 cá cái để kích thích sinh sản Trứng cá sau khi đẻ được cho thụ tinh nhân tạo và chuyển sang bể ấp trứng để theo dõi sự phát triển của phôi và xác định tỷ lệ cá nở sau khi thụ tinh, theo dõi sự phát triển của cá từ cá bột lên cá giống

Kết quả chính và kết luận:

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ đẻ đạt 49,04% khi sử dụng liều (30µg LRHa + 8mg DOM)/kg cá cái, 75,91% khi sử dụng liều (40µg LRHa + 8mg DOM)/kg

cá cái và 60,69% khi sử dụng liều (50 µg LRHa + 8mg DOM)/kg cá cái Sức sinh sản

tuyệt đối TB của cá Siniperca kneri là 9.489,76 trứng/cá thể, sức sinh sản tương đối

TB 42.979,98 trứng/ kg cá cái Thời gian nở của trứng dao động từ 48 – 50 giờ Tỷ lệ thụ tinh 59,37 – 73,53% và tỷ lệ nở từ 28,63 – 34,7% Tỷ lệ sống của cá bột lên hương đạt từ 18 – 22% và hương lên giống là từ 21,1 – 41,6% Như vậy, sử dụng liều lượng (40µg LRHa + 8mg DOM)/kg cá cái có hiệu quả hơn hai liều lượng còn lại Việc sinh

sản cá Siniperca kneri trong điều kiện nhân tạo có ý nghĩa thực tiễn cao Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình ương nuôi cá Siniperca kneri để đạt kết

quả tốt hơn

Trang 11

ix

THESIS ABSTRACT Master of Science: Nguyen Van Tung

Thesis title: Research on reproductive techniques of Siniperca (Siniperca kneri

Garman, 1912)"

Major: Animal Science Code: 8 62 01 05

Educational organization: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry –

Thai Nguyen University

Research Objectives

This study was conducted to determine the method of rearing, stimulating

spawning and rearing Siniperca kneri

Materials and Method

Siniperca kneri parents were selected and reared for 6 months The experiment was arranged in a completely randomized design with 3 different drug concentrations For each concentration, there were 3 pairs of broodstock participating in the experiment Female and male fish were arranged in a separate 50 liter tank, the water used in the experiment was filtered, dissolved oxygen ≥ 5mg/l Using 3 concentrations were 30µg LRHa 8mg DOM for 1kg female, 40 µg LRHa 8mg DOM for 1kg female and 50µg LRHa 8mg DOM for 1kg female Male fish use a dose of sex hormones 1/3 of the female fish to stimulate reproduction After spawning, the eggs are artificially inseminated and transferred to an incubator to monitor the embryo's development and determine the hatching rate after fertilization, to monitor the growth of fish from fry to fingerlings

Main findings and conclusions

The results showed that the reproductive rate was 49.04% when using the dose (30µg LRHa 8mg DOM)/kg female, 75.91% when using the dose (40µg LRHa 8mg DOM)/kg female and 60.69% at the dose (50µg LRHa 8mg DOM)/kg female The average absolute fecundity of Siniperca kneri was 9,489.76 eggs/individual, the average relative fecundity 42,979.98 eggs/kg female The hatching time of the eggs ranges from 48 to 50 hours Fertilization rate 59.37 - 73.53% and hatching rate from 28.63 - 34.7% The survival rate of fry on flavoring was from 18 to 22% and the survival rate of fry on flavoring was from 21.1 to 41.6% Thus, using a dose (40µg

Trang 12

x

LRHa 8mg DOM)/kg female was more effective than the other two doses The

reproduction of Siniperca kneri under artificial conditions has high practical

significance However, further research was needed to improve the rearing process of

Siniperca kneri to achieve better results

Trang 13

Ở Lạng Sơn, từ trước đến nay nguồn cá từ sông suối trên địa bàn tỉnh là nguồn

cung cấp protein quan trọng trong các bữa ăn hàng ngày ở mỗi gia đình Lạng Sơn có

con sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ núi Bà Xá, huyện Đình Lập, ở độ cao 625 m, chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc qua thành phố Lạng Sơn, đến Thất Khê thì chảy sang Trung Quốc ở Bì Nhi, vì vậy nơi đây có những loài cá đặc hữu của vùng Đông

Á như các loài Sinipercidae (cá rô Mo), cá nước ngọt bản địa ở Đông Á, phần lớn phân bố ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, miền Bắc Việt Nam và sông Amur dọc

theo biên giới Nga (Li và cs., 2014a) Sinipercinae bao gồm hai giống, Siniperca với tám loài và Coreoperca với bốn loài Mười loài xuất hiện ở Trung Quốc, chủ yếu ở

miền Trung và miền Nam Trung Quốc (Yao và Liang 2015) Cá rô Mo đã tồn tại từ lâu và được đánh bắt, sử dụng trong bữa ăn của người dân địa phương Chúng là loại thực phẩm truyền thống có giá trị cao, hương vị thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao, nhiều thịt, ít xương (Guocheng Yao và Wei Li., 2021) Tại Lạng Sơn, hệ thống sông suối nơi đây đang phải chịu sự tác động mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế - xã hội: khai thác khoáng sản, rác thải sinh hoạt, các hoạt động trong công nghiệp, gia tăng

sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến đời sống các loài cá trong đó có cá rô Mo và các loài thủy sinh vật khác Nhiều loài có giá trị kinh tế, loài quý hiếm bị suy giảm nhanh về số lượng chủng quần, làm suy giảm tính đa dạng sinh học

Cá rô mo là loài thuỷ sản đặc hữu phân bố chủ yếu ở một số tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, cá có chất lượng thịt thơm ngon được nhiều người ưu chuộng, cá rô

mo là loài có giá trị kinh tế cao

Trang 14

2

Trong những năm gần đây, số lượng cá rô Mo (chủ yếu là loài S kneri) đã

giảm do đánh bắt quá mức, ô nhiễm và các yếu tố khác Nguồn cá rô Mo trong tự nhiên đã cạn kiệt và ngày càng giảm tính đa dạng di truyền Để sử dụng bền vững các nguồn lợi thủy sản của cá rô Mo ngoài nghiên cứu điều tra tài nguyên thì nuôi nhân tạo có thể đóng góp hữu ích vào việc sử dụng, quản lý hợp lý cũng như các chiến lược phát triển đối với nguồn cá rô Mo

Nghiên cứu cá rô Mo và đặc biệt là kỹ thuật sản xuất giống cá này chưa được tiến hành tại Việt Nam Các nhà khoa học trong nước nghiên cứu mới dừng lại ở thông tin về thành phần loài, phân bố, phân loại, các kết quả ghi nhận còn hạn chế Vì vậy, nghiên cứu sinh sản trong môi trường nuôi nhân tạo sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo vệ, sử dụng hợp lý, phát triển bền vững nguồn lợi cá rô Mo Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô Mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912)”

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định được phương pháp nuôi vỗ, kích thích sinh sản và ương nuôi giống

- Thông tin nghiên cứu được là tài liệu rất có ý nghĩa, sử dụng để giảng dạy và làm tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu tiếp theo trên cá rô Mo

Trang 15

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Vị trí phân loại và thành phần loài

Giống cá Rô mo Siniperca Gill, 1862

Loài cá Rô mo kơne Siniperca kneri Garman, 1912

1.1.2 Đặc điểm hình thái rô Mo Kơne (Siniperca kneri Garman, 1912)

Thân dẹp bên hình thoi dẹp Viền lưng và viền bụng đều hình cong nông Độ cong viền lưng lớn hơn viền bụng Miệng lớn, mép nghiêng, hàm dưới nhô ra và dài hơn hàm trên Lỗ mũi hai đôi nằm phái trên trước mắt, cách mút mõm gần hơn viền mắt Mắt tương đối lớn, nằm bên trên và thiên về phía trước của đầu Mé sau xương nắp mang trước có răng cưa nhỏ, ở góc dưới phía sau mở rộng và có 4 gai Vây lưng liên tục, khởi điểm nằm ở phía sau khởi điểm vây ngực, tới mút mõm gần hơn tới gốc vây đuôi Độ dài phần gốc vây lưng lớn hơn 1/2 chiều dài thân Độ dài gai dài nhất của vây lưng ước bằng chiều dài mõm Vây hậu môn có khởi điểm hơi sau khởi điểm phần tia vây lưng; Gai dài nhất ngắn hơn gai vây lưng và chiều dài mõm Vây ngực hình tròn, khởi điểm nằm trước mé dưới nắp mang Vây bụng ước ở phía dưới gai thứ 3 của vây lưng, cách mút mõm xa hơn tới vây hậu môn Vây đuôi hình tròn Thân phủ vẩy tròn Phần má và phần nắp mang không vẩy Đỉnh đầu trơn bóng, cân đối hoàn chỉnh, không vẩy Thân màu nâu hoặc màu xanh cỏ, phần bụng ngả dần màu trắng Mé sau thân có các điểm đốm màu thẫm, kích thước không bằng nhau Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi đều có các đốm đen tròn nhỏ

Trang 16

4

Hình 1.1: Rô mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912)

1.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá rô Mo

1.1.3.1 Đặc điểm phân bố và sinh thái cá rô Mo

Cá rô Mo là giống cá nước ngọt đặc hữu của Đông Á, chủ yếu phân bố ở Trung Quốc với một số loài cũng được tìm thấy ở Hàn Quốc, Nhật Bản và miền Bắc Việt

