1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Khả Năng Sản Xuất Của Hai Tổ Hợp Gà Lai F2 (Chọi X (Chọi X Lv) Và (Lv X (Chọi X Lv)) Nuôi Thịt Tại Thái Nguyên
Tác giả Trần Thị Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS. Từ Trung Kiên, PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hà
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng được yêu cầu về sản lượng và thị hiếu người tiêu dùng chúng ta đã nhập các giống gà màu thả vườn có những đặc điểm quý như: Lông màu, da vàng, năng suất thịt, năng suất sinh s

Trang 1

Thái Nguyên - 2023

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Trung Kiên

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà

Thái Nguyên - 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào

- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết luận văn đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2023

TÁC GIẢ

Trần Thị Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được

sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên khích lệ của gia đình Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Thầy giáo PGS.TS Từ Trung Kiên và PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà

đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo tại Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng vật nuôi - Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên, Viện Khoa học sự sống, Đại học Thái Nguyên đã giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2023

TÁC GIẢ

Trần Thị Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

THESIS ABSTRACT ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Cơ sở khoa học về sinh trưởng của gà 3

1.1.2 Nguồn gốc, đặc điểm và khả năng sản xuất của gà thí nghiệm 11

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi 21

2.4.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 22

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 26

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Đặc điểm ngoại hình của con lai 27

3.1.1 Đặc điểm về màu lông 27

3.1.2 Đặc điểm về kiểu mào 29

3.1.3 Đặc điểm màu da chân 30

3.2 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm 32

3.3 Sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 33

3.3.1 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 33

3.3.2 Sinh trưởng tương đối và sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 36

3.4 Khả năng sử dụng và chuyển hoá thức ăn 40

3.4.1 Tiêu thụ thức ăn của gà qua các tuần tuổi 40

3.4.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 41

3.4.3 Tiêu tốn năng lượng trao đổi (Kcal) 44

3.5 Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 45

3.6 Hạch toán kinh tế cho 1 kg gà xuất bán 47

3.7 Đánh giá năng suất thịt của gà thí nghiệm 49

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

1 Kết luận 51

2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20

Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn trong thí nghiệm 21

Bảng 3.1 Đặc điểm màu lông của gà thí nghiệm 27

Bảng 3.2 Kiểu mào của gà thí nghiệm 29

Bảng 3.3 Màu da chân của gà thí nghiệm 31

Bảng 3.4 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 32

Bảng 3.5 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 34

Bảng 3.6 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà thí nghiệm 37

Bảng 3.7 Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 40

Bảng 3.8 Hệ số chuyển hoá thức ăn cộng dồn (kg/kg tăng khối lượng) 42

Bảng 3.9 Tiêu tốn năng lượng trao đổi qua các tuần tuổi (Kcal) 44

Bảng 3.10 Chỉ số sản xuất (PI) của gà thí nghiệm 45

Bảng 3.11 Chỉ số kinh tế (EN) của gà thí nghiệm 46

Bảng 3.12 Hạch toán kinh tế cho một kg gà xuất bán 47

Bảng 3.13 Kết quả mổ khảo sát của gà thí nghiệm 49

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: TRẦN THỊ NGỌC

Tên luận văn: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai F2

((Chọi x (Chọi x LV) và (LV x (Chọi x LV)) nuôi thịt tại Thái Nguyên”

Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành từ 1 đến 16 tuần tuổi, gà

sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh trong suốt thời gian thí nghiệm Thí nghiệm được nuôi theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn, hệ thống chuồng hở Mỗi lô gà thí nghiệm được nuôi với số lượng 30 con, lặp lại 3 lần, tổng gà thí nghiệm/lô là

90 con

Hàng ngày đếm và ghi chép chính xác số gà chết của mỗi lô gia cầm thí nghiệm Cuối mỗi tuần theo dõi, thống kê tổng số gà chết trong mỗi lô thí nghiệm để xác định số con còn sống

Khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (xác định theo tuần tuổi) Cân hàng tuần từ 4 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân gà vào buổi sáng, trước khi cho ăn, cân vào một giờ và một ngày cố định trong tuần, cân từng con một

Khối lượng cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát, đó là hệ quả được rút ra khi tính toán số liệu thu được từ khối lượng sống

Trang 10

qua các tuần tuổi Trong thí nghiệm này, xác định tăng khối lượng tuyệt đối theo từng tuần tuổi, theo giai đoạn nuôi và tính trung bình mỗi ngày trong tuần Cách xác định khối lượng thân thịt: Sau khi cắt tiết, vặt lông, rạch bụng theo dọc xương lưỡi hái, bỏ ruột, phối, khí quản, lá lách, tách mật khỏi gan, lấy thức ăn và màng sừng ra khỏi mề, bỏ mề và gan vào bụng Cắt bỏ đầu ở đoạn xương chẩm và đốt xương cổ đầu tiên, cắt chân ở khớp khuỷu rồi cân khối lượng lên ta được khối lượng thân thịt

Kết quả chính và kết luận:

Đến 13 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà ở lô TN1 là 97,78%; lô TN2 là 95,56% Gà ở lô TN1 và 2 có các mầu lông chủ đạo là tía, vàng sáng, ngũ sắc, nâu, hai kiểu mào (mào chích và lá) và 3 kiểu màu da chân (trắng, vàng, xanh)

Ở 13 tuần tuổi, gà ở lô TN1 có khối lượng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và tương đối trung bình lần lượt là 2021,03 g/con; 15,74 g/con/ngày; 5,57 % Còn ở lô TN2 sau 16 tuần tuổi lần lượt là 1866,38 g/con; 9,03 g/con/ngày; 3,45 %

Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm từ sơ sinh - 13 tuần tuổi đối với lô TN1 là 64,49 g/con/ngày và ở lô TN2 là 58,81 g/con/ngày, còn FCR lần lượt là 2,96 và 3,3 kg/kg tăng khối lượng

Chỉ số sản xuất của đàn gà thí nghiệm giảm dần từ tuần 10, chỉ số sản xuất ở các lô gà thí nghiệm 1, thí nghiệm 2 giảm dần lần lượt từ 90,69 và 65,08 xuống còn 73,3 và 52,97

Lợi nhuận thu được ở lô thí nghiệm 1 là 8.566 đồng/kg thấp hơn ở lô thí nghiệm 2 (11.591 đồng/kg)

Các chỉ tiêu mổ khảo sát (tỷ lệ thân thịt, cơ ngực, cơ đùi) ở lô TN1 đều cao hơn lô TN2

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master of Science: TRAN THI NGOC

Thesis name: "Research on the production capacity of two F2 hybrid chicken combinations ((Choi x (Choi x LV) and (LV x (Choi x LV)) raised for meat in Thai Nguyen"

Major: Animal husbandry; Code: 8.62.01.05

Education organization: University of Agriculture and Forestry - Thai Nguyen University

Every day, count and record accurately the number of dead chickens in each batch of experimental poultry At the end of each monitoring week, count the total number of dead chickens in each experimental group to determine the number of surviving chickens