Nam (Li, 1991; Zhou và cs., 1988)

Siniperca kneri (Garman, 1912) là một loài ăn thịt phân bố rộng rãi ở Đông Á,

là một loài đặc hữu của miền nam Trung Quốc, phân bố ở các sông như Châu Giang, Sông Minh, sông Tiền Đường, sông Dương Tử và sông Hoài (Caiwu và cs., 1988) và là loài rất quan trọng về mặt thương mại với giá trị thị trường cao cũng

là một loài quan trọng về kinh tế trong các loài đánh bắt và nuôi trồng thủy sản ở

miền Nam Trung Quốc (Li và cs., 2014; Luo và cs.,2011) Số lượng quần thể hoang

dã của Siniperca kneri đang suy giảm trong những năm gần đây rất có thể do đánh

bắt quá mức, ô nhiễm và môi trường sống (PU và cs., 2013)

Siniperca kneri thuộc họ Sinipercidae, có liên quan chặt chẽ nhất với cá Centrarchidae nổi tiếng ở Bắc Mỹ (Song và cs., 2017; Near và cs., 2012) Nó chủ

yếu sinh sống ở các hồ nước ngọt hoặc các đoạn sông có dòng chảy chậm (Gao, 1991;

Cui và Li, 2005) S kneri có nhiều ở đập Tam Hiệp kể từ khi bị bồi lấp, đặc biệt là ở

một số phụ lưu như sông Xiangxi, sông Daning (Yang và cs., 2013; Zhao và cs.,

2015)

Trang 17

5

Ở Việt Nam, cá rô Mo bắt gặp ở hệ thống sông suối các tỉnh miền Bắc đến tỉnh Thừa Thiên Huế với một số loài như: Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899;

Siniperca vietnamensis Yên, 1978; Siniperca chuatsi, Basilewskii, 1855…

Ở Trung Quốc, để sử dụng nguồn cá nhỏ dồi dào và ngăn chặn quần thể cá nhỏ phát triển quá mức, thả cá ăn thịt, đặc biệt là cá rô Mo, đã trở thành một hoạt động thủy sản quan trọng trong các hồ dọc theo sông Dương Tử (Xie và cs., 2000, 2003; Cui và Li 2005; Li và cs., 2014b) Thả cá rô Mo là một hình thức nuôi trồng thủy sản trong hồ (Wang và cs., 2015), không chỉ cung cấp thêm các loài

cá có giá trị thương mại lớn và trung bình, mà còn cho phép sự phục hồi của các quần thể sau này Ngoài ra, thực tiễn cho thấy rằng việc thả cá rô Mo có tiềm năng cải thiện chất lượng nước Dựa trên những điều trên, cá rô Mo trong hồ có thể có vai trò tích cực trong việc tối ưu hóa cấu trúc lưới thức ăn và điều hòa các hệ sinh thái

Ngày càng có nhiều sự công nhận về vai trò quan trọng của động vật ăn thịt trong việc điều hòa hệ sinh thái và duy trì đa dạng sinh học (Ritchie và Johnson 2009) Hơn nữa, các nghiên cứu về các hồ ở Bắc Mỹ và Châu Âu cho rằng thả cá ăn thịt có tác động trực tiếp và gián tiếp làm thay đổi hệ sinh vật và chất lượng nước của các hồ thông qua các hiệu ứng từ trên xuống (Carpenter và Kitchell 1988; Van Liere

và Gulati 1992; Zhang và cs.,1997) Các tác động từ trên xuống của cá ăn thịt trong

hệ thống hồ dự đoán rằng sự gia tăng cá ăn thịt sẽ giảm sinh khối của động vật phù

du và động vật đáy, dẫn đến giảm sinh học khối lượng thực vật phù du (Carpenter và Kitchell 1988; Benndorf và cs., 2002) Thả cá ăn thịt trong hồ đã trở thành một chiến lược quản lý chất lượng nước và một mô hình sinh thái được chấp nhận rộng rãi (Van Liere và Gulati 1992; Drenner và Hambright 1999)

Việc đánh bắt quá mức các loài cá ăn thịt có giá trị thương mại đã gây ra sự suy giảm đáng kể các nguồn tài nguyên này dẫn đến các loài cá có kích thước nhỏ phát triển mạnh mẽ (Cao và cs., 1991; Liu và cs., 2005) Việc thả quá nhiều cá trắm

cỏ dẫn đến giảm mạnh hoặc loại bỏ các đại thực bào chìm và do đó, dẫn đến sự gia tăng tảo và sự suy giảm của cá và động vật có vỏ phụ thuộc vào đại thực bào (Xie và cs., 2000) Sản xuất cá chép, nước thải và phân bón được sử dụng ở một số hồ làm tăng tốc độ phú dưỡng (Chen 1989) Vì vậy, thả cá ăn thịt có thể được sử dụng như

Trang 18

6

một công cụ phục hồi hồ để cải thiện chất lượng nước (Van Liere và Gulati 1992;

Søndergaard và cs., 1997)

1.1.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Siniperca là loại cá săn mồi, chỉ ăn tôm cá sống, không ăn thịt con mồi chết hoặc thức ăn nhân tạo trong tất cả các giai đoạn của vòng đời (Li và cs., 2014a; Yao

và Liang 2015) Vì vậy, việc môi trường sinh thái bị ô nhiễm, đánh bắt tận diệt sẽ đe doạ sự sống còn của các loài rô Mo

Có rất ít thông tin định lượng về chế độ ăn của cá Siniperca mặc dù thực tế

rằng những loài này là loài thủy sản có giá trị cao và quan trọng trong việc điều hòa

hệ sinh thái và duy trì đa dạng sinh học (Yang và cs., 2002; Li và cs., 2013) Tuy nhiên, cá Siniperca có thể ăn nhiều loại mồi khác nhau và được cho là có chế độ ăn

đa dạng (Yang và cs., 2002; Li và cs., 2013) Trong nghiên cứu của Li và cs 2014b,

cả chất chứa trong dạ dày và dữ liệu đồng vị ổn định đã hỗ trợ gợi ý về khẩu phần ăn

có thể cho cá Siniperca Chế độ ăn của Siniperca chuatsi ở hồ Biangdantang bao gồm

14 đơn vị phân loại con mồi có thể thay đổi được trong đó cá và tôm là thức ăn chủ đạo của chúng, chiếm hơn 97%

Mặc dù có những nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu về hành vi ăn và lượng thức

ăn, người ta vẫn biết rất ít về sự ưa thích thức ăn của chúng (Morton và cs., 2006) Sở thích ăn uống là một đặc điểm hành vi bẩm sinh chịu ảnh hưởng của di truyền

Siniperca kneri là loài cá săn mồi phục kích ăn thịt hàng đầu đóng một vai trò quan trọng trong sức khỏe sinh thái của sông suối miền Nam Trung Quốc (Qiqun và cs., 2019) Chúng là loài ăn thịt, ăn mồi sống trong suốt cuộc đời (Li và cs., 2014b) Trong đập Tam Hiệp, khẩu phần ăn của nó chủ yếu những con cá cỡ nhỏ và tôm Những con tôm và tép được quan sát là chiếm ưu thế và có nhiều trong đập Tam Hiệp (Zhao và cs., 2015; Chen, 2016)

1.1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển

Siniperca kneri chưa được nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng nhưng một loài

khác tương tự được nghiên cứu khá chi tiết là Siniperca chuatsi Wei Li và cs, (2021) nghiên cứu thả cá giống Siniperca chuatsi vào môi trường tự nhiên và nuôi nhân tạo sau 11 tháng cho thấy tốc độ tăng trưởng của Siniperca chuatsi trong môi trường nhân

Trang 19

7

tạo chậm hơn đáng kể so với cá được thả trong môi trường hoang dã, nhưng nhanh chóng bắt kịp sau 16 -19 tháng Quan sát này cho thấy tốc độ tăng trưởng thấp hơn ở những con đực đặc biệt được nuôi trong trại giống so với những con hoang dã Nhưng

Li và cs 2014a; Yao và Liang (2015) cho biết tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều trong các điều kiện nuôi nhân tạo so với trong tự nhiên Ví dụ, khối lượng trung bình

của cá Siniperca chuatsi nuôi trong ao có thể đạt 900 g so với khoảng 200 g trong hồ,

trong cùng khoảng thời gian Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của chúng cho thấy sự khác biệt đáng kể về giới tính, tốc độ tăng trưởng của con cái nhanh hơn con đực từ 10– 20% (Li và cs 1998; He và Xiang 2005)

1.1.3.4 Đặc điểm sinh học sinh sản

Sinh sản của Siniperca kneri (Garman) trong đập Tam Hiệp xảy ra từ tháng 3

đến tháng 7 và đạt đỉnh vào tháng 4 và tháng 5 (Zhao Shasha và cs., 2019)

Mùa sinh sản của cá Siniperca chuatsi diễn ra từ tháng 4 đến tháng 7 với nhiệt

độ nước trên 20°C Hầu hết Siniperca chuatsi hoang dã đạt đến độ tuổi thành thục

sinh dục ở 2 tuổi; một số con có thể đạt đến độ tuổi trưởng thành vào 1 năm (Yao &

Li., 2018) Bãi đẻ của cá Siniperca chuatsi thường được biết đến là ở các vùng ven

biển và các cửa hút nước của các hồ và hồ chứa, đặc biệt là ở các bãi cát hoặc thực vật ngập nước, có nước chảy Thời gian đẻ trứng kéo dài từ ba đến sáu giờ, nhưng

đôi khi có thể kéo dài 24 giờ Trứng của Siniperca kneri (Garman) là trứng trôi nổi

1.1.4 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến thành thục sinh dục và sinh sản của cá

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy dinh dưỡng cá bố mẹ ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm sinh dục (trứng và tinh trùng), ấu trùng cá cũng như sức khỏe của cá

bố mẹ Trong sản xuất giống cá, tỉ lệ thụ tinh thấp, chất lượng ấu trùng, cá giống kém,

tỉ lệ dị hình cao có thể liên quan trực tiếp đến dinh dưỡng trong thức ăn nuôi cá bố

mẹ (Pavlov và cs., 2004) Vì vậy, việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho cá bố mẹ là rất quan trọng

Trong quá trình thành thục sinh sản, cá cũng như động vật khác thường có nhu cầu cao hơn đối với một số chất dinh dưỡng như vitamin, khoáng, acid béo thiết yếu

so với nhu cầu cho giai đoạn sinh trưởng Quá trình thành thục và sinh sản được thể hiện chủ yếu qua sự phát triển của tuyến sinh dục và tế bào sinh dục (trứng và tinh

Trang 20

và khoáng chất (Pavlov và cs., 2004)

Nhu cầu protein

Đối với cá rô phi (Oreochromis nitoticus) hàm lượng protein tối ưu cho sinh

sản của cá được xác định trong khoảng 25- 30% Nếu thức ăn có hàm lượng protein lớn hơn hoặc nhỏ hơn trong khoảng 20% - 40% đều làm giảm tỉ lệ cá tham gia sinh

sản (Silva và Anderson, 1995) Ở cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) hàm lượng

protein tối ưu trong thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ được đề nghị là 35% để đảm bảo cá bố

mẹ tăng trưởng và đạt tỉ lệ thành thục cao nhất (Kabir và cs., 2015) Khi giảm hàm lượng protein trong thức ăn nuôi cá vược châu Âu từ 51% đến 34% cùng với tăng hàm lượng carbohydrate từ 10% đến 32% đã làm giảm hormone kích thích tiết kích dục tố (GnRH), do đó đã ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản của loài cá này (Cerda´

và cs., 1994)

Nhu cầu lipid

Biên độ dao động hàm lượng lipid rộng (10-30 %) trong thức ăn dường như ảnh hưởng rất ít đến chất lượng sinh sản của nhóm cá hồi (samonids), cá tráp và cá vược châu Âu (Pavlov và cs., 2004) Thức ăn có hàm lượng lipid 18% cho sức sinh sản và chất lượng trứng cao hơn so với thức ăn có hàm lượng lipid thấp hơn (Duray

và cs., 1994) Zakeri và cs (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein (40,

50 và 60%) và lipid (15, 20 và 25%) trong thức ăn nuôi vỗ cá tráp vây vàng

(Acanthopagrus latus) đã xác định được hàm lượng protein và lipid tối ưu lần lượt là

40% và 20%, dựa vào các chỉ tiêu đánh giá như sức sinh sản tương đối, tỉ lệ thụ tinh,

Trang 21

9

tỉ lệ nở và tỉ lệ sống của ấu trùng Trong quá trình thành thục cá có nhu cầu về acid béo thiết yếu ở một hàm lượng nhất định Vì vậy, nếu hàm lượng lipid trong thức ăn quá thấp sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu acid béo thiết yếu Mặt khác, hàm lượng lipid thấp cũng sẽ không cung cấp đủ năng lượng cho tăng trưởng, sinh sản ở cá và khi đó protein trong thức ăn có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu năng lượng

Nhu cầu carbohydrate

Hàm lượng carbohydrate có thể ảnh hưởng tích cực đến chất lượng sinh sản ở

cá vì đường glucose là nguồn năng lượng cho tuyến sinh dục thành thục và khả năng giữ mức đường cao đã quan sát thấy ở cá trong quá trình tích lũy noãn hoàng Tuy nhiên, nếu hàm lượng carbohydrate quá cao có thể ảnh hưởng xấu tới chất lượng trứng do làm tăng tích lũy mỡ ở buồng trứng (Pavlov và cs., 2004) Khi nghiên cứu hai hàm lượng carbohydrate (5 và 28%), Hemre và cs (1995) không thấy ảnh hưởng của carbohydrate đến tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn, sự phát triển của tuyến

sinh dục ở cá tuyết (Gadus morhua), tác giả nhận định có thể là do nhu cầu protein

và lipid đã được đáp ứng đầy đủ

1.1.5 Một số kết quả nghiên cứu sinh sản và kích thích sinh sản họ cá rô bằng kích thích tố

Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục (TSD) cá được xác định thông qua quá trình quan sát tổ chức mô và hình dạng tuyến sinh dục Nghiên cứu về chu kỳ thành thục sinh dục của cá là phải được tiến hành ít nhất một năm mới có thể hiểu biết rõ về sự phát triển và thoái hoá của tuyến sinh dục Việc đánh giá các giai đoạn thành thục sinh dục của từng cá thể thường dựa vào đặc điểm khác biệt của từng giai đoạn mà mắt thường có thể quan sát được Các bậc thang thành thục sinh dục cho phép đánh giá nhanh về các giai đoạn chuẩn bị sinh sản ở một số lượng mẫu lớn Tuy nhiên, rất khó xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá một cách chính xác do sự phát triển của buồng trứng và buồng tinh thường không cùng giai đoạn (quá trình phát triển của buồng tinh thường ngắn và bắt đầu chậm hơn nhiều so với buồng trứng) Nhìn chung, việc quan sát hình dạng nên kết hợp với khảo sát mô học của tuyến sinh dục sẽ giúp kết quả xác định các giai đoạn phát triển của buồng tinh và buồng trứng được chính xác Có nhiều thang phân chia các giai đoạn thành thục sinh

Trang 22

10

dục của cá đã được đề ra với số bậc thang thay đổi từ 4-5, đôi khi 7-8 giai đoạn tùy theo tác giả (Qaim, 1957; Kesterven, 1960; Nikolsky, 1963; Crossland, 1977 trích bởi Biswas, 1993) Sự phân chia ra nhiều bậc như vậy sẽ giúp cho việc đánh giá chính xác hơn mức độ thành thục giữa các loài và các cá thể trong cùng một loài Chỉ có hai trong số những thang phân chia các giai đoạn thành thục cá được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm (1) thang phân chia gồm 5 giai đoạn dùng để đánh giá mức độ thành thục của những loài cá đẻ một lần trong năm, (2) thang phân chia gồm 7 giai đoạn dùng để khảo sát những loài cá đẻ nhiều lần trong năm (Cadwallader, 1973; Lelek, 1973; Habib, 1979, trích bởi Biswas, 1993;) Tuy nhiên, theo Nikolsky (1963), Xakun

và Buskia (1968) thì các giai đoạn thành thục của cá nên phân chia làm 6 bậc Trong thực tế, cách phân chia này có tính tổng hợp hơn nên có thể áp dụng khi nghiên cứu tuyến sinh dục cá đẻ một lần lẫn cá đẻ nhiều lần trong năm, nhất là dễ sử dụng khi khảo sát một số lượng lớn mẫu ngoài hiện trường Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài của tuyến sinh dục bằng mắt thường và kết hợp với quan sát các tiêu bản mô học của tuyến sinh dục dựa theo thang phân chia tuyến sinh dục thành 6 giai đoạn phát triển (Nikolsky, 1963) như sau:

- Giai đoạn I: Cá thể non chưa thành thục sinh dục

- Giai đoạn II: Tuyến sinh dục có kích thước nhỏ Quan sát bằng mắt thường không nhìn thấy được hạt trứng

- Giai đoạn III: Giai đoạn thành thục Quan sát bằng mắt thường có thể nhìn thấy được những hạt trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong đến hồng nhạt

- Giai đoạn IV: Giai đoạn chín muồi Tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra

- Giai đoạn V: Giai đoạn đẻ trứng Các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng cá Khối lượng tuyến sinh dục giảm nhanh từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng

- Giai đoạn VI: Giai đoạn sau khi đẻ trứng Các sản phẩm sinh dục được phóng thích hết, lỗ sinh dục bị phồng lên, tuyến sinh dục mềm nhão Ở cá cái còn sót lại một số trứng nhỏ trong buồng trứng, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng trong buồng tinh

Trang 23

11

Quá trình đẻ trứng của cá chính là một hoạt động sinh dục mang tính chất phản

xạ không điều kiện Khi có những điều kiện sinh thái bên ngoài thích hợp như mưa, nhiệt độ, dòng chảy, …tác động đồng thời lên các giác quan, thần kinh của các cơ quan ngoại cảm của cá (da, mang, thính giác, đường bên ) tại đây sẽ hình thành các xung động thần kinh truyền về trung ương thần kinh kích thích vùng dưới đồi (hypothalamus) phóng thích GnRH (Gonadotropin releasing hormone) (Babin và cs., 2007; Bone và cs., 2008)

Hiện nay não thùy cá được sử dụng dưới hai dạng là não tươi và não khô Bất

cứ loài cá nào khi tuyến sinh dục thành thục thì hoạt tính của não thùy có khả năng gây chín và rụng trứng cao nhất Trong não thùy chứa hai loại kích thích tố quan trọng

là FSH và LH và được sinh ra nhiều nhất khi tuyến sinh dục thành thục và hàm lượng