Poultry body weight through farming stages (determined by weeks of age) Weighed weekly from 4 weeks of age until the end of the experiment Weigh the chickens in the morning, before feeding, at a fixed time and day of the week, and weigh each bird individually

Trang 12

Body mass increased per unit of time between two surveys, which is a consequence drawn when calculating data obtained from live weight over weeks of age In this experiment, determine the absolute weight gain for each week of age, each stage of farming and calculate the average for each day of the week

How to determine the weight of the carcass: After cutting the blood, plucking the feathers, cutting the abdomen along the scythe bone, removing the intestines, lungs, trachea, spleen, separating bile from the liver, removing food and horny membranes from the gizzard Put the gizzard and liver into the stomach Cut off the head at the occipital bone and the first collar bone, cut off the legs at the elbow joint and then weigh the weight to get the carcass weight

Main results and conclusions:

By 13 weeks of age, the cumulative survival rate of chickens in batch TN1 was 97.78%; batch TN2 is 95.56% Chickens in batches TN1 and 2 have the main feather colors of purple, bright yellow, iridescent, brown, two types of combs (sting and leaf combs) and 3 types of leg skin color (white, yellow, blue)

At 13 weeks of age, chickens in batch TN1 had an average cumulative weight, absolute and relative growth of 2021.03 g/chicken, respectively; 15.74 g/head/day; 5.57 % And in batch TN2 after 16 weeks of age, it was 1866.38 g/head respectively; 9.03 g/head/day; 3.45 %

The amount of food intake of experimental chickens from birth to 13 weeks of age for group TN1 is 64.49 g/chicken/day and for batch TN2 is 58.81 g/chicken/day, and the FCR is 2, respectively 96 and 3.3 kg/kg weight gain

The production index of the experimental chicken flock gradually decreased from week 10, the production index in the chicken lots of

Trang 13

experiment 1 and experiment 2 gradually decreased from 90.69 and 65.08 to 73.3 and 52, respectively 97

The profit earned in experimental lot 1 was 8,566 VND/kg, lower than

in experimental lot 2 (11,591 VND/kg)

The survey necropsy criteria (carcass ratio, chest muscle, thigh muscle)

in batch TN1 were all higher than batch TN2

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển và chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được nhiều người quan tâm Chăn nuôi gà đã có những biến chuyển tích cực, đạt được những thành tựu khả quan như: tổng đàn tăng lên về số lượng và chất lượng Cùng với xu thế chung của ngành chăn nuôi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát triển thâm canh chăn nuôi cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các giống vật nuôi địa phương nhằm khai thác hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học mang lại tính ổn định bền vững cho phát triển lâu dài Đây là vấn đề cấp bách, khó khăn, phức tạp mang tính toàn cầu, cần được nhiều ngành quan tâm

Ở Việt Nam có rất nhiều giống vật nuôi truyền thống có giá trị kinh tế thấp nên đang bị thu hẹp về không gian phân bố, giảm dần về số lượng và có nguy cơ bị tuyệt chủng ví dụ như: gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Kỳ Lừa, gà Mèo

Gà Chọi cũng là một trong những giống vật nuôi nói trên, mặc dù xét về ý nghĩa kinh tế của giống gà này thì không lớn, song đây là giống gà được cộng

đồng các dân tộc người Việt nuôi từ ngàn đời nay, nó gắn liền với tập quán văn hóa và đời sống tinh thần của các dân tộc người Việt

Để đáp ứng được yêu cầu về sản lượng và thị hiếu người tiêu dùng chúng ta

đã nhập các giống gà màu thả vườn có những đặc điểm quý như: Lông màu, da vàng, năng suất thịt, năng suất sinh sản khá cao, không đòi hỏi các điều kiện đầu

tư cao, đó là các giống Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng, LV

Thực tế người tiêu dùng ở nước ta thích sử dụng thịt của các giống gà lai, đặc biệt là giống gà lai Chọi Trường Đại học Nông Lâm đã nghiên cứu tạo ra con lai giữa gà Chọi với LV có nhiều đặc điểm phù hợp với thị hiếu

Trang 15

người tiêu dùng Để tiếp tục nghiên cứu và tìm ra thế hệ con lai phù hợp với sản xuất, chúng tôi tiếp tục thử nghiệm nuôi dưỡng thế hệ con lai F2 nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và cho thịt của tổ hợp lai Xuất phát từ thực

tiến này, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của

hai tổ hợp gà lai F2 ((Chọi x (Chọi x LV) và (LV x (Chọi x LV)) nuôi thịt tại Thái Nguyên”

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định đặc điểm ngoại hình của 2 con lai Chọi x (Chọi x LV) và LV (Chọi x LV)

Xác định năng suất và chất lượng thịt của hai con lai Chọi x (Chọi x LV)

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Xác định đươc công thức lai có khả năng sinh trưởng tốt Từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thịt

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học về sinh trưởng của gà

1.1.1.1 Khả năng sinh trưởng

* Khái niệm về sinh trưởng

Chamber (1990) định nghĩa: “Sinh trưởng là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau

về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng”

Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), đã khái quát: “Sinh trưởng

là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên

về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước” Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, dinh dưỡng và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác

Sự sinh trưởng ở động vật tuân theo những quy luật nhất định Theo Chamber (1990), thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau Sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ quan (mô, xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm

* Sức sản xuất thịt, năng suất thân thịt

Năng suất thân thịt là chỉ tiêu quan trọng và thông dụng để đánh giá sức sản xuất thịt của vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua khối lượng cơ thể, tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ thịt đùi và tỷ lệ mỡ bụng

Trang 17

Năng suất thịt phụ thuộc vào loài, giống, tuổi, tính biệt và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng Giữa các dòng gà luôn có sự sai khác nhau về năng suất thịt

xẻ và các thành phần thân thịt như đùi, ngực, cánh và từng phần da xương

Ảnh hưởng của giống

Mỗi giống có một tốc độ sinh trưởng nhất định Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng đó là do bản chất di truyền quy định Đặc điểm di truyền của giống và ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là cùng một kiểu gen nhưng ở các môi trường khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau Cho nên việc cần thiết là phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát huy tối đa tiềm năng di truyền của giống Jaap và Moris (1997) đã phát hiện

ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) cho biết, gà con ở 40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với 01 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần 20 ngày tuổi để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 01 ngày tuổi Khảo sát khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rock thì dòng TĐ9 có khả năng sinh trưởng tốt nhất Đến 8 tuần tuổi, dòng TĐ9 có khối lượng sống vượt dòng TĐ8 12,90% và vượt TĐ3 17,40%

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen về sinh trưởng liên kết giới tính cho nên con trống thường lớn hơn con mái Điều này chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng của gia cầm

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô khác nhau gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô này với mô khác Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng

mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng

Trang 18

Lê Hồng Mận (1993) cho biết nhu cầu protein thích hợp cho gà broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh tỷ lệ giữa năng lượng và protein trong thức ăn cũng rất quan trọng, để phát huy được khả năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng

Chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành trong chăn nuôi gà broiler, nên bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đều đưa lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi gà broiler Do vậy, để có năng suất cao trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì lập ra những khẩu phần dinh dưỡng cân đối theo nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi là hết sức cần thiết

Ảnh hưởng của chăm sóc quản lý

Bên cạnh các yếu tố nêu trên thì sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng, mật độ nuôi

+ Ảnh hưởng của nhiệt độ

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) thì nhiệt độ chuồng nuôi gà sau 29 ngày thích hợp là 220C Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler Do vậy tiêu thụ thức ăn của

gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu tốn thức ăn của gà cũng khác nhau

Theo Cerniglia và Herrtand Walt (1983) thì nhiệt độ chuồng nuôi thay đổi 100C tiêu thụ năng lượng của gà biến đổi tương đương 2 Kcal, mà nhu cầu

về năng lượng và các vật chất dinh dưỡng khác cũng bị thay đổi theo nhiệt độ môi trường

Wash Burn (1992), cho biết nhiệt độ cao làm gà sinh trưởng chậm, tăng

tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn ở các khu vực chăn nuôi gà broiler công nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới Nir (1992), qua nghiên cứu đã chỉ ra rằng với

Trang 19

nhiệt độ môi trường 35 0C ẩm độ tương đối 66 % đã làm giảm quá trình tăng khối lượng cơ thể 30 – 35 % ở gà trống, 20 – 30 % ở gà mái so với điều kiện thích hợp về khí hậu Thông thường khi nhiệt độ cao khả năng ăn của gia cầm giảm Để đảm bảo khả năng sinh trưởng của gà người ta đã sử dụng khẩu phần ăn có năng lượng cao dựa nhiên trên cơ sở cân bằng tỷ lệ ME/CP cũng như axit amin/ME và tỷ lệ khoáng, vitamin trong thức ăn cũng cao hơn so với nhu cầu của chúng

Vì vậy, trong điều kiện khí hậu ở nước ta, tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào nhiệt độ của từng giai đoạn mà điều chỉnh mức ME và tỷ lệ ME/CP cho phù hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà thịt nói riêng

+ Ảnh hưởng của ẩm độ và thông thoáng

Ẩm độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia cầm Khi ẩm độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức ăn dễ bị ẩm mốc làm ảnh hưởng xấu tới gà, đặc biệt là NH3 do vi khuẩn phân huỷ axit uric trong phân và chất độn chuồng làm tổn thương đến hệ hô hấp của gà, tăng khả năng nhiễm bệnh cầu trùng, Newcastle, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của gà

Độ thông thoáng trong chuồng nuôi có vai trò quan trọng trong việc giúp

gà đủ O2, thải CO2 và các chất độc khác Thông thoáng làm giảm ẩm độ, điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi từ đó hạn chế bệnh tật

Tốc độ gió lùa và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng tới tăng khối lượng của gà, gà con nhạy cảm hơn gà trưởng thành Đối với gà lớn cần tốc độ lưu thông không khí lớn hơn gà nhỏ

+ Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015), với gà broiler giết thịt sớm 42 - 49 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ,

Trang 20

cường độ chiếu sáng 20 lux /m2, ngày thứ tư đến kết thúc thời gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng còn 5 lux/m2

Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều do đó làm giảm tốc độ tăng khối lượng Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần che ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng, ánh sáng được phân bố đều trong chuồng, hoặc có thể sử dụng bóng đèn có cùng công suất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn

+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt

Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu quả cao, nếu mật độ nuôi nhốt cao thì chuồng nhanh bẩn, lượng khí thải NH3,

CO2,H2S cao và quần thể vi sinh vật phát triển ảnh hưởng tới khả năng tăng khối lượng và sức khoẻ của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm với bệnh tật, tỷ lệ đồng đều thấp, tỷ lệ chết cao, cuối cùng làm giảm hiệu quả trong chăn nuôi Ngược lại mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng trại cao Do vậy tuỳ theo mùa vụ, tuổi gà và mục đích sử dụng cần có mật độ chăn nuôi thích hợp

1.1.1.2 Sức sống và khả năng cảm nhiễm bệnh

Sức sống của gia cầm là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật giúp ta đánh giá được khả năng thích nghi và chống đỡ bệnh tật của đàn gia cầm Sức sống cũng là tính trạng di truyền số lượng, nó đặc trưng cho từng loài, giống và từng cá thể Sức sống được biểu hiện ở tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn, từ

sơ sinh đến lúc giết thịt Sức sống phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh như: Điều kiện thời tiết, khí hậu, thức ăn, nước uống, quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y Nếu một trong các yếu tố nói trên đột ngột thay đổi sẽ có ảnh hưởng xấu đến sức sống của gia cầm Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào khả năng di truyền giống, nếu mức độ giao phối cận thân tăng lên cũng làm giảm khả năng thích ứng, giảm khả năng chống đỡ bệnh tật, làm cho sức sống giảm rõ rệt

Trang 21

1.1.1.3 Cơ sở khoa học của việc lai tạo

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) các tính trạng sản xuất là các tính trạng

số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng… Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản,… đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Phần lớn các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng Cơ sở

di truyền học của tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy

định Các tính trạng số lượng (quantitative character) là những tính trạng mà

ở đó sự sai khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại và sự khác nhau này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó

Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường (Metric

độ tăng trọng của gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng… Tuy nhiên,

có những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: số lợn con đẻ ra/lứa, số lượng trứng gà đẻ ra trong một năm vẫn được coi là tính trạng số lượng Đó là những tính trạng số lượng đặc biệt

Nghiên cứu đặc điểm di truyền học của các tính trạng số lượng, bên cạnh việc vận dụng các quy luật di truyền của Mendel còn phải sử dụng các khái niệm toán thống kê xác suất để phân tích các giá trị di truyền

Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là

giá trị kiểu hình (phenotypic value) của cá thể đó Các giá trị có liên quan đến kiểu gen là giá trị kiểu gen (genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sai lệch môi trường (environmental evitation) Như vậy có nghĩa là

Trang 22

kiểu gen quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ trên có thể biểu thị như sau:

P = G + E

Trong đó: P: là giá trị kiểu hình

G: là giá trị kiểu gen

E: là sai lệch môi trường

Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0), thì trung bình giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen Khi đó thuật ngữ trung

bình quần thể (population mean) là trung bình giá trị kiểu hình hoặc trung

bình giá trị kiểu gen của quần thể và trung bình quần thể là tổng các tích số của từng giá trị kiểu gen với tần số của nó khi đề cập đến các thế hệ kế tiếp nhau Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ

thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng

nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiên tượng đa gen (polygene) Môi trường

có ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng là những tính trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường Tác động của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không khí… lên tính trạng số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và làm thay đổi các giá trị của tính trạng Giá trị kiểu gen được phân theo ba phương thức hoạt động bao gồm: sự cộng gộp, sai lệch trội và tương tác giữa các gen

G = A + D + I

Trong đó: G: là giá trị kiểu gen (geneotypic value)

A: là giá trị cộng gộp (additive value)

D: là sai lệch do tác động trội lặn (dominancedeviation)

I: là sai lệch do tương tác giữa các gen (interaction deviation)

Trang 23

* Giá trị cộng gộp hay giá trị giống

Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ cho đời con phải có một giá trị

đo lường mới có liên hệ với gen chứ không phải có liên hệ với kiểu gen, đó là hiệu ứng trung bình của các gen Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen quy định tính trạng (tổng các hiệu ứng được thực hiện với từng cặp gen ở mỗi locus và trên tất cả các locus) được gọi là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống của cá thể Nó là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể

di truyền cho đời sau

1.1.1.4 Sức sống và khả năng kháng bệnh

Sức sống và khả năng kháng bệnh ở gia cầm là những tính trạng di truyền đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể và được xác định bởi khả năng chống chịu những ảnh hưởng của dịch bệnh và ngoại cảnh môi trường,

nó là yếu tố quan trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng vẫn nằm trong giới hạn của phẩm giống Theo Lê Viết Ly (1995) cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng

cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp

Khavecman (1972) cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là

do tác động của môi trường

Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải

Trang 24

Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, giống, kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ,… Ngoài các yếu tố trên thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt bệnh truyền nhiễm

1.1.2 Nguồn gốc, đặc điểm và khả năng sản xuất của gà thí nghiệm

1.1.2.1 Gà chọi

Bộ NN & PTNT ban hành Thông tư số: 01/2018/TT-BNNPTNT chính thức công nhận gà Chọi là một trong 18 giống gà nội của Việt Nam Màu sắc của lông, da: Nhìn chung màu sắc lông của gà Chọi đa dạng, có thể thuần màu hay đa màu trên một cá thể Thông thường màu sắc lông phụ thuộc vào màu lông của con trống là chính, màu lông giống con trống chiếm tỷ lệ 50 - 60%

Màu lông:

Gà có lông đen tuyền, gọi là gà ô, loại này chiếm tỉ lệ cao nhất

Gà có lông đen, lông mã và lông cổ màu đỏ gọi là gà Tía

Gà có màu lông xám tro gọi là gà Xám

Gà có màu lông giống lông chim ó gọi là gà Ó

Gà có màu lông trắng toàn thân, gọi là gà Nhạn

Gà có lông 5 màu (đỏ, đen, vàng, trắng, xám), gọi là gà Ngũ sắc

Ngoài ra, còn có một số có màu lông pha tạp như gà đen có chấm trắng

Màu mỏ: Màu mỏ cũng có màu sắc đa dạng, thường thấy mỏ có màu trắng ngà, màu vàng, màu đen, màu xanh lợt (xanh đọt chuối)

Mỏ nhỏ và thấp Theo những người chơi gà chuyên nghiệp thì mỏ gà Chọi được chia ra mỏ thường, mỏ lẹ nhưng yếu; mỏ quắp, mỏ nhanh kém bắt,

dễ tuột, mỏ tốt nhất vững vàng mỏ độc quắp chắc

Cổ gà có nhiều hình thù khác nhau: cổ tròn, cổ dẹp, cổ cò, cổ kền, cổ liền, cổ rời, cổ đôi

Trang 25

Lưng gà Chọi xuôi theo với cổ, bằng ngang, thẳng băng, xéo theo với

đuôi, gà Chọi có lưng dài, lưng ngắn, lưng gù

Cánh gà Chọi gồm có cánh dài phủ kín phao câu gọn ghẽ, cánh ngắn thả thòng không ôm sát thân, lông cánh xếp nhiều hàng lông cứng cáp

Màu chân: Lớp biểu bì hoá sừng (vảy) ở bàn chân và các ngón chân gà Chọi cũng có màu sắc không giống nhau giữa các cá thể Thậm chí, cùng một

cá thể song màu sắc hai chân lại khác nhau

Thường thấy gà hai chân đen, vàng, xanh lợt, trắng, vàng đốm nâu, một chân vàng một chân đen hoặc trắng Màu sắc cựa gà thường giống màu chân, song có con có hai cựa với hai màu khác nhau mặc dù hai chân lại cùng màu

Màu da: Phần da đầu, cổ, ức, đùi và hông có màu đỏ và dày Các phần khác như: lưng, nách, cánh lại có màu vàng hoặc trắng và da mỏng

Tầm vóc: Gà Chọi có tầm vóc to lớn, chân cao, xương ống chân to, ngón dài và khoẻ, bàn chân (ống chân) gà trưởng thành có con dài tới 15 cm, song thường thấy loại 10 - 13 cm Ngực rộng với cơ ngực nổi rõ Đùi to, dài

và cơ phát triển Tuy nhiên bụng lại rất gọn, khoảng cách giữa hai mỏm xương chậu hẹp (1,5 - 3,0 cm ở gà trống) Phao câu và lông đuôi phát triển (lông đuôi

có thể dài tới 30 cm) Khối lượng cơ thể trưởng thành của gà trống có thể đạt 5,0 kg, song thường gặp loại gà nặng từ 3,5 - 4,5 kg Khối lượng cơ thể trưởng thành của gà mái đạt 3,5 - 4,0 kg

Tỷ lệ nuôi sống của gà Chọi biến động lớn Tỷ lệ nuôi tại Tân Yên tỉnh Bắc Giang ở 12 tuần tuổi, số liệu điều tra là 71,25 %, số liệu khảo sát 89,1 % (Phạm Công Hoằng, 2010) Tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần tuổi của gà Chọi đạt 94,38 % (Nguyễn Thị Huệ, 2015)

Lúc 12 tuần tuổi khối lượng của gà điều tra đạt 1150,26 g/con thấp hơn so với gà nuôi khảo sát 114,06 g, khối lượng của gà Chọi tại thời điểm 20 tuần tuổi, đối với gà điều tra con trống là 2436,24 g/con, con mái 1522,15

Trang 26

g/con Gà khảo nghiệm con trống là 2632,67 g/con, con mái 1598,15 g/con (Phạm Công Hoằng, 2010)

Khả năng cho thịt, tỷ lệ thịt xẻ lúc 120 ngày tuổi, gà mái đạt 75,26 %,

gà trống đạt 74,08 % Lúc 140 ngày tuổi, tỷ lệ thịt xẻ gà mái đạt 79,49 %, gà trống đạt 76,57 % Lúc 160 ngày tuổi, tỷ lệ thịt xẻ gà mái đạt 80,23 %, gà trống đạt 79,67 % (Phạm Công Hoằng, 2010)

Gà Chọi thành thục sinh dục lúc 24 tuần tuổi; năng suất trứng của đạt 27,4 quả/mái/42 tuần đẻ; tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 6,53 kg; tỷ lệ trứng có phôi đạt 82,40 %; tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 84,04 % (Nguyễn Thị Huệ, 2015)

Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,6 kg thức ăn/kg tăng trọng nuôi sống trên 95 % Thịt gà Chọi đỏ hồng, ăn chắc, đậm thịt, mùi vị thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng và luôn nằm trong danh sách các giống gà thịt ngon nhất được săn lùng Gà Chọi và gà lai Chọi có tầm vóc cao to, dễ nuôi, nhanh lớn Thức ăn của gà Chọi cũng khá đơn giản có thể sử dụng các thức ăn xanh, chế phẩm sinh học hoặc tự làm thức ăn viên bằng máy ép thức ăn viên cho gà nếu lựa chọn giống gà này để chăn nuôi gà thịt Giá thịt gà Chọi luôn cao hơn giá gà thịt hiện nay trên thị trường

1.1.2.2 Gà LV

Tháng 10 năm 1999 được sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đã nhập 3000 gà Lương Phượng Hoa bố mẹ từ Quảng Tây - Trung Quốc Đến tháng 1/2001, Trung tâm nhập thêm 4000 con Gà Lương Phượng Hoa Trung Quốc là giống gà lông màu chăn thả có năng suất cao, sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 170 -

175 quả/mái, tăng trọng nhanh: 10 - 11 tuần tuổi đạt 2,2 - 2,3 kg/con, khả năng thích nghi tốt

Năm 2002 - 2003, Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương tiến hành chọn tạo 3 dòng gà LV1; LV2; LV3 từ gà Lương Phượng Hoa Trung

Trang 27

Quốc với 2 mục tiêu: thứ nhất là chọn tạo ra 1 dòng trống (LV1) và hai dòng mái (LV2, LV3) có năng suất ≥ 95 % nguyên gốc và chất lượng sản phẩm tương đương; thứ 2 là từng bước chủ động được giống gà chăn thả có nguồn gốc từ gà Lương Phượng Hoa cho năng suất, chất lượng cao cung cấp cho sản xuất Kết quả nghiên cứu cho thấy, gà LV1; LV2; LV3 có màu lông đa dạng, khi mới nở phần lớn có màu lông vàng nhat chấm đen, lưng có 3 sọc đen, phần còn lại có màu xám tro, vàng đậm, vàng nhạt và màu trắng Gà trưởng thành: gà trống có màu lông vàng đậm, gà mái phần lớn có màu lông vàng nhạt đốm đen đặc biệt ở phần cổ, lưng và cánh Gà có mào đơn

Tỷ lệ nuôi sống tương ứng của 3 dòng LV1, LV2 và LV2 lần lượt là 97,69 ; 98,67 ; 98 % ở 6 tuần tuổi Tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần tuổi của 3 dòng ở thế hệ thứ 3 đạt lần lượt là 99,32 ; 98,10 ; 99,19 % và đạt tương đương so với thế hệ xuất phát Cả 3 dòng chọn tạo đểu có khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của Việt Nam

Khả năng sinh trưởng của dòng trống LV1 là 1014,3 - 1120,1 g (trống) và 894,3 - 998,1 g (mái) cao hơn so với 2 dòng mái LV2 và LV3 (995,5 - 998,4 g ở

gà trống và 860 - 885,4g ở gà mái) Ở 20 tuần tuổi khối lượng gà mái đạt 2106,4

- 2143,1 g ở dòng LV1, dòng LV2 và LV3 đạt 2016,4 - 2098,3 g Lượng thức ăn tiêu thụ đến 6 tuần tuổi của dòng LV1 là 1760 – 1796 g; dòng LV2 và LV3 ở mức 1667 – 1683 g Giai đoạn 7 - 20 tuần tuổi tiêu thụ thức ăn của dòng LV1 là

9875 – 9065 g, dòng LV2 và LV3 ở mức 8638 – 8664 g

Cả 3 dòng đều có tuổi thành thục sớm, dao động trong khoảng 142

- 152 ngày Tỷ lệ đẻ tăng nhanh sau 2 tuần tuổi đạt mức 30 % và sau 4 tuần đã đạt 50 %, tỷ lệ đẻ đỉnh cao ở tuần tuổi thứ 28 - 29 Năng suất trứng đến 68 tuần tuổi của dòng LV1 đạt 145,49 - 152,51 quả; dòng LV2 đạt 157,20 - 165,30 quả; dòng LV3 đạt 158,34 - 172,30 quả Thức ăn để sản xuất 10 trứng giai đoạn 23 – 68 tuần tuổi của dòng LV1 là 3,15- 3,34 kg, dòng LV2 là 2,94- 3,09 kg, dòng LV3 là 2,8- 3,07 kg

Trang 28

Khối lượng trứng 55– 57 g, đơn vị Haugh từ 82,02 - 83,98 Tỷ lệ phôi

và nở/tổng trứng của 3 dòng đạt tương ứng 96,56 và 96,67%; 96,89 và 84,65%; 85,77 và 85;86% Gà nuôi thịt nuôi đến 10 tuần tuổi: LV12 đạt 1738 - 1956g; LV13 đạt 1822g - 2075g, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng lượng là 2,60 - 2,71kg

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Phạm Công Hoằng (2010), màu lông chủ đạo của gà Chọi không đồng nhất, nó được thể hiện cùng một màu lông song giữa số liệu điều tra và

số liệu khảo sát thể hiện không giống nhau, như màu ngũ sắc số liệu điều tra là 16,66 % số liệu khảo sát là 17,66 %, màu Đen: số liệu điều tra là 17,33 % số liệu khảo sát là 16,66 %, màu Trắng: số liệu điều tra là 16,33 % số liệu khảo sát là 15,66 %, màu Ó số liệu điều tra là 18 % số liệu khảo sát là 17 %, màu Tía số liệu điều tra là 15,66 % số liệu khảo sát là 16,33 %; gà Chọi thành thục tương đối muộn, tuổi đẻ quả trứng đầu là: 188,7 ngày; sản lượng trứng đẻ ra/mái/năm đạt 50,9 quả, số lứa ấp trên mái trên năm là 3,1 lứa, tỷ lệ ấp nở của gà ấp tự nhiên là 89,39 %, ấp nhân tạo là 91,75 %; tỷ lệ gà con loại I ấp tự nhiên là 94,30 %, ấp nhân tạo là 95,47 %; tỷ lệ nuôi sống của gà Chọi ở 12 tuần tuổi (số liệu điều tra) 71,25 %; số liệu khảo sát 89,1 %, ở 20 tuần tuổi (số liệu điều tra) 66,20 % (số liệu khảo sát) 86,72 %; 12 tuần tuổi khối lượng của