ở cá cái cao hơn cá đực (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009) HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả nhất cho nhiều loài cá nuôi LH-RHa được chứng minh có khả năng kích thích sự tiết kích dục tố ở một số loài cá và hiệu quả kích thích của LH-RHa lên sự chín của buồng trứng, sinh sản của một số loài cá nuôi được nghiên cứu đầu tiên trên một số loài cá chép Trung Quốc (Anon, 1977) và phương pháp phối hợp LH-RHa với não thùy hoặc HCG để thu được kết quả như mong muốn (Peter và cs.,1988) Khi cá nuôi trong ao do không có đầy đủ điều kiện sinh thái làm thỏa mãn những yêu cầu về sinh sản của cá bố mẹ, nên phải sử dụng tiêm các chất kích thích sinh sản vào cơ thể để thay thế một phần hoạt động nội tiết của trục não bộ - tuyến yên - tuyến sinh dục kích thích cá bố mẹ đẻ trứng hay phóng tinh Theo Nguyễn Tường Anh (1999) việc kích thích sinh sản cá bán nhân tạo hoặc nhân tạo có thể theo các con đường khác nhau chẳng hạn như dùng các Antiestrogen tác động não bộ; có thể dùng các chất kích thích sinh sản kích thích tuyến yên như GnRH-a (LH-RHa, Buserelin và DOM) hoặc dùng chất kích dục tố (HCG, Não thùy) tác động lên nang trứng hoặc có thể là sử dụng nhóm steroid tác động lên noãn bào

Hệ số thành thục, sức sinh sản và đường kính trứng là những chỉ tiêu sinh sản quan trọng và thường có mối quan hệ với kích cỡ cơ thể Mối quan hệ giữa sinh trưởng và sinh sản đóng vai trò quan trọng trong tiến hóa của loài Sự phân phối năng lượng của cơ thể cho hai hoạt động này hình thành nên những đặc điểm, tập tính của

Trang 24

12

loài và những đặc điểm này có thể thay đổi trong những điều kiện môi trường khác nhau Nắm được mối quan hệ này trên đối tượng nuôi còn có ý nghĩa thực tế trong việc chọn cá sinh sản sao cho vừa đảm bảo được tăng trưởng của đàn con vừa đạt hiệu quả sản xuất giống Dương Thúy Yên và Phạm Thanh Liêm (2014) nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa kích cỡ và một số chỉ tiêu sinh sản của cá rô “đầu vuông”

(Anabas testudineus) Cá rô đầu vuông 8 tháng tuổi từ một ao nuôi thịt được thu ngẫu

nhiên, sau đó phân thành 3 nhóm khối lượng (247 ± 60 g; 157 ± 22 g; và 99 ± 27 g)

và được nuôi vỗ trong 6 giai (2×3×2,5m) Sau 2 tháng, 60 cá thể (thu ngẫu nhiên 10

cá thể/giai) được kiểm tra hệ số thành thục (GSI), sức sinh sản và đường kính trứng Đồng thời 13 cặp cá bố mẹ từ 3 nhóm kích cỡ được cho sinh sản nhân tạo để xác định sức sinh sản thực tế, tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ nở Kết quả ở cá đực, GSI (0,5 - 1,5% khi tuyến sinh dục ở giai đoạn IV) không thay đổi theo khối lượng (p>0,05) nhưng ở cá cái, GSI giảm 1,7 - 2% (tương ứng với tuyến sinh dục ở giai đoạn IV và III) khi khối lượng cá tăng 100 g (p0,05) giữa các nhóm cá bố mẹ có kích cỡ khác nhau

Nghiên cứu trên Rô cờ (Osphronemus exodon Roberts, 1994), Phan Thị Lệ Ạnh và Dương Tuấn Phương (2020) cho biết cá thành thục ở tuổi 2+ với chiều dài và khối lượng tương ứng 37,2 cm và 988,7 g ở cá đực và 36,5 cm và 875,8 g/con ở cá cái Mùa vụ sinh sản bắt đầu vào tháng tư với sức sinh sản tuyệt đối và tương đối trung bình là 4.069 trứng/cá cái và 2.556 trứng/kg cá cái

1.1.6 Hormone kích thích sinh sản

Khi nuôi cá trong ao do không có đầy đủ điều kiện sinh thái làm thỏa mãnnhững yêu cầu về sinh sản của cá bố mẹ, nên phải tiêm các chất kích thích sinh sản(não thùy cá, HCG, LRH-a) vào cơ thể để thay thế một phần hoạt động nội tiết củatrục não bộ - tuyến yên - tuyến sinh dục để kích thích cá bố mẹ đẻ trứng, phóng tinh(Nguyễn Tường Anh, 1999; Phạm Quốc Hùng và cs., 2014) Trong thực tiễn sản xuất,các chất kích thích sinh sản được sử dụng thường xuyên Ngoài việc chủ động về thờigian, thời điểm bố trí sinh sản, việc dùng chất kích thích phù hợp giúp cá đẻ đồng loạt,đẻ róc, cho tỉ lệ đẻ, tỉ lệ trứng thụ tinh, tỉ lệ nở cao và hiệu quả hơn nhiều so với việckhông dùng chất kích thích (Bhowmick và cs., 1978; Brandt & Schoonbee, 1980;Nguyễn Tường Anh & Phạm Quốc Hùng, 2016)

Trang 25

13

Để sử dụng kích thích tố mang lại hiệu quả tối ưu nhất, nghiên cứu của NguyễnTường Anh và Phạm Quốc Hùng (2016) đã cho rằng, tùy vào loài cá, tùy vào cấu trúcbuồng trứng, túi tinh mà sử dụng loại và liều lượng kích thích tố tương ứng cho phùhợp Có loài sau khi tiêm kích tố thì tự sinh sản như cá Chép (Trần Mai Thiên, 1996),

cá Trắm cỏ (Lê Văn Dân & Nguyễn Tường Anh, 2009); có loài cần phải thu trứng,thu tinh để thụ tinh như cá Tra (Phạm Văn Khánh, 2005), có loài cần phải mổ con đực lấy tinh để tiến hành thụ tinh như cá Lăng chấm (Nguyễn Đức Tuân, 2006), cá Nheomỹ (Nguyễn Anh Hiếu, 2013), cá Nheo sông (Nguyễn Văn Chung và cs., 2017) Liều lượng tiêm của mỗi loài cũng khác nhau, có loài chỉ cần tiêm 1 liều duy nhất như cácá Rohu (Labeo rohita) (Lê Quốc Vinh, 2009), loài cần tiêm từ 2-3 liều mới

kích thích được cásinh sản như cá Chiên (B lutius) (Võ Văn Bình, 2014) Đối với cá

đực, Angeles (1971)cho rằng, quá trình sinh tinh tương đối đơn giản, nên việc quan trọng nhất là xác định được loại, liều tiêm tối ưu và khoảng thời gian giữa các lần tiêm phù hợp cho cá cái.

Hiện nay, có nhiều loại hormone gây trứng chín và rụng trứng đang được sửdụng như: Kích thích tố tuyến yên; kích dục tố màn đệm (HCG); LRH-a và chất khángDopamin (DOM)

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việt Nam với tổng diện tích lãnh thổ (phần đất liền) 331.690 km2 nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, có vùng biển (bao gồm các đảo, quần đảo) rộng hơn ba lần diện tích đất liền, với đường bờ biển dài 3.260 km trải dài 13 vĩ độ từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) (Đặng Ngọc Thanh và cs., 2002)

có hệ thống các thủy vực nước ngọt nội địa phong phú và đa dạng gồm sông, suối, đầm phá, hồ, vùng đất ngập nước… chứa trong mình nguồn tài nguyên nước phong phú Do các mặt nước đa dạng lại phân bố ở nhiều loại hình, độ cao và vùng sinh thái khác nhau nên Việt Nam có nguồn lợi cá nước ngọt nội địa rất đa dạng và độc đáo

Thành phần loài cá trong hệ thống sông suối, hồ ao của Việt Nam rất đa dạng

và phong phú Tuy nhiên, cá rô Mo là loại đặc hữu của vùng Đông Á trải dài từ sông

Trang 26

14

Amur đến miền Bắc Việt Nam, chính vì vậy việc bắt gặp cá này trong hệ cá sông suối

thường gặp từ Huế trở ra

Nghiên cứu của Nguyễn Duy Thuận (2019) tại Thừa Thiên Huế cho biết: Thừa Thiên Huế là nơi chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu Bắc và Nam của Việt Nam, giới hạn ngăn cách bởi đèo Hải Vân, có hệ thống sông, suối, đầm phá và khi nghiên cứu khu hệ cá nội địa Thừa Thiên Huế có ghi nhận sự xuất hiện của cá rô Mo thường (rô

Mó) (Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899) Tại lưu vực sông Cả thuộc địa phận vườn quốc gia Pù Mát và vùng phụ cận cho biết, trong hệ cá tại đây có ghi nhận cá

rô Mo thường (rô Mó) (Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899), rô Mo võ liệt

(C.volietensis T.T.Nguyen, 1983) (Nguyễn Xuân Khoa, 2011) Lưu vực sông Đà có

ghi nhận cá rô Mo thường (rô Mó) (Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899), cá rô

Mo thân cao (Siniperca vietnamensis Yên, 1978) (Nguyễn Thị Hoa, 2012) Khu vực

sông Gianh có loài rô Mo thường (rô Mó) (Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899), cá

rô Mo thân cao (Siniperca vietnamensis Yên, 1978) (Mai Thị Thanh Phương và cs.,

2011) Khu vực của 3 hồ thủy điện trên Suối Sập có cá rô Mo thường (rô Mó)

(Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899) (Phan Văn Mạch, Lê Đồng Tấn, 2015) Cũng tại tỉnh Sơn La, có xuất hiện loài rô Mo thường (rô Mó) (Coreoperca whiteheadi

Boulenger, 1899), cá rô Mo thân cao (Siniperca chuatsi (Basilewskii, 1855) trong hệ

thống sông suối, hồ ao (Phan Văn Mạch, Nguyễn Kiêm Sơn, 2015) Tại hồ Ba Bể

cũng tìm thấy cá rô Mo thường (rô Mó) (Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899)

và cá rô Mo thân cao (Siniperca vietnamensis Yên, 1978) (Ngô Sỹ Vân, 2009) Ở sông Rào Cái, tỉnh Hà Tĩnh có loài rô Mo thân cao (Siniperca vietnamensis Yên,

1978) (Võ Văn Phú, Biện Văn Quyền, 2015) Nguyễn Văn Giang (2018), nghiên cứu

cá lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng đã xác định được có cá rô Mo thường (rô

Mó) (Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899) và cá rô Mo sơ chê (Siniperca

scherzeri) tại khu vực nghiên cứu

Trong nghề nuôi cá giống cá có phẩm chất tốt mới có thể nuôi thâm canh và tăng sản lượng cá nuôi một cách hiệu quả Như vậy, người làm công tác sản xuất cá giống phải có kiến thức về ngành nói chung và kiến thức về lĩnh vực sản xuất giống

cá nói riêng như đặc điểm sinh học của các loài cá, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ thành

Trang 27

15

thục,…Bên cạnh đó, để kích thích cá sinh sản trong điều kiện nhân tạo thì người sản xuất phải nắm vững nguyên lý sử dụng các kích thích tố để kích thích cá sinh sản nhân tạo thành công Hiện nay, các loại kích thích tố được sử dụng trong việc kích thích cá sinh sản bằng tác nhân sinh lý phổ biến với các loại như Não thùy cá, HCG, LHRH-a

Ở nước ta, những nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá lăng, cá tra

và cá basa, cá trắm, cá chép, cá rô đầu vuông, rô phi… đã giúp sinh sản nhân tạo thành công các loài cá này Hiểu biết từ các loài cá này là cơ sở quan trọng có thể áp dụng trong sinh sản nhân tạo các loài cá tiếp theo Chính vì vậy, rất nhiều nghiên cứu

đã được thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về mùa vụ sinh sản, kích thước tham gia sinh sản, khả năng phát dục trong điều kiện nuôi và bước đầu thử nghiệm sinh sản nhân tạo nhiều loài cá ở các môi trường nước khác nhau

Thử nghiệm kích thích sinh sản cá Rô đầu vuông cái bằng: (LRH-A3 + Dom) với 3 liều: (70µgLRH-A3+2mgDom)/kg); (80µgLRH-A3+2mgDom)/kg; (90µgLRH-

A3+2mgDom)/kg - Cá đực: (40µgLRH-A3+2mgDom)/kg và HCG với 3 liều: 3000IU/kg; 4000IU/kg; 5000IU/kg cá đực: 2000IU/kg Kết quả nghiên cứu đã cho thấy cả (LRH-A3 + Dom) và HCG đều có hiệu quả kích thích cá Rô đầu vuông sinh sản Các kết quả về tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, năng suất cá bột đều đáp ứng yêu cầu của sản xuất Hiệu quả sinh sản khi sử dụng liều tối ưu của (LRH-A3+ Dom) và HCG để kích thích sinh sản cá Rô đầu vuông cho kết quả tương đương nhau (Lê Văn Dân, 2013)

Thử nghiệm kích thích cá hú (Pangasius conchophilus) sinh sản với ba loại

kích thích tố là HCG, Ovaprim và LHRH.a đã được tiến hành tại trung tâm giống thủy sản Đồng Tháp Kết quả nghiên cứu đã khẳng định HCG và Ovaprim đều có tác dụng gây rụng trứng ở cá hú với liều lượng thứ tự là: 5,000-6,000UI và 0,4-0,6ml/kg

cá cái Tỷ lệ rụng trứng từ 88,89-100%, sức sinh sản tương đối dao động từ 44,706 – 60,716 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh từ 77,0 – 84,45% và tỷ lệ nở từ 74 – 83,90% Chất kích thích LRHa ở liều lượng từ 150-250µg +-20mg Motilium / kg chưa có tác dụng gây rụng trứng và đẻ trứng ở cá hú (Nguyễn Văn Kiểm và Đỗ Minh Tri, 2010)

Trang 28

16

Một số nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá trơn đã khẳng định không có mối tương quan giữa liều lượng chất kích thích với các chỉ số sinh sản như tỷ lệ cá đẻ, số trứng thu được (Phạm Văn Khánh, 1996; Nguyễn Tường Anh, 1999) Vì hiệu quả của vấn đề kích thích cá đẻ trứng phụ thuộc vào nhiều vấn đề như sức khỏe của cá, hoạt tính của chất kích thích, không gian cá đẻ cùng với các điều kiện khác (Nguyễn Tường Anh và cs., 2000) Ngoài ra, tỷ lệ nở của phôi cá trong thí nghiệm này cũng không có

sự khác biệt giữa các nghiệm thức, điều đó chứng tỏ mức độ chín muồi của sản phẩm sinh dục đã quyết định đến suốt quá trình phát triển phôi chứ không phải tác nhân chất kích thích Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản là cơ sở quan trọng cho việc sinh sản nhân tạo các loài cá da trơn nói chung và cá ngạnh nói riêng Cá ngạnh được thu mua tại 3 địa điểm chính mà chúng phân bố tự nhiên là sông Đuống (Hà Nội), sông Cầu (Bắc Ninh) và hồ Thác Bà (Yên Bái) và được nuôi trong ao đất phục vụ cho việc nghiên cứu các đặc điểm: kích cỡ sinh sản, mùa vụ sinh sản, khả năng thành thục trong điều kiện ao nuôi và bước đầu thử nghiệm sinh sản nhân tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy: cá ngạnh có khả năng thành thục trong ao nước tĩnh với tỷ lệ 74,4% Bước đầu nhận thấy, mùa vụ sinh sản của cá ngạnh tập trung từ tháng 5 - 7

Cá trên 350g/con có thể bắt đầu tham gia sinh sản Hệ số thành thục dao động 1,67 - 4,46% Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối lần lượt là 5.927 - 15.906 trứng/cá cái và

7 - 19 trứng/g cá cái LRHa được xác định là hormone thích hợp để kích thích cho đẻ

cá ngạnh Phương pháp thụ tinh khô (50,3 và 18,25%) và bán ướt (27,14 và 15,1%) cho tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao hơn so với phương pháp thụ tinh ướt (13,2 và 0%) Kết quả nghiên cứu là tiền đề quan trọng cho việc sinh sản nhân tạo và bảo tồn nguồn lợi loài cá này (Đồng Quốc Trình và Thái Thanh Bình, 2013)

Nghiên cứu kích thích sinh sản cá bóp bằng hormon HCG và LHRHa với các liều lượng khác nhau đã được thực hiện Nguồn cá bố mẹ được dùng trong nghiên cứu là từ nguồn cá được nuôi vỗ và khối lượng cá dao động từ 10 – 12 kg/con Các loại hormone và liều lượng được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: (i) Không tiêm (cá đẻ tự nhiên); (ii) HCG được tiêm với 3 liều 250; 500; 750 UI/kg cá cái và (iii) LHRHa cũng được tiêm với 3 liều lượng 20; 30 và 40 µg/kg cá cái Cá cái và cá đực được tiêm cùng một thời gian và tiêm 1 lần Với mỗi liều lượng tiêm từ 3 – 5 cặp cá

Trang 29

17

bố mẹ Cá đực được tiêm với liều bằng ½ liều lượng cá cái Kết quả cho thấy, thời gian hiệu ứng dao động từ 36 – 62 giờ và tỷ lệ cá đẻ dao động từ 25-80%, với chất kích thích LHRH-a 20 và 30µg/kg thì tỷ lệ đẻ đạt cao nhất (80%) Sức sinh sản thực

tế trung bình dao động từ 76.601 – 91.058 trứng/kg/lần Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở nghiệm thức không tiêm và tiêm 20µg LHRH-a, 30µg LHRH-a cho kết quả tốt hơn (73,17 – 84,44%) so với các nghiệm thức còn lại và tỷ lệ nở cũng đạt cao nhất (74,24 – 83,58%) (Nguyễn Anh Tuấn và cs., 2014)

Nghiên cứu gồm 2 thí nghiệm Ở thí nghiệm 1, cá được tiêm hocmon LHRHa (Luteinizing hormone releasing hormone analog) với liều lượng 50 µg; 100 µg; 150

µg và 200 µg kết hợp với 10 mg DOM (Domperidone)/1 kg khối lượng, tương ứng với 4 nghiệm thức NT1.1, NT1.2, NT1.3, NT1.4 và nghiệm thức đối chứng không tiêm (ĐC1) Thí nghiệm 2 dùng phương pháp nâng nhiệt độ nước để kích thích cá sinh sản, với 3 nghiệm thức ĐC2 (nghiệm thức đối chứng, giữ nguyên nhiệt độ nước