gà điều tra đạt 1150,26 g/con thấp hơn so với gà nuôi khảo sát 114,06 g, khối lượng của gà Chọi tại thời điểm 20 tuần tuổi; đối với gà điều tra con trống là 2436,24 g/con, con mái 1522,1517 g/con; gà khảo nghiệm con trống là 2632,67 g/con, con mái 1598,15 g/con; khả năng cho thịt, tỷ lệ thịt xẻ lúc 120 ngày tuổi, gà mái đạt 75,26 %, gà trống đạt 74,08 % Lúc 140 ngày tuổi, tỷ lệ thịt xẻ gà mái đạt 79,49 %, gà trống đạt 76,57 % Lúc 160 ngày tuổi, tỷ lệ thịt

xẻ gà mái đạt 80,23 %, gà trống đạt 79,67 % và hầu như không có mỡ bụng

Trang 29

Nguyễn Thị Huệ (2015) cho biết: gà Chọi chân vàng có tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần tuổi đạt 94,38 %, chỉ tiêu này thể hiện khả năng chống chịu với điều kiện môi trường cao; khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi 2484,65 g; lượng thức ăn thu nhận là 778,40 g/con/tuần; thành thục sinh dục lúc 24 tuần tuổi; năng suất trứng của đạt 27,4 quả/mái/42 tuần đẻ; tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 6,53 kg; tỷ lệ trứng có phôi đạt 82,40 %; tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 84,04 %

Theo Phùng Đức Tiến và cs (2015) về khả năng sản xuất của tổ hợp

gà lai Chọi x LV tại trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương Về đặc điểm ngoại hình: Gà chọi 01 ngày tuổi có màu lông đa dạng, gà 14 tuần tuổi

có dáng cao nhanh nhẹn, chân cao màu vàng hoặc màu chì, mào sít, lông có màu tía, màu đen đốm trắng màu xám Gà LV có ngoại hình đồng nhất, trống

có lông màu nâu cánh gián, mào cờ, da thân và da chân màu vàng Gà mái có lông màu hoa mơ, mào cơ, da thân và chân màu vàng Gà lai Chọi x LV 01 ngày tuổi có màu lông đa dạng: màu lông đen, nâu đen, chân chì chiếm 20,66

%; gà có màu lông vàng chân vàng chiếm 7,33 %; gà con có màu lông xám, chân chì chiếm 4,66 %; gà con có màu lông đốm hoa mơ, 2 kẻ sọc trên lưng, chân chì chiếm 41,33 %, chân trắng chiếm 26 % Gà 14 tuần tuổi có đầu thanh, mào nụ chiếm 87 %, mỏ màu vàng và màu chì, cổ thanh thân hình thon, màu sắc lông đa dạng được người tiêu dùng chấp nhận Da vàng, chân cao màu vàng và màu chì

Khả năng sản xuất: Tỷ lệ nuôi sống đạt 96,67 % cao hơn gà lai Chọi (95,33 %) và gà LV (94,67 %) Gà lai có khối lượng 1 ngày tuổi là 37,31 g Ở

14 tuần tuổi gà lai F1 có khối lượng là 2102,09 g với ưu thế lai đạt 4,01 % so với trung bình kiểu hình của bố mẹ Gà lai F1 có tốc độ sinh trưởng tăng lên qua các tuần tuổi và đạt cao nhất ở 10 tuần tuổi là 32,48 gam/con/ngày sau đó giảm dần qua các tuần tuổi, trung bình sinh trưởng tuyệt đối của gà lai F1 đạt 21,07 gam/con/ngày Tính toán đến 14 tuần tuổi cho thấy gà LV có mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là thấp nhất so với gà lai và gà lai Chọi với 3,28 kg trên kg tăng trọng gà lai Chọi có mức tăng trưởng chậm nên tiêu tốn

Trang 30

thức ăn là khá cao 3,65 kg Gà lai có mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng lượng là 3,48 kg với ưu thế lai hiệu quả sử dụng thức ăn của gà lai so với trung bình bố mẹ giảm 0,14 %

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nkukwana (2018) cho biết: Thịt và trứng gia cầm là nguồn cung cấp protein động vật lớn nhất trong chế độ ăn của con người trên toàn thế giới Đây là những lợi ích của hàng thập kỷ đầu tư nghiên cứu gia cầm nhằm phát triển các giống tăng trưởng nhanh, hiểu rõ hơn về chuyển hóa và sử dụng chất dinh dưỡng cũng như tác động của các chất dinh dưỡng đó lên biểu hiện gen Ngành chăn nuôi gia cầm Nam Phi đã phát triển cùng với xu hướng toàn cầu ở hầu hết các nước phát triển Hiện tại, ngành chăn nuôi gia cầm đang phải vật lộn để duy trì tính cạnh tranh, do hàng tấn thịt gà màu nhập khẩu được bán phá giá tại thị trường này với giá thấp hơn chi phí sản xuất tại địa phương Điều này đã gây ra những hậu quả tiêu cực đối với các nhà sản xuất lớn và nhỏ cũng như tỷ lệ việc làm Dịch bệnh bùng phát, các quy định phúc lợi, an toàn thực phẩm, môi trường chuồng trại và một số vấn đề liên quan đến dinh dưỡng và cho ăn là những thách thức đối với ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi quy mô nhỏ Với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, quỹ đất sẵn có và khả năng tiếp cận để chăn nuôi gia cầm thâm canh và sản xuất cây trồng làm thức ăn chăn nuôi sẽ là một thách thức Đồng thời, mặc dù gia cầm có lượng khí thải carbon và nước thấp nhất nhưng hiện tượng nóng lên toàn cầu có thể ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng thức ăn, làm tăng chi phí thức ăn và năng lượng, từ đó ảnh hưởng đến an ninh lương thực Trong tương lai, bột ngô và đậu nành trên toàn thế giới sẽ vẫn là thành phần chính trong khẩu phần ăn của gia cầm, mặc dù nghiên cứu về thức ăn chăn nuôi để thay thế 1/2 loại này vẫn có ý nghĩa, đặc biệt là đối với máy trộn tại nhà Tập trung vào giáo dục và đào tạo khoa học gia cầm, hợp tác nghiên cứu và khuyến nông giữa các nhà khoa học và bác sĩ thú y cũng cần được quan tâm nghiêm túc Thiếu sự hợp tác giữa khu vực công và tư nhân, cũng như thiếu các cách thức đổi mới để truyền đạt mối quan ngại từ nhà sản xuất

Trang 31

và người tiêu dùng đến các nhà hoạch định chính sách vẫn là rào cản đối với việc áp dụng công nghệ

Theo King (1996) giống gà địa phương dễ nuôi, có thể có các gen kháng bệnh cũng như các sản phẩm của chúng được người tiêu dùng ưa chuộng Tuy nhiên, các giống gà bản địa thường có nhược điểm là khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của gà lai 3/4 Đông Tảo và 1/4 Lương Phượng năng sản xuất thấp Để khắc phục những nhược điểm này của

gà bản địa, người chăn nuôi thường sử dụng phương pháp lai giống Lawler

(2015) cho rằng lai giống là một chiến lược để sử dụng các giống gà bản địa

trong sản xuất giống gia cầm

Bodzsar và cs (2010) cho biết, ở Hungari có 6 giống gà nội được đăng

ký và so với các giống gà nội châu Âu khác thì giống Transylvanian Naked Neck Speckled Hodmezovasarhely thể hiện sự đóng góp vào nguồn gen quốc gia cao nhất và được đưa vào phát triển