ở 23ºC), NT2.1 (nâng nhiệt độ nước từ 23ºC lên 26ºC) và NT2.2 (nâng nhiệt độ nước

từ 23ºC lên 29ºC) Mục đích của nghiên cứu là góp phần xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo cá Tỳ bà bướm hổ Kết quả thí nghiệm 1 cho thấy, ở nghiệm thức ĐC1 cá không đẻ trứng Thời gian hiệu ứng của NT4 đạt ngắn nhất (6,44 giờ) và sai khác có

ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05), tuy nhiên không có sự khác biệt lớn về thời gian hiệu ứng giữa NT1 và NT2 (p > 0,05) Tỷ lệ cá đẻ đạt cao nhất (45,56%) ở NT3 và NT4 và khác biệt có ý nghĩa thống kê với NT1 và NT2 (p < 0,05)

Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng giữa các nghiệm thức thí nghiệm không sai khác (p > 0,05) Kết quả thí nghiệm 2 cho thấy, ở nghiệm thức ĐC2 cá không đẻ trứng Hai nghiệm thức NT1.1 và N2.2 có tỷ lệ đẻ lần lượt là 40,00 ± 6,67% và 43,3 ± 8,82% Thời gian hiệu ứng, tỷ lệ đẻ, thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng giữa 2 nghiệm thức này sai khác không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) (Võ Điều và cs., 2021)

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Cá Siniperca chuatsi được coi là một loại cá thực phẩm có giá trị từ thời cổ đại ở Trung Quốc Cá Siniperca chuatsi từ xa xưa đã được coi là một loại cá quý Loài cá này cùng với Cá chép sông Hoàng Hà (Cyprinus carpio var), cá rô sông

Trang 30

18

Songjiang (Perciformes spp.) và cá Erythroculter erythropterus hồ Xingkai, được ca

ngợi là “bốn loài cá nước ngọt nổi tiếng” ở Trung Quốc (Yao và Liang., 2015)

Cá Siniperca chuatsi, cá Siniperca kneri và Siniperca scherzeri đã được nuôi

ở Trung Quốc Chúng là loại cá thực phẩm truyền thống có giá trị cao, có hương vị thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao, cơ thịt ít xương và được người Trung Quốc yêu

quý Tuy nhiên, so với hai loài sau, cá Siniperca chuatsi được nuôi rộng rãi hơn trong

cả nước, và cũng là nguồn cung rất quan trọng trong các hồ và hồ chứa do kích thước lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn, sẵn có con giống, giá trị và nhu cầu thị trường cao (Liu và cs., 1998; Li và cs., 2014b; Yao và Liang, 2015)

Sử dụng hormone trong việc kích thích sinh sản nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong sản xuất giống các loài cá nuôi Nắm bắt được các loại hormone và cách

sử dụng là điều cần thiết Để sản xuất giống nhân tạo thành công, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học sinh sản là rất cần thiết

Việc sử dụng hormone kích thích rụng trứng là giải pháp để giúp nhiều cá thể sinh sản cùng thời điểm để thu được một lượng lớn cá bột (Ayson, 1991) Kích thích sinh sản còn là một bước quan trọng trong tiến trình thuần hóa một loài mới trong nuôi trồng thủy sản (Liao and Huang, 2000)

Kết quả nghiên cứu của Haider và Rao (1994), Pederson (2003), cũng cho thấy không có mối liên hệ giữa nồng độ chất kích thích (17α, 20β-dihydroxy-4- pregnen-3-one) với tỷ lệ nở của phôi cá chình Nhật Bản và cá trê vàng –Clarias microcephalus

Như vậy, với tiềm năng sinh học và giá trị kinh tế lớn, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục, kích thích cá sinh sản trong điều kiện nhân tạo, nắm vững nguyên lý sử dụng các kích thích tố để kích thích cá sinh sản nhân tạo là cơ sở quan trọng có thể áp dụng trong sinh sản nhân tạo cá rô

Mo Dựa trên những cơ sở khoa học về sinh sản nhân tạo cho cá, nghiên cứu bước đầu thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về mùa vụ sinh sản, kích thước tham gia sinh sản, khả năng phát dục trong điều kiện nuôi và bước đầu thử nghiệm sinh sản

nhân tạo cá mở ta hướng đi mới cho sự bảo tồn và phát triển loài cá này tại Việt Nam

Trang 31

19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

Đối tượng: Cá rô Mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Mẫu dùng nghiên cứu về đặc điểm sinh học được thu thập từ 5 huyện (Văn Quan, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Bình Gia) của tỉnh Lạng Sơn Nguồn cá rô Mo

kơ ne (Siniperca kneri) bố mẹ dùng trong thí nghiệm sinh sản được tuyển chọn trong quá trình thu thập từ tự nhiên Các thí nghiệm được tiến hành tại trung tâm Đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 06 năm 2023

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo

+ Nghiên cứu nuôi vỗ cá bố mẹ

+ Nghiên cứu kích thích sinh sản

+ Nghiên cứu ấp trứng

+ Nghiên cứu ương nuôi cá giống

2.4 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo

2.4.1 Phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ

Thí nghiệm nuôi vỗ cá Siniperca kneri bố mẹ được tiến hành từ tháng 09/2022

đến 3/2023 Cá trước khi bố trí thí nghiệm đã được nuôi dưỡng thích nghi với môi trường và cá săn mồi trong điều kiện nuôi nhốt

* Nuôi vỗ

Bể chứa cá nuôi vỗ có diện tích 100m2, sâu 1,0m Trước khi thí nghiệm, bể được vệ sinh bằng dung dịch clorine với liều lượng 100ppm, để khô trong 24 giờ và cấp nước mới vào bể Tiến hành sục khí 24/24h

Trang 32

rễ ràng, vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục có sẹ màu trắng chảy ra Cá cái lỗ sinh dục hình tròn hơi lồi ra và có màu phớt hồng bụng cá to và mềm

Cá đực và cá cái nuôi vỗ trong cùng một bể, mật độ 1con/m2, nước cấp cho bể nuôi vỗ là nước giếng khoan đã qua lắng lọc duy trì các yếu tố nhiệt độ ở mức trung bình theo các tháng nuôi từ 19 – 300C, pH từ 6,5 – 7,5, DO ≥5mg/l

Nuôi vỗ cá được tiến hành trong 6 tháng và được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn nuôi vỗ tích cực trong 4 tháng đầu, giai đoạn nuôi vỗ thành thục sinh dục trong

2 tháng còn lại

Giai đoạn 1: Thức ăn sử dụng trong giai đoạn này là cá con, tôm nhỏ (có thể sử dụng cả mồi sống và mồi chết) với lượng thức ăn 7-10% tổng khối lượng Cho ăn 2 lần/ngày, sáng 7-8h, chiều 16-18h Nước trong bể luôn duy trì độ sâu 1m, chế độ sục khí 24/24 giờ Định kỳ 1 tuần/lần thay 1/3 thể tích nước trong bể, thay phần nước bằng cách xả cống đáy Nước thay mới là nước giếng khoan, ở độ sâu 70m, được bơm trữ vào bể chứa 150m3 tối thiểu 1 tuần trước khi thay

Giai đoạn 2: Thức ăn sử dụng trong giai đoạn này là cá con, tôm nhỏ với lượng thức ăn 5% tổng khối lượng Cho ăn 2 lần/ngày, sáng 7-8h, chiều 16-18h Nước trong

bể luôn duy trì độ sâu 1m, chế độ sục khí 24/24 giờ Định kỳ 1 tuần/lần thay 1/3 thể tích nước trong bể, thay phần nước bằng cách xả cống đáy Sử dụng vòi nước áp lực liên tục trong giai đoạn này với lưu lượng khoảng 1-1,5m3/giờ Sử dụng chung nguồn nước như ở giai đoạn 1

Sau khi nuôi vỗ hai tháng tiến hành kiểm tra đánh giá sự phát triển của đàn cá

về độ béo và sức khoẻ để có chế độ chăm sóc phù hợp Nếu cá quá béo hoặc gầy thì điều chỉnh lượng thức ăn kết hợp điều chỉnh lưu thông nước Từ tháng thứ năm, đa

số trứng cá đã sang giai đoạn 4, nhiều con đực đã có tinh dịch, cần kiểm tra cá 2-3 ngày/lần Dùng tay kiểm tra cảm nhận độ mềm của bụng cá để đánh giá sự phát dục

Trang 33

21

của cá Dùng que thăm trứng lấy trứng của cá cái, vuốt tinh của cá đực Bắt riêng những con cá đực và cá cái thành thục để tiến hành cho sinh sản

* Phương pháp phân tích các chỉ tiêu

Vào cuối chu kỳ nuôi vỗ, tiến hành thu 20 cá bố mẹ (10 con cái, 10 đực) để phân tích một số chỉ tiêu sinh học sinh sản như:

- Tỷ lệ thành thục (%): là tỷ lệ giữa cá thành thục sinh dục (cá có buồng trứng giai đoạn III, IV) trên tổng số cá quan sát

- Hệ số thành thục (GSI - Gonado Somatic Index):

Cá được xác định hệ số thành thục theo công thức của Biswas (1993)

GSI (%) = 100 * Wg/ W Trong đó:

- Wg : Khối lượng tuyến sinh dục (g)

- W : Khối lượng toàn thân (g)

- Sức sinh sản

Tiến hành khảo sát trên cá cái, mỗi mẫu trứng được lấy tại 3 vị trí như phần đầu, phần giữa và phần cuối của buồng trứng Mẫu trứng được cố định trong dung dịch protease để trứng tách rời Sức sinh sản được xác định trên khối lượng trứng của

cá cái có tuyến sinh dục ở giai đoạn IV và tính số lượng tế bào trứng theo công thức của Banegal (1967):

- Sức sinh sản tuyệt đối (Absolute fecundity-Fa )

Fa (trứng/cá thể cái) = (n*Wg)/Wm Trong đó:

- Wg : Khối lượng buồng trứng (g)

- Wm : Khối lượng mẫu trứng được lấy ra đếm (g)

- n: Số trứng của mẫu trứng được lấy ra đếm

- Sức sinh sản tương đối (Relative fecundity-Fr)

Fr (trứng/kg cá cái) = Fa/W Trong đó: - Fr : Sức sinh sản tương đối

- Fa : Sức sinh sản tuyệt đối

- W : Khối lượng thân cá (g)

Trang 34

+ Nhiệt độ được đo bằng một cảm biến nhiệt có gắn trên đầu đo của thiết bị

đo oxy hòa tan có tên Hanna, model HI9147, với độ chính xác 0,2oC đối với nhiệt độ

+ Độ pH của nước được đo bằng máy đo pH Hanna Máy đo pH model HI991001 được sử dụng để đo pH của nước và được ghi lại trong máy tính

2.4.2 Phương pháp kích thích sinh sản

Thí nghiệm thăm dò

Cá bố mẹ sau khi nuôi vỗ đến cuối giai đoạn 2, kiểm tra mức độ thành thục, tiến hành kích thích cho đẻ bằng các loại hormone với liều như sau:

Nghiệm thức 1 (KDT1): 30µg LRHa + 8mg DOM cho 1 kg cá cái

Nghiệm thức 2 (KDT2): 40µg LRHa + 8mg DOM cho 1 kg cá cái

Nghiệm thức 3 (KDT3): 50µg LRHa + 8mg DOM cho 1 kg cá cái

Kích dục tố sử dụng cho cá cái được chia làm 2 lần (lần 1 tiêm 1/3 lượng thuốc;

Số còn lại tiêm lần 2 sau 6 giờ tính từ lần 1) Cá đực tiêm 1 lần vào cùng thời gian tiêm lần 2 của cá cái, liều lượng bằng 1/3 so với tổng liều của cá cái Theo dõi hiệu ứng của thuốc trên cá thí nghiệm đối với các liều tiêm để tìm ra liều tối ưu đối với cá

Siniperca kneri Chọn những cá bố mẹ khỏe mạnh, cá có tuyến sinh dục đã chín muồi

Kích dục tố LRHa + DOM được pha với nước muối sinh lý 0,9% để đạt được các nồng độ mong muốn theo các nghiệm thức của thí nghiệm Cá được tiêm chất kích thích sinh sản ngay vị trí gốc vi ngực của cá Sau đó cho cá vào các bể nhựa hoặc composite có sục khí và nước chảy liên tục Nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức có 3 cặp cá bố mẹ và lặp lại 03 lần

Chọn lọc những kết quả thăm dò tốt nhất để đưa vào sinh sản nhân tạo Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 3 nồng độ thuốc khác nhau Mỗi loại nồng độ có 3 cặp cá bố mẹ tham gia thử nghiệm Cá cái và cá đực được bố trí trong bể có dung tích 50 lít riêng biệt, nước dùng trong thí nghiệm đã qua lắng lọc, oxy hòa tan ≥ 5mg/l, nhiệt độ nước duy trì từ 26 – 290C, DO ≥ 5mg/l

Trang 35

23

Phương pháp thu và đánh giá các chỉ tiêu sinh sản

Phương pháp thụ tinh được tiến hành bằng phương pháp thụ tinh khô, vuốt trứng cá cái ra bát sau đó vuốt sẹ cá đực và bát trứng rồi dùng lông gà đảo đều trứng

và sẹ thêm nước muối sinh lý 0,5% tiếp tục khuấy nhẹ trong khoảng 15-20 giây sau

đó gạn nước đi rồi rửa lại bằng nước sách 2-3 lần và đem trứng cho vào bể ấp

Trứng cá sau khi đẻ được cho thụ tinh nhân tạo và chuyển sang bể ấp trứng Trứng của từng cá thể mẹ được bố trí ấp trong 1 bình vây 20 lít riêng biệt, nước cấp cho bể ấp được sục khí và chảy liên tục, theo dõi sự phát triển của trứng Khi trứng ở giai đoạn phôi vị (2-5 giờ sau khi cá đẻ) thì xác định tỷ lệ thụ tinh, theo dõi sự phát triển của phôi và xác định tỷ lệ cá nở sau khi thụ tinh

* Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sinh sản

- Tỉ lệ cá đẻ (%) = 100 x số cá đẻ /Số cá thí nghiệm

- Tỉ lệ thụ tinh (%) = 100 * số trứng thụ tinh /Số trứng quan sát

- Tỉ lệ nở (%) = 100*số trứng nở /Số trứng thụ tinh

- Sức sinh sản thực tế (trứng/kg) = số lượng trứng thu được/kg cá cái

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu ấp nở cá rô Mo

Trứng cá rô mo là trứng trôi nổi nên sau khi thụ tinh trứng không cần khử dính

và được đưa vào ấp trong bình hình nón dung tích 20l có nước chảy để trứng được đảo đều liên tục

Các chỉ tiêu:

+ Các chỉ tiêu về môi trường: nhiệt độ, pH và DO được kiểm tra 2 lần/ngày buổi sáng lúc 7-8h, buổi chiều 16-17h;

+ Tỉ lệ thụ tinh (%) = 100 * số trứng thụ tinh /Số trứng quan sát

+ Thời gian nở theo dõi trứng từ thời gian trứng thụ tinh và ấp đến thời điểm trứng nở thành cá bột

+ Tỉ lệ nở (%) = 100*số trứng nở /Số trứng thụ tinh

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu ương cá rô Mo

Các bể nhựa được vệ sinh sạch và cho nước vào mỗi bể sục trong 24 giờ để đảo bảo nguồn oxy trong nước trước khi thả cá

Trang 36

24

Cá bột được ương chung trong bể 50 lít nước có sục khí nhẹ, nước có nhiệt độ

là 29oC, oxy hòa tan ≥ 5mg/l, pH 7,5-8,0 Thức ăn là các ấu trùng, luân trùng, artemia được ấp nở bằng cách sục khí trước khi cho cá ăn 24h Cho cá ăn 2 lần/ ngày vào 7

và 16 giờ Duy trì sục khí 24/24 và định kỳ 4 ngày thay nước 1 lần, mỗi lần thay 50% lượng nước trong bể tránh gây sốc và đảm bảo các yếu tố môi trường thích hợp cho cá phát triển

30-Thí nghiệm ương cá bột lên hương với các mật độ 1 con/lit, 2 con/ lit và 3 con/lit Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

Thí nghiệm ương cá hương lên cá giống với các mật độ 10 con/m3, 20 con/m3

và 30 con/m3 Thí nghiêm lắp lại 3 lần

Tỉ lệ sống (%) = 100 * Số lượng cá thu được/ Số lượng cá ban đầu

+ Các chỉ tiêu tăng trưởng

Cá bột có khối lượng nhỏ nên mỗi mẫu cân khoảng 10-50 gam, sau đó đếm số

cá có trong lượng cá đã cân để tính khối lượng trung bình Khối lượng cá bột được xác định bằng cân điện tử 3 số lẻ (độ lệch 0,0001) Kết thúc thí nghiệm đếm toàn bộ

số cá ở mỗi bể, chọn ngẫu nhiên mỗi bể 30 con để xác định khối lượng và chiều dài

Các chỉ tiêu tăng trưởng tính theo các công thức sau:

- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (Daily Length Gain)

+ Tốc độ tăng trưởng theo khối lượng (DGRw – Daily Growth Rate by Weight)

DGRw (g/ngày) = ( 2 – 1)/( 2− 1) + Tốc độ tăng trưởng theo chiều dài (DGRL – Daily Growth Rate by

Length)