Theo Kassa và cs (2021), gà bản địa có năng suất sản xuất trứng rất kém, do tiềm năng di truyền thấp (tăng trưởng chậm, thành thục sinh dục muộn và ấp trứng trong thời gian dài Trong những năm gần đây, các tổ chức nghiên cứu, Bộ Nông nghiệp và Tổ chức Phi Chính phủ đã nhập khẩu và phổ biến nhiều giống gà ngoại cho người chăn nuôi quy mô nhỏ ở thành thị Tuy nhiên, các giống gà này được phát triển theo hệ thống quản lý chuyên sâu và không phù hợp với điều kiện địa phương vì chúng đòi hỏi mức đầu tư cao vào thức ăn, hỗ trợ và quản lý thú y Vì vậy, việc tìm kiếm các giống phù hợp với điều kiện địa phương là rất cần thiết Các giống gà Kuroiler, Sasso và Sasso-R

có mục đích kép đã được thử nghiệm tại các trang trại ở vùng Amhara, Ethiopia nhằm mục đích tăng cường di truyền gà ở châu Phi

Trang 32

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Hai công thức lai, gà thịt F2 Chọi x (Chọi x LV) và F2 LV x (Chọi x LV)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng vật nuôi - Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên

Thời gian nghiên cứu: tháng 7 năm 2022 đến tháng 7 năm 2023

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định đặc điểm ngoại hình của con lai F2

- Xác định tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm

- Xác định sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi

- Khả năng sử dụng và chuyển hoá thức ăn của gà thí nghiệm

- Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm

- Hạch toán kinh tế cho 1 kg gà xuất bán

- Đánh giá năng suất và chất lượng thịt gà

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Mô tả thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành từ 1 đến 13 tuần tuổi, gà

sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và cho ăn tự do trong suốt thời gian thí nghiệm Thí nghiệm được nuôi theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn, hệ thống chuồng hở Mỗi lô gà thí nghiệm được nuôi với số lượng 30 con, lặp lại

3 lần, tổng gà thí nghiệm/lô là 90 con

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh theo sơ đồ sau:

Trang 33

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

LV x (Chọi x LV)

Lô TN2 Chọi x (Chọi x LV)

Phương thức nuôi Nhốt hoàn toàn, chuồng hở

Đệm lót: Sử dụng trấu đã được phun sát trùng và phơi khô trước khi dùng Dùng trấu trải lần đầu dày 8 - 10 cm, sau đó bổ sung thêm tùy điều kiện thực tế để giữ chuồng luôn khô sạch

Nhiệt độ: Các lô gà đều có chụp sưởi để đảm bảo nhiệt độ cho cơ thể gà vào mùa đông lạnh Các lô thí nghiệm đều có hệ thống cung cấp nhiệt vào những thời gian nhiệt độ xuống thấp, đảm bảo nhiệt độ 1 - 10 ngày tuổi dưới chụp sưởi 300C - 330C Các lô đều có hệ thống thông gió, quạt mát được sử dụng vào những ngày nhiệt độ cao

Máng ăn, máng uống: Giai đoạn 1 - 14 ngày tuổi sử dụng khay ăn: Khay quy chuẩn dùng cho 50 gà và cho uống bằng máng uống tròn 1,5 lít (50 con/ máng) Giai đoạn 15 ngày trở đi thay bằng máng ăn tròn với 2 cm/ gà và cho uống bằng máng uống tròn với 1cm/ gà Trong giai đoạn úm, các máng

ăn máng uống đặt xen kẽ nhau xung quanh chụp sưởi Nước uống tự do

Lịch chủng vắc-xin được thực hiện theo Quyết định số

663/QĐ-BNN-KN ngày 03 tháng 02 năm 2021

Trang 34

Thức ăn: thức ăn hoàn chỉnh dạng viên của Công ty TNHH JapFa Comfeed Việt Nam Giá trị dinh dưỡng của thức ăn được trình bày ở bảng dưới đây:

Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn trong thí nghiệm

Thành phần dinh

1-14 ngày tuổi

14-28 ngày tuổi

29-42 ngày tuổi 42-xuất chuồng

Canxi (tối thiểu- tối đa) % 0,8 -1,2 0,7 - 1,4 0,8 -1,2 0,8-1,2 Photpho (tối thiểu - tối

Năng lượng trao đổi

2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi

- Đặc điểm về màu lông

- Đặc điểm về kiểu mào

- Đặc điểm màu da chân

- Tỷ lệ nuôi sống ở các giai đoạn tuổi;

- Sinh trưởng tích lũy, tuyệt đối và tương đối;

- Thu nhận thức ăn của gà;

- Hệ số chuyển hóa thức ăn cuả gà;

- Tiêu tốn protein thô (CP)/kg khối lượng sống;

- Chi phí thức ăn/kg khối lượng sống;

Trang 35

- Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME)/kg khối lượng sống;

- Chỉ số sản xuất PI và chỉ số kinh tế EN;

- Một số chỉ tiêu về khảo sát thân thịt: Khối lượng sống, khối lượng thân thịt, tỷ lệ thân thịt, khối lượng cơ ngực, khối lượng cơ đùi, khối lượng mỡ bụng…)

2.4.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

* Đặc điểm ngoại hình của gà F2

- Các đặc điểm ngoại hình bao gồm: màu sắc lông, kiểu mào, màu da chân

- Các đặc điểm này được tiến hành nghiên cứu trực tiếp bằng cách quan sát trực tiếp, chụp ảnh và ghi chép thông tin ở tuổi xuất bán

* Tỷ lệ nuôi sống (%)

Trong suốt thời gian thí nghiệm, hàng ngày đếm và ghi chép chính xác

số gà chết của mỗi lô gia cầm thí nghiệm Cuối mỗi tuần theo dõi, thống kê tổng số gà chết trong mỗi lô thí nghiệm để xác định số con còn sống

Tính tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ mắc bệnh theo từng tuần tuổi, theo từng giai đoạn

và cả giai đoạn

* Tăng khối lượng

- Khối lượng sống qua các tuần tuổi

Khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (xác định theo tuần tuổi) Cân hàng tuần từ sơ sinh cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân gà vào buổi sáng, trước khi cho ăn, cân vào một giờ và một ngày cố định trong tuần, cân từng con một

Sử dụng cân có độ chính xác cao: Cân gà từ SS-13 tuần tuổi bằng cân đồng hồ Nhơn Hòa có độ chính xác ± 5, 10, 20 g

Trang 36

- Tăng khối lượng tuyệt đối

Khối lượng cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát, đó là hệ quả được rút ra khi tính toán số liệu thu được từ khối lượng sống qua các tuần tuổi Trong thí nghiệm này, xác định tăng khối lượng tuyệt đối theo từng tuần tuổi, theo giai đoạn nuôi và tính trung bình mỗi ngày trong tuần Tăng khối lượng tuyệt đối được tính theo công thức:

A (g/con/ngày) =

Trong đó: A là tăng khối lượng tuyệt đối (gam/con/ngày)

P1 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm T1 (g)

P2 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm T2 (g)

T là khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (ngày tuổi)

- Tăng khối lượng tương đối:

Là khối lượng gia cầm tăng lên tương đối của lần cân sau với lần cân trước Xác định sinh trưởng tương đối theo từng tuần tuổi và theo giai đoạn Công thức tính tăng khối lượng tương đối:

Trong đó: R là tăng khối lượng tương đối (%)

P1 là khối lượng cơ thể ở lần cân trước (g) P2 là khối lượng cơ thể ở lần cân sau (g)

* Lượng thức ăn thu nhận (LTĂTN)

Hàng ngày, vào một giờ nhất định (7, 14 giờ, 17 giờ), cân chính xác lượng thức ăn đổ vào máng cho gà thí nghiệm ăn Hàng ngày, vào 7 giờ sáng vét sạch lượng thức ăn (LTĂTN) còn thừa trong máng và cân lại lượng thức

ăn còn thừa

LTĂTN (g/con/ngày) =

Ngày đăng: 04/01/2024, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
49. Bodzsar N., H. Eding, T. Revay, A. Hidas and S. Weigend (2010), Genetic diversity of Hungarian indigenous chicken breeds based on microsatellite markers, Animal Genetics 40, pp. 516 - 523 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal Genetics
Tác giả: Bodzsar N., H. Eding, T. Revay, A. Hidas and S. Weigend
Năm: 2010
1. Lưu Đức Anh (2011). Đặc điểm sinh học và sức sản xuất gà địa phương có chùm lông cằm nuôi tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, tr. 43 - 71 Khác
2. Lê Công Cường (2007). Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và gà Lương Phượng. Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp.Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Khác
3. Nguyễn Huy Đạt và Hồ Xuân Tùng (2005). Nghiên cứu tổ hợp lai giữa gà Đông Tảo với gà Ri cải tiến trong nông hộ. Tóm tắt báo cáo khoa học năm 2004. Viện Chăn nuôi, tr. 4-13 Khác
4. Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu (2006). Một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Hồ. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp.Trường Đại học Nông nghiệp I, số 4+5, tr. 99 - 104 Khác
5. Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh (2011). Khả năng sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp gà lai kinh tế 2 giống (Mía - Hồ - Lương phượng). Tạp chí Khoa học và Phát triển, số 6, tập 9, tr. 941-947 Khác
6. Dương Thanh Hải, Phan Thị Hằng, Trần Ngọc Long, Nguyễn Đức Thạo, Nguyễn Hải Quân, Đinh Văn Hà, Đinh Văn Trung, Nguyễn Thị Thuý, Đinh Thị Hường và Phùng Tô Long (2021). Năng suất sinh sản của gà Chọi lai và Ri lai nuôi tại huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi, số 275, 20 - 24 Khác
7. Hán Quang Hạnh và Nguyễn Thị Xuân (2021a). Ảnh hưởng của phương thức nuôi và tổ hợp lai tới một số chỉ tiêu phúc lợi động vật của gà thương phẩm hướng thịt. Tạp chí khoa học Nông Nghiệp Việt Nam, 19(12), 1608 - 1616 Khác
9. Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (2002). Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Khác
10. Đặng Thị Hiếu (2022). Đặc điểm ngoại hình và sức sản xuất thịt của gà lai (Chọi Tía x Lương Phượng) và (Chọi Xám x Lương Phượng) nuôi tại Thái Nguyên. Luận văn Thạc sĩ Chăn nuôi. Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên Khác
11. Nguyễn Minh Hoàn (2014). Báo cáo tổng kết đề tài, Nghiên cứu chọn lọc và nhân giống gà ri ở Thừa Thiên Huế, Mã số: DHH-2012-02-16 Khác
12. Phạm Công Hoằng (2010). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà Chọi nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chăn nuôi. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khác
13. Nguyễn Đức Hưng (2014). Khả năng sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi của các nhóm gà Ri lai nuôi thịt 8-13 tuần tuổi. Tạp chí Khoa học - Đại học Huế, Chuyên san Khoa học Nông Nghiệp, Sinh học và Y Dược, 91A (3), tr.75 – 82 Khác
14. Nguyễn Thị Huệ (2015). Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống Chọi chân vàng với gà mái ISA-JA57 tại Công ty TNHH MTV gà giống Dabaco. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chăn nuôi. Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
15. Đào Văn Khanh (2002). Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Chọi và gà Lương Phượng. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp Khác
16. Nguyễn Thị Kim Khang, Nguyễn Thảo Nguyên, Ngô Thị Minh Sương, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Thị Hông Nhân, Trân Ánh Ngọc và Huỳnh Thị Thu An (2020). Ảnh hưởng bổ sung Vitamin e trong khẩu phần lên năng Khác
17. Khavecman (1972). Sự di truyền năng suất ở gia cầm, cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật, tập 2, Johansson chủ biên, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng dịch. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 31 – 37 Khác
18. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc, Dương Duy Đồng (2006). Thức ăn và dinh dưỡng động vật. Nxb Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Khác
19. Lê Huy Liễu (2004). Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt của gà lai F1 (♂ Lương Phượng x ♀Ri) và F1( ♂Kabir x♀ Ri) nuôi thả vườn tại Thái Nguyên. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp. Đại học Thái Nguyên Khác
20. Nguyễn Thành Luân (2015). Nghiên cứu khả năng sản xuất của giống gà Ri vàng rơm và Ri cải tiến nuôi trong nông hộ tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 2.2. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn trong thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 2.2. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn trong thí nghiệm (Trang 34)
Bảng 3.1. Đặc điểm màu lông của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.1. Đặc điểm màu lông của gà thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 3.2. Kiểu mào của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.2. Kiểu mào của gà thí nghiệm (Trang 42)
Bảng 3.3. Màu da chân của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.3. Màu da chân của gà thí nghiệm (Trang 44)
Bảng 3.4. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của đàn gà thí nghiệm qua các tuần - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.4. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của đàn gà thí nghiệm qua các tuần (Trang 45)
Bảng 3.5. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.5. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (Trang 47)
Bảng 3.6. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.6. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà thí nghiệm (Trang 50)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 51)
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (Trang 52)
Hình 3.4. Biểu đồ hệ số chuyển hoá thức ăn cộng dồn - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Hình 3.4. Biểu đồ hệ số chuyển hoá thức ăn cộng dồn (Trang 56)
Bảng 3.12. Hạch toán kinh tế cho một kg gà xuất bán - Nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp gà lai f2 ((chọi x (chọi x lv) và (lv x (chọi x lv)) nuôi thịt tại thái nguyên
Bảng 3.12. Hạch toán kinh tế cho một kg gà xuất bán (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w