DGRL (mm/ngày) = 2 – 1 / 2− 1

Ngày đăng: 04/01/2024, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị An (1999). Đặc điểm sinh sản của ba dòng cá rô phi O.niloticus (dòng GIFT, dòng Thái, dòng Việt) trong điều kiện nhiệt độ lạnh. Luận văn thạc sỹ ngành Nuôi trồng Thủy sản, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: niloticus
Tác giả: Nguyễn Thị An
Năm: 1999
2. Phan Thị Lệ Anh và Dương Tuấn Phương (2020). Đặc điểm sinh học của cá rô cờ (Osphronemus exodon Roberts, 1994) ở sông Srêpốk, tỉnh Đắk Lắk. Tạp chí Đại học Khoa học Huế: Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tập 129, số 3D tr.51-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Osphronemus
Tác giả: Phan Thị Lệ Anh và Dương Tuấn Phương
Năm: 2020
4. Võ Văn Bình, Phạm Văn Phong &amp; Lê Ngọc Khánh (2014). Khai thác và phát triển nguồn gen cá Chiên (Bagarius rutilus Ng&amp; Kottelat, 2000). Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước. Mã số: NVQG 2011/19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bagarius rutilus
Tác giả: Võ Văn Bình, Phạm Văn Phong &amp; Lê Ngọc Khánh
Năm: 2014
5. Lê Văn Dân (2013). Ảnh hưởng của chất kích thích và mật độ ấp đến một số chỉ tiêu sinh sản của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus, Bloch 1782). Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chuyên san khoa học Nông nghiệp, Sinh học và Y Dược, tập 85, số 7, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anabas testudineus
Tác giả: Lê Văn Dân
Năm: 2013
6. Võ Điều, Nguyễn Văn Huệ, Phan Đỗ Dạ Thảo (2021). Ảnh hưởng của lhrha và nhiệt độ nước đến sinh sản của cá tỳ bà bướm hổ (Sewellia lineolata). Tạp chí khoa học &amp; công nghệ nông nghiệp, ĐH Huế. Tập 6(2)-2022: 3030-3039 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sewellia lineolata
Tác giả: Võ Điều, Nguyễn Văn Huệ, Phan Đỗ Dạ Thảo
Năm: 2021
8. Nguyễn Anh Hiếu, Đặng Văn Hoàn, Võ Văn Bình &amp; Nguyễn Hữu Ninh (2013). Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục và kích thích sinh sản cá Nheo mỹ (Ictalurus punctatus Rafinesque, 1818). Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, 10: 65-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ictalurus punctatus
Tác giả: Nguyễn Anh Hiếu, Đặng Văn Hoàn, Võ Văn Bình &amp; Nguyễn Hữu Ninh
Năm: 2013
9. Nguyễn Thị Hoa (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng Protein trong thức ăn đến sinh sản của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) chọn giống dòng NOVIT 04. Luận văn Thạc sỹ nuôi trồng thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oreochromis niloticus
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2008
12. Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Tử Minh, Nguyễn Khoa Huy Sơn (2019). Nuôi vỗ thành thục và ảnh hưởng của liều lượng hormone HCG lên sinh sản của cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801). Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Tập 128, Số 3A, 2019, Tr. 15–25, DOI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bostrichthys sinensis
Tác giả: Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Tử Minh, Nguyễn Khoa Huy Sơn
Năm: 2019
14. Nguyễn Văn Kiểm và Đỗ Minh Tri (2010). Thử nghiệm kích thích cá hú (pangasius conchophilus) sinh sản bằng kích thích tố khác nhau. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Cần Thơ, 15b 64-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: pangasius conchophilus
Tác giả: Nguyễn Văn Kiểm và Đỗ Minh Tri
Năm: 2010
18. Trần Sương Ngọc, Lê Ngọc Hà, Nguyễn Thị Tý Nị và Vũ Ngọc Út (2010). Ảnh hưởng của nhiệt độ và pH lên một số chi tiêu sinh học sinh sản của luân trùng nước ngọt (Brachionus angularis). Tạp chí khoa học Trường Đại học Bạc Liêu, 14b, trang: 109-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brachionus angularis
Tác giả: Trần Sương Ngọc, Lê Ngọc Hà, Nguyễn Thị Tý Nị và Vũ Ngọc Út
Năm: 2010
19. Mai Văn Nguyễn, Võ Văn Bình &amp; Nguyễn Anh Hiếu (2013). Bước đầu nghiên cứu nuôi vỗ thành thục và kích thích sinh sản nhân tạo cá Chày đất (Spinibarbus hollandi Oshima, 1919). Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, 10: 84-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spinibarbus hollandi
Tác giả: Mai Văn Nguyễn, Võ Văn Bình &amp; Nguyễn Anh Hiếu
Năm: 2013
26. Đồng Quốc Trình, Thái Thanh Bình (2013). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá ngạnh (Cranoglanis henrici Vaillant, 1893). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, tr 78-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cranoglanis henrici
Tác giả: Đồng Quốc Trình, Thái Thanh Bình
Năm: 2013
27. Lê Minh Toán, Vũ Văn Sáng và Trịnh Đình Khuyến (2012). Ảnh hưởng độ mặn đến khả năng sinh sản của cá rô phi vằn chọn giống trong môi trường lợ mặn (Oreochromis niloticus). Tạp chí Khoa học và phát triển, Tập 10, số 7: 993-999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oreochromis niloticus)
Tác giả: Lê Minh Toán, Vũ Văn Sáng và Trịnh Đình Khuyến
Năm: 2012
29. Nguyễn Anh Tuấn, Lê Quốc Việt &amp; Trần Ngọc Hải (2014). Nghiên cứu kích thích cá Bóp (Rachycentron canadum) sinh sản bằng Hormon khác nhau. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, chuyên đề thủy sản (2014)(1):132-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rachycentron canadum
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn, Lê Quốc Việt &amp; Trần Ngọc Hải (2014). Nghiên cứu kích thích cá Bóp (Rachycentron canadum) sinh sản bằng Hormon khác nhau. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, chuyên đề thủy sản
Năm: 2014
2. Asaduzzaman Md, Abdul Kader, Mahbuba Bulbul , Ambak Bolong Abol- Munafi, Mazlan Abd Ghaffer, Marc Verdegem (2016). Biochemical composition and growth performances of Malaysian Mahseer Tor tambroides larvae fed with live and formulated feeds in indoor nursery rearing system. Aquaculture Reports, Volume 4, 156-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tor tambroides
Tác giả: Asaduzzaman Md, Abdul Kader, Mahbuba Bulbul , Ambak Bolong Abol- Munafi, Mazlan Abd Ghaffer, Marc Verdegem
Năm: 2016
4. Benndorf J., Boing W., Koop J., Neunauer I. (2002). Top ‐ down control of phytoplankton: the role of timescale, lake depth and trophic state. Freshwater Biology, 47, 2282–2295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freshwater Biology, 47
Tác giả: Benndorf J., Boing W., Koop J., Neunauer I
Năm: 2002
13. Kailasam, M., Thirunavukkarasu, A. R., Selvaraj, S. &amp; Stalin, P (2007). Effect of delayed initial feeding on growth and survival of Asian sea bass Lates calcarifer (Bloch) larvae. Aquaculture 271, 298–306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lates calcarifer
Tác giả: Kailasam, M., Thirunavukkarasu, A. R., Selvaraj, S. &amp; Stalin, P
Năm: 2007
17. Phan Văn Mạch, Nguyễn Kiêm Sơn (2015). Đa dạng các loài cá và tác động làm thay đổi cấu trúc thành phần cũng như nguồn lợi cá các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La, truy cập tại: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/10176 ngày 4/12/2021 Link
1. Tiền Diệp Châu, Ngô Siêu (2014). Breeding method of hybrid mandarin fishes. Truy cập tại: https://patents.google.com/patent/CN104145865A/en ngày 28 tháng 4 năm 2023 Link
4. Quan Minh Kiến (2018). Rock mandarin fish artificial breeding method. Truy cập tại https://patents.google.com/patent/CN107593526A/en ngày 28 tháng 4 năm 2023 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Rô mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912)  1.1.3. Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá rô Mo - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 1.1 Rô mo kơne (Siniperca kneri Garman, 1912) 1.1.3. Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá rô Mo (Trang 16)
Bảng 3.1. Các yếu tố môi trường bể nuôi vỗ - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Bảng 3.1. Các yếu tố môi trường bể nuôi vỗ (Trang 38)
Hình 3.1: Kiểm tra môi trường bể nuôi vỗ - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 3.1 Kiểm tra môi trường bể nuôi vỗ (Trang 40)
Hình 3.3: Cá rô mo bố mẹ - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 3.3 Cá rô mo bố mẹ (Trang 41)
Hình 3.2. Bể nuôi vỗ cá rô mo bố mẹ - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 3.2. Bể nuôi vỗ cá rô mo bố mẹ (Trang 41)
Hình 3.4: Pha thuốc kích thích LRHa + DOM - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 3.4 Pha thuốc kích thích LRHa + DOM (Trang 45)
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của LH-RHa+DOM lên các chỉ tiêu sinh sản của cá - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của LH-RHa+DOM lên các chỉ tiêu sinh sản của cá (Trang 46)
Bảng 3.5. Môi trường bể ương từ cá bột lên cá giống - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Bảng 3.5. Môi trường bể ương từ cá bột lên cá giống (Trang 49)
Bảng 3.6. Tỷ lệ sống của cá Siniperca kneri giai đoạn cá bột lên cá hương - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Bảng 3.6. Tỷ lệ sống của cá Siniperca kneri giai đoạn cá bột lên cá hương (Trang 51)
Bảng 3.7. Tăng trưởng khối lượng cá Siniperca kneri giai đoạn cá bột lên hương. - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Bảng 3.7. Tăng trưởng khối lượng cá Siniperca kneri giai đoạn cá bột lên hương (Trang 54)
Hình 3.11: Đo kích thước cá rô mo hương - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 3.11 Đo kích thước cá rô mo hương (Trang 55)
Bảng 3.8. Tăng trưởng theo kích thước giai đoạn ương cá bột lên cá hương - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Bảng 3.8. Tăng trưởng theo kích thước giai đoạn ương cá bột lên cá hương (Trang 56)
Hình 3.12: Đo kích thước cá rô mo giống - Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô mo kơne (siniperca kneri garman, 1912
Hình 3.12 Đo kích thước cá rô mo giống (Trang 61)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm