1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai

113 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Công Tác Tổ Chức Thực Hiện Chính Sách An Sinh Xã Hội Trên Địa Bàn Huyện Thống Nhất, Tỉnh Đồng Nai
Tác giả Bùi Xuân Thế
Người hướng dẫn TS. Trịnh Quang Thoại
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: đào tạo việc làm còn chưa cao và giảm nghèo chưa thực sự bền vững, thự

Trang 1

- -

BÙI XUÂN THẾ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Đồng Nai, 2023

Trang 2

- -

BÙI XUÂN THẾ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ: 831 0110

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRỊNH QUANG THOẠI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô của trường Đại học Lâm nghiệp Đặc biệt đối với quý Thầy Cô giảng viên đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian được tham gia học tập và đào tạo tại trường Hơn hết, tôi xin trân trọng biết ơn và cảm ơn đến Tiến sỹ Trịnh Quang Thoại - người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian thực tập nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn đến các cán bộ công chức làm công tác

an sinh xã hội tại các xã trên địa bàn huyện Thống Nhất, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thống Nhất, văn phòng UBND huyện Thống Nhất đã cung cấp cho tôi các số liệu báo cáo, phiếu điều tra và kiến thức quý báu trong quá trình thực hiện đề tài

Mặc dù bản thân đã cố gắng hết sức trong khả năng có thể, song vì thời gian cũng như kiến thức có hạn, trong quá trình thực hiện đề tài sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Bản thân rất mong nhận được sự cảm thông và những thông tin đóng góp quý báu từ Quý Thầy Cô để luận văn này được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, một lần nữa em xin kính chúc đến toàn thể Quý Thầy Cô Trường Đại Học Lâm Nghiệp, TS Trịnh Quang Thoại là người thầy đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài lời chúc tốt đẹp nhất Em xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả luận văn

Bùi Xuân Thế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Đồng Nai, ngày 12 tháng 9 năm 2023

Tác giả luận văn

Bùi Xuân Thế

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

3.2.1 Phạm vi về nội dung 3

3.2.2 Phạm vi về không gian: 3

3.2.3 Phạm vi về thời gian: 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 5

1.1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội 15

1.1.3 Sự cần thiết của chính sách an sinh xã hội 16

1.1.4 Nội dung của công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 17 1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh

Trang 7

xã hội 22

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 25 1.2.1 Một số nghiên cứu có liên quan đến hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội 25

1.2.2 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách sách an sinh xã hội của một số địa phương tại Việt Nam 27

1.2.3 Bài học rút ra cho huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 35

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36

2.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Thống Nhất đến thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 47

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 47

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 48

2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 48

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50

50

3.1 Thực trạng các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 50

3.1.1 Thực trạng hoạt động bảo hiểm xã hội 50

3.1.2 Chính sách giảm nghèo 54

3.1.3 Chính sách đối với người có công với cách mạng 58

3.1.4 Chính sách Bảo trợ xã hội 60 3.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại huyện

Trang 8

Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 63

3.2.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách 63

3.2.2 Thực trạng phổ biến, tuyên truyền chính sách 65

3.2.3 Thực trạng phân công, phối hợp thực hiện chính sách 69

3.2.4 Thực trạng kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách 72

3.2.5 Thực trạng tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách 76

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 77

3.2.1 Nhận thức về công tác an sinh xã hội 77

3.3.2 Năng lực của cán bộ thực hiện chính sách 79

3.3.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng thực hiện chính sách 80

3.4 Đánh giá chung về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 81

3.4.1 Kết quả đạt được 81

3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 84

3.5 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất trong thời gian tới 86

3.5.1 Quan điểm chỉ đạo và định hướng của huyện Thống Nhất về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trong thời gian tới 86

3.5.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất trong thời gian tới 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Kiến nghị 95

2.1 Đối với UBND tỉnh Đồng Nai 95

2.2 Đối với UBND huyện Thống Nhất 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng đất đai của huyện Thống Nhất đến 31/12/2022 35Bảng 2.2 Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Thống Nhất năm 2022 (tính theo giá cố định năm 2010) 37Bảng 2.3 Thực trạng dân số của huyện Thống Nhất năm 2022 41Bảng 2.4 Thực trạng lao động của huyện Thống Nhất năm 2022 42Bảng 3.1 Thực trạng bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn 2020 - 2022 50Bảng 3.2 Thực trạng bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn

2020 - 2022 52Bảng 3.3 Thực trạng bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn 2020 - 2022 53Bảng 3.4 Thực trạng hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn 2020 - 2022 56Bảng 3.5 Thực trạng các chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn 2020 - 2022 57Bảng 3.6 Thực trạng chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn 2020 – 2022 60Bảng 3.7 Thực trạng chính sách bảo trợ trên địa bàn huyện Thống Nhất, giai đoạn 2020 – 2022 62Bảng 3.8 Đánh giá của cán bộ về xây dựng kế hoạch triển khai chính sách (n

= 30) 64Bảng 3.9 Đánh giá của cán bộ về hạn chế trong xây dựng kế hoạch triển khai chính sách (n = 30) 65Bảng 3.10 Kết quả phổ biến, tuyên truyền chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, 2020-2022 66

Trang 10

Bảng 3.11 Đánh giá của cán bộ về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách (n = 30) 67Bảng 3.12 Đánh giá của cán bộ về hạn chế trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách (n = 30) 68Bảng 3.13 Đánh giá của người dân về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách (n = 120) 69Bảng 3.14 Đánh giá của cán bộ về công tác phân công phối hợp thực hiện chính sách (n = 30) 71Bảng 3.15 Đánh giá của cán bộ về hạn chế trong công tác phân công phối hợp thực hiện chính sách (n = 30) 72Bảng 3.16 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất 73Bảng 3.17 Đánh giá của cán bộ về công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách (n = 30) 74Bảng 3.18 Đánh giá của cán bộ về hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách (n = 30) 75Bảng 3.19 Đánh giá của cán bộ về công tác tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách (n = 30) 77Bảng 3.20 Đánh giá của các đối tượng về sự cần thiết của tổ chức thực hiện chính sách ASXH 78Bảng 3.21 Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất 79Bảng 3.22 Đánh giá của đối tượng thụ hưởng chính sách về cán bộ thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn huyện Thống Nhất (n = 120) 80

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước

và các lực lượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm cho mọi người dân ít nhất có được mức tối thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về các dịch

vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, thông qua việc nâng cao năng lực tự an sinh của người dân và sự trợ giúp của Nhà nước Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, từng bước

mở rộng diện bao phủ, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ đang là đích đến của các quốc gia trên thế giới Bảo đảm an sinh xã hội luôn là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta nhằm bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận của xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường Quốc phòng, An ninh

Huyện Thống Nhất là huyện trung du của tỉnh Đồng Nai và nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Trung tâm của huyện cách Thành phố Biên Hòa (trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Đồng Nai) 35 km về phía Bắc Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 24.852,85 ha và dân số là 169.323 người (số liệu năm 2022) Huyện có 1 thị trấn và 9 đơn vị hành chính cấp xã Trong thời gian vừa qua, thực hiện chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước cũng như thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh Đồng Nai, công tác đảm bảo

an sinh xã hội trên địa bàn huyện đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Các chính sách đối với người nghèo, người có công với các mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội luôn được quan tâm thực hiện với lượng kinh phí thực hiện có xu hướng tăng qua các năm Bên cạnh đó, các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn huyện luôn quan tâm chỉ đạo, thực hiện kịp thời các chính sách

Trang 12

an sinh xã hội cho đối tượng chính sách theo quy định

Tuy vậy, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: đào tạo việc làm còn chưa cao và giảm nghèo chưa thực sự bền vững, thực hiện mức trợ cấp xã hội còn thấp, chưa tập trung, còn chồng chéo, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ người dân, nhất là đối với người nghèo còn nhiều hạn chế; tỷ lệ người dân tham gia BHXH, BHYT còn thấp; đời sống của một bộ phận người nghèo chưa bảo đảm được mức tối thiểu Xuất phát từ thực trạng nêu trên, việc thực

hiện luận văn thạc sĩ với đề tài “Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính

sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai” có ý

nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực thi chính sách này của huyện trong thời gian tới

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

+ Giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2023-2025

+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 04 đến tháng 9 năm 2023

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội

- Thực trạng công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Trang 14

- Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, sơ đồ, phụ lục, nội dung

chính của luận văn được thể hiện trong 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách an

sinh xã hội

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Chính sách

Theo tác giả Nguyễn Hương (2023), chính sách là công cụ tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị Mục đích của chính sách là để thực hiện các lợi ích, mục tiêu

và nhiệm vụ của các tập đoàn xã hội đó

Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 34/2016/NĐ-CP thì chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định

Dựa vào các nhận định trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, chính sách

là công cụ tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị Mục đích của chính sách là để thực hiện các lợi ích, mục tiêu và nhiệm vụ của các tập đoàn xã hội đó

Chính vì vậy, so với khái niệm pháp luật, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

- Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung Dựa

Trang 16

vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách

- Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được “nhào nặn” bởi “bàn tay công quyền”, tức là được ban hành bởi nhà nước theo một trình

tự luật định

Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công - Nhà nước Chúng ta vẫn thường nói đến một nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị là “Đảng đề

ra đường lối, chính sách, Nhà nước thể hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật” Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò hoạch định chính sách của Đảng cầm quyền Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng chính sách là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là người duy nhất có quyền đưa ra chính sách Đúng Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật nhưng việc xây dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước cũng chính là Nhà nước xây dựng và ban hành chính sách và được cụ thể hóa trong pháp luật nhưng nó cũng có thể được điều chỉnh, được hoàn thiện trong quá trình thể chế hóa để phù hợp với tư tưởng mới hay đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn xã hội Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của Đảng thành pháp luật nhưng cũng là một bước xây dựng và hoàn thiện chính sách Và vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù rất

Trang 17

gần gũi và có những điểm giao nhau, là cơ sở tồn tại của nhau trong một chế

độ Nhà nước Pháp quyền

1.1.1.2 An sinh xã hội

An sinh xã hội có thể hiểu là các chương trình hành động của Chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm; nơi trú ẩn; tăng cường sức khỏe; phúc lợi cho người dân đặc biệt là các đối tượng như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp

Trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền năm 1948 có

nhắc đến về an sinh xã hội như sau: “Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm

và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.”

Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): An sinh xã hội

là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do

bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế

và trợ cấp cho các gia đình đông con Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng:

“ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập” WB nhấn mạnh đến các biện pháp công cộng để hạn chế và làm giảm các tác động tiêu cực cho hộ gia đình và cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm việc nhà nước cung cấp và khuyến khích phát triển các dịch vụ công như: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ cấp xã hội (TCXH) và những biện pháp

Trang 18

kh có tính chất tương tự Trong đó BHXH có vai trò quan trọng nhất

- Theo Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm bảo an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT;

hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội.c thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khó khăn về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập Như vậy ILO quan niệm đối tượng của ASXH là nhóm người có thu nhập không đủ trang trải cho những điều kiện tối thiểu, xã hội cần tiến hành đồng bộ các biện pháp công cộng khác nhau nhằm phân phối lại thu nhập, dịch vụ xã hội

- Theo tác giả Lê Thị Hằng (2023), an sinh xã hội là hệ thống chính sách, các chương trình của Nhà nước và của các tổ chức xã hội nhằm trợ giúp, giúp đỡ toàn xã hội, các cá nhân gặp phải rủi ro hoặc biến cố xã hội để đảm bảo mức sống tối thiểu và nâng cao đời sống của họ

Như vậy Về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập

và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những

“rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn đến ngừng hoặc giảm thu nhập Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội

và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh

và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của an sinh xã hội nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này Khái niệm về an sinh xã hội cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia

Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của các tổ chức, các nhà khoa

Trang 19

học trong và ngoài nước: “An sinh xã hội là mạng lưới các chương trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội nhằm trợ giúp,

hỗ trợ, bảo vệ cá nhân và toàn xã hội, đặc biệt là các cá nhân gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, bảo đảm mức sống tối thiểu và góp phần nâng cao đời sống của họ, từ đó, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội”

1.1.1.3 Chính sách an sinh xã hội

a Khái niệm

Một số các chính sách an sinh xã hội đang thực hiện ở nước ta:

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.”

Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội được tổ chức quản lý bởi tổ chức Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe toàn dân, hỗ trợ khám và điều trị bệnh thông qua khoản tiền hỗ trợ chi trả

Bảo hiểm y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện Chế độ này được thực hiện dựa trên các nguyên tắc bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ Bên cạnh đó các nguyên tắc về mức đóng, mức hưởng, chi phí khám chữa bệnh cũng được quy định chặt chẽ

Như vậy có thể hiểu, bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng Theo đó, người mua bảo hiểm y tế sẽ được

Trang 20

chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị, phục hồi sức khỏe,… nếu không may xảy ra tai nạn, ốm đau, bệnh tật

Xóa đói giảm nghèo là một chiến lược của chính phủ Việt Nam nhằm

giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam Năm 1986, Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên thành nước xuất khẩu gạo, và giữa vị trí trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới từ đó đến nay, an ninh lương thực đã vững vàng Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỷ lệ đói nghèo (bao gồm cả thiếu lương thực) mà đa số phân bố ở các

xã thuộc chương trình 135 (xã nghèo)

Ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo" Đây là chiến lược đầy

đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc công bố Trong quá trình xây dựng chiến lược có sự tham gia của chuyên gia các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như IMF, UNDP, WB, tổng hợp thành các mục tiêu phát triển Việt Nam Vấn đề là cụ thể hoá chiến lược bằng các chương trình, dự án được triển khai, được giám sát và đánh giá thường xuyên

Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì và tìm kiếm

việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều

3 Luật Việc làm 2013) Nhờ có các chính sách hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất

nghiệp mà rất nhiều người lao động đã vượt quá khó khăn về kinh tế, giải quyết được vấn đề việc làm để tạo thu nhập ổn định, từ đó góp phần giúp ổn định thị trường lao động, đảm bảo an sinh xã hội

Chính sách an sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân

Trang 21

(các chế độ không theo luật định) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội

Các Chính sách an sinh xã hội là văn bản quy định pháp quy cụ thể của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ra quyết định này, trong đó quy định bảo đảm an sinh xã hội cho từng đối tượng, hoặc từng nhóm đối tượng cụ thể: (chính sách đối với người có công, thương binh, liệt sỹ, người tham gia kháng chiến, người nhiễm chất độc da cam), hoặc chính sách về hỗ trợ bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội đối với người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi

Ở Việt Nam Mô hình chính sách an sinh xã hội bao gồm 4 trụ cột chính sách đó là:

- Chính sách đảm bảo việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro trên thị trường lao động thông qua các chính sách đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tín dụng, tạo việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo đơn chiều, đa chiều, bền vững

- Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro

về sức khỏe khi ốm đau, tai nạn, tuổi già và khi bị thất nghiệp thông qua các hình thức, cơ chế bảo hiểm xã hội để bù đắp một phần thu nhập bị mất hoặc bị suy giảm

- Chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và hỗ trợ thường xuyên cho người dân khắc phục các rủi ro khó lường, vượt quá khả năng kiểm soát như mất mùa, đói nghèo

- Chính sách dịch vụ xã hội cơ bản - trụ cột an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu bao gồm

y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông, trợ giúp pháp lý Trụ

Trang 22

cột này thể hiện rất rõ yếu tố “mô hình sàn an sinh xã hội” khi xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Mô hình hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam là mô hình tổng tích hợp các mô hình khác nhau để có thể bao quát nhiều chế độ bảo trợ xã hội với mức độ từ thấp đến cao đối với nhiều nhóm đối tượng hưởng thụ khác nhau trong xã hội Mô hình này dần dần được xây dựng và phát triển trong thời

kỳ quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước năm 1986 Đặc trưng nổi bật của hệ thống chính sách an sinh xã hội trước đổi mới là trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng đặc thù của Việt Nam là những người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người nghèo, hộ gia đình, địa phương nghèo

Từ khi đổi mới đến nay các trụ cột đều đồng thời được thực hiện

Tuy nhiên, hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, rào cản trong việc bảo đảm phổ cập an sinh xã hội Thí dụ: chế độ lương hưu cho người cao tuổi chỉ đảm bảo được gần hai phần ba số người lao động cao tuổi nghỉ hưu từ khu vực chính thức Số người lao động tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội mới chỉ đạt 1% tổng số lực lượng lao động Chỉ một bộ phận rất nhỏ người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội

So với mô hình phổ biến trên thế giới, hệ thống an sinh xã hội ở nước

ta có một phần đặc thù, đó là chính sách ưu đãi xã hội, chính sách này nhằm thực hiện cả mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa với sự hy sinh , công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước, thực hiện trách nhiệm của nhà nước, của xã hội chăm lo, bảo đảm cho người có công có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện

An sinh xã hội được tất cả các nước trên thế giới cũng như Liên Hợp quốc thừa nhận một trong những quyền của con người trong mọi thời đại và mọi chế độ xã hội vì nó có mục tiêu và bản chất rất tốt đẹp Mục tiêu của

Trang 23

ASXH là tạo ra một lưới an toàn cho mội thành viên trong cộng đồng xã hội, khi bất kỳ một cá nhân trong cộng đồng không may gặp tủi ro hoặc lâm vào tình cảnh yếu thế Bản chất của an sinh xã hội thể hiện ở chỗ:

An sinh xã hội là là một chính sách xã hội có mục tiêu cụ thể Và chính sách này thường được cụ thể hóa bởi luật pháp, chương trình Quốc gia và nó còn tồn tại ngay trong tiềm thức của mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có rất nhiều bởi luật và rất nhiều chương trình kinh tế - xã hội để cụ thể hóa chính sách ASXH, như: Luật BHXH; Luật trợ giúp pháp lý; Chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình xóa nhà dột nát

Ngoài ra do mục tiêu cao đẹp mà mọi người đều hướng tới, cho nên ASXH đã từ lâu ít nhiều tồn tại ngay trong tiềm thức của mọi người Chẳng hạn” Tinh thần tương thân tương ái”, truyền thống” lá lành đùm lá rách” hay

“ hương người như thể thương thân” đã có từ khi loài người sinh ra và loài người coi đó là đạo lý, là truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi nước.Thế nhưng ASXH là một hệ thống các chính sách, các chương trình… cho nên để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện ASXH, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của từng nước mà người ta xây dựng thành từng chế độ an sinh xã hội hoặc xây dựng một hệ thống ASXH cụ thể và độc lập Chẳng hạn, xây dựng các chế độ ASXH để cụ thể hóa chính sách BHXH hay tổ chức một cụm chính sách để xây dựng hê thống ASXH như; Chính sách BHXH; chính sách ưu đãi xã hội, chính sách cứu trợ xã hội

Lý luận và thực tiễn cho thấy mô hình hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam rất phong phú, đa dạng với nhiều hợp phần, nội dung đan xen, chồng chéo, rất phức tạp Trên thực tế, an sinh xã hội được thực hiện theo

cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp với mức đầu tư của xã hội tăng dần cùng với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, từ góc độ thu nhập của người dân, giá trị tuyệt đối

Trang 24

và tỷ trọng của thu nhập từ an sinh xã hội vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ với mức giá trị tuyệt đối còn thấp và có biểu hiện của sự phân bố thiếu cân đối Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng luật an sinh xã hội và xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội góp phần phát triển bao trùm, bền vững

Chính sách ASXH có nội dung rất rộng và ngày càng được hoàn thiện trong quá trình phát triển của nhận thức và thực tiễn xã hội của một xã hội toàn cầu luôn biến đổi và tiến hóa không ngừng Phát triển hệ thống ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng và linh hoạt cho mọi thành viên trong cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau - gọi là những “rủi ro xã hội”

b Nội dung của chính sách an sinh xã hội

Về cấu trúc của an sinh xã hội: Có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, theo quan điểm phổ biến của các tổ chức Quốc tế, thì một hệ thống

an sinh xã hội phải có tối thiểu 3 phần cơ bản tương ứng với 3 chức năng chính của an sinh xã hội gồm:

- Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro Đây là tầng trên của hệ thống an sinh xã hội Chức năng của những chính sách này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư

có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro Trụ cột cơ bản của tầng này là những chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề, hỗ trợ người tìm việc, tự tạo hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động

- Thứ hai, những chính sách, những chương trình giảm thiểu rủi ro Đây

là tầng thứ hai, gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống

an sinh xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên các nguyên tắc đóng, hưởng như:

Trang 25

bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống ngược lại , nếu chính sách không phù hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng

- Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, bao gồm các chính sách chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội Đây là tầng cuối cùng của hệ thống an sinh xã hội với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như : thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo

1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội

Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt hướng vào phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tạo ra bước phát triển bền vững và ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác không ngừng hoàn thiện hệ thống ASXH để giúp cho con người, nhất là người lao động, có khả năng chống chọi với các rủi ro

xã hội, đặc biệt là rủi ro trong KTTT và rủi ro xã hội khác Ngoài tác động chung như đối với các nước giàu, chính sách ASXH có thể có những đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT - XH ở những nước nghèo

Ơ Việt Nam hệ thống ASXH ngày càng thể hiện vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, đó là:

- Thứ nhất, các chính sách ASXH góp phần ổn định đời sống của người lao động Hệ thống ASXH sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi

Trang 26

sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường

- Thứ hai, các chính sách ASXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống ASXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế -

xã hội

Thứ ba, hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Quỹ , trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn

và tăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ASXH đều góp phần thúc đẩy

sự tăng trưởng kinh tế

1.1.3 Sự cần thiết của chính sách an sinh xã hội

Xuất phát từ đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một quyền mới của công dân là: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội Quyền mới này là cơ sở hiến định

để công dân bảo đảm có được thu nhập tối thiểu nhằm thoát khỏi tình trạng nghèo đói khi không có việc làm hoặc không có thu nhập Đây cũng là cơ sở

để Nhà nước xây dựng hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý, bảo đảm cho công dân được hưởng quyền về an sinh xã hội

Thực hiện chính sách an sinh xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của Nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp Chính sách an sinh

xã hội bao gồm: Chính sách thị trường lao động và việc làm; bảo hiểm xã hội,

Trang 27

bảo hiểm y tế; trợ giúp xã hội Hệ thống các chính sách an sinh xã hội được phân thành 3 nhóm

Đầu tiên là nhóm mang tính chất chủ động phòng ngừa rủi ro, tập trung vào các chính sách tạo việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động Tiếp đến là nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro tập trung vào các chính sách về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Và cuối cùng là nhóm chính sách nhằm khắc phục các rủi ro là toàn bộ các chính sách về trợ cấp xã hội

Như vậy, bảo đảm chính sách an sinh xã hội là yêu cầu và điều kiện cần thiết của sự ổn định, phát triển đất nước, góp phần hiện thực hóa các quyền xã hội của mọi người dân Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, hoạt động bảo đảm an sinh xã hội ngày càng được triển khai có hiệu quả, trở thành một điểm sáng trong thực hiện nhân quyền ở Việt Nam

Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình khó khăn, phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách

Qua việc tổ chức thực hiện, mới biết được chính sách có đúng, phù hợp

và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện

1.1.4 Nội dung của công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội

1.1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Để thực hiện một cách hiệu quả chính sách an sinh xã hội, cần phải tiến

Trang 28

hành xây dựng kế hoạch thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng từ kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạch chuẩn bị các nguồn lực để thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; nhưng phải đảm bảo tuân thủ theo đúng quan điểm, mục tiêu, yêu cầu của chủ thể ban hành Khi xây dựng kế hoạch thực hiện, phải quy định cụ thể thời gian, lộ trình triển khai thực hiện; đồng thời xác định rõ các bên tham gia, có sự phân công, phân định rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, từng cán bộ, công chức, tránh chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quan khác; đặc biệt là phải đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính, con người, cơ sở vật chất, các công cụ, phương tiện thực hiện, đảm bảo việc triển khai thực hiện diễn ra thuận lợi, mang lại hiệu quả cao

1.1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Phổ biến, tuyên truyền chính sách ASXH là họat động mang tính thông tin, là hình thức công khai chính thống chính sách cho các cơ quan có thẩm quyền, các đối tượng chính sách và các bên tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, về tính đầy đủ, tính đúng đắn của chính sách để các bên có liên quan tự giác tham gia thực hiện Ngoài họat động mang tính thông tin, công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho cán bộ, công chức tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đối với đời sống xã hội, để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch chính sách

Phổ biến, tuyên truyền chính sách ASXH được thực hiện bằng nhiều hình thức như thông qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, tổ chức Hội nghị, hình thức lan truyền cộng đồng (thông tin từ người này sang người khác), hoặc lồng ghép các hình thức tuyên truyền khác Công tác phổ biến, tuyên truyền đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách

Trang 29

Nếu việc phổ biến, tuyên truyền chính sách tiến hành một cách kịp thời và hiệu quả, các đối tượng chính sách dễ dàng tiếp cận, kê khai, thụ hưởng chính sách nhanh; giúp cho các cơ quan và cán bộ, công chức thực thi chính sách tiết kiệm được thời gian, công sức, giúp cho chính sách được thực hiện một cách trọn vẹn, triệt để; còn ngược lại, nếu đối tượng thụ hưởng không có thông tin, không tiếp cận được chính sách sẽ kéo dài thời gian, bổ sung nhiều lần, nhiều đợt không những gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân

và các cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách; mà còn gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách

1.1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ASXH là việc cơ quan tổ chức thực hiện chính sách xem xét chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức chức, cá nhân có liên quan để phân công, phân nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và hợp lý, xác định cơ quan nào đóng vai trò chủ trì, cơ quan nào có chức năng phối hợp, tránh trường hợp nêu chung chung chung, nhằm đảm bảo trong suốt quá trình thực hiện chính sách diễn ra suôn sẻ, thuận lợi, không bị chồng chéo, thiếu sót hoặc bị tắc nghẽn

Việc phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách là một trong những vấn đề vướng mắc và yếu ở nước ta hiện nay Có những chính sách khi ban hành xong không thể triển khai thực hiện do sự phân công, phân nhiệm cho các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp thực hiện không rõ ràng hoặc chồng chéo, không có sự thống nhất giữa các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp nên xảyra tình trạng đùn đẩy, né tránh hoặc ôm đồm dẫn đến không

ai làm hoặc làm nửa vời không đến nơi, đến chốn Vì vậy, để việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH thực sự có hiệu quả, trước tiên phải có sự thống nhất cao về quan điểm, về mục tiêu, về chương trình, kế hoạch thực hiện và

Trang 30

sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến công tác tuyên truyền, vận động, công tác cung ứng nguồn lực tài chính, trang thiết

bị, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thực hiện chính sách Tuy nhiên, chịu trách nhiệm chính và chủ công trong việc triển khai thực hiện là ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ- TB&XH), Bảo hiểm xã hội (BHXH) và UBND các cấp

1.1.4.4 Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách ASXH là họat động diễn

ra thường xuyên, liên tục của hệ thống các cơ quan Nhà nước từ cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, đến các cơ quan và cán bộ, công chức được phân công thực hiện chính sách; kể cả đối tượng chính sách nhằm xem xét chính sách đã được triển khai tổ chức thực hiện chưa, tiến độ thực hiện đến đâu, việc tổ chức thực hiện có đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng theo quy trình,

kế hoạch đã ban hành hoặc đã đến tận được với các đối tượng chính sách không Bên cạnh đó, tiến hành kiểm tra việc thực hiện chính sách để phát hiện các trường hợp đối tượng khai man, giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được hưởng chính sách không đúng đối tượng theo quy định; cũng như phát hiện các trường hợp các cơ quan, cán bộ công chức lợi dụng chức vụ quyền hạn để thông đồng, móc nối với các đối tượng chính sách khai khống, xác nhận không đúng đối tượng cho người thân để trục lợi cho cá nhân từ chính sách để chấn chỉnh, xử lý kịp thời Kiểm tra, theo dõi sát việc thực hiện chính sách ASXH góp phần kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách và chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách ASXH

1.1.4.5 Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách ASXH là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính

Trang 31

sách của các cơ quan và cá nhân liên quan được phân công thực hiện chính sách, cũng như hiệu quả, lợi ích mang lại cho xã hội, cho đối tượng hưởng lợi

từ chính sách

Tùy theo tính chất, mức độ, quy mô và chu kỳ, niên hạn của chính sách

có thể tiến hành đánh giá, tổng kết Đối với việc thực hiện chính sách ASXH được xác định là chính sách thường xuyên và lâu dài Việc đánh giá, tổng kết được thực hiện theo trình tự từ cơ sở đến Trung ương Trong đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách ASXH phải đánh giá một cách toàn diện tất cả các mặt, các bước từ việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt; công tác phổ biến tuyên truyền; công tác phối hợp tổ chức thực hiện để biểu dương, phát huy những ưu điểm; đồng thời xem xét, đánh giá một cách khách quan những tồn tại, hạn chế, thiếu sót ở mặt nào, bước nào đề ra các biện pháp sát đúng nhất để khắc phục

tổ chức thực hiện tốt hơn; đồng thời phát hiện những vấn đề bất cập, hạn chế, thiếu sót hoặc những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn; cũng có thể là những vấn đề phù hợp khi mới ban hành chính sách, nhưng nay không còn phù hợp để tập hợp, kiến nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp điều kiện thực tiễn đảm bảo quyền lợi cho đối tượng thụ hưởng

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay việc đánh giá, tổng kết, nhất là ở cấp Trung ương vẫn còn mang tình hình thức, chung chung số liệu, thông tin chủ yếu được thực hiện bằng phép cộng dồn từ các báo cáo từ cơ sở, chứ chưa có những cuộc khảo sát, đánh giá từ thực tiễn để đối chiếu, so sánh, để mắt thấy tai nghe những bất cập, vướng mắc để có những điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp Thậm chí, một số kiến nghị, đề xuất ở cơ sở mang tính thực tiễn cao, bức xúc cần được sửa đổi, bổ sung vẫn không được ghi nhận

Thước đo đánh giá kết quả thực hiện chính sách là: Tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách; ý thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện

Trang 32

pháp thực hiện các mục tiêu chính sách và hiệu quả chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội

1.1.5.1 Quan điểm và nhận thức về chính sách

Hệ thống chính trị (thể chế chính trị) chi phối và ảnh hưởng rất lớn đến nội dung, hình thức của chính sách ASXH, bao gồm các yếu tố về văn hóa, chính trị, Hiến pháp, thể chế chính trị, quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà nước Các quy định, hướng dẫn thực hiện chính sách phải tuân thủ và căn cứ vào Hiến pháp và thể chế, là cơ sở pháp lý cao nhất mà tất cả mọi tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách phải tuân theo Vì chính sách ASXH trước hết phải thực hiện cho được mục tiêu của Đảng và Nhà nước đó

là phục vụ vì lợi ích của cộng đồng, người dân và toàn xã hội

Việc thực hiện chính sách ASXH còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu

tố bên trong của chính sách như: Vai trò của các cơ quan tuyên truyền, hệ thống giá trị xã hội, điều kiện, khả năng kinh tế của Nhà nước, các quan hệ bên trong của hệ thống các cơ quan thực thi chính sách; cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách

Thực hiện chính sách ASXH cần phải có được sự nhận thức đúng đắn

và đầy đủ về quan điểm, mục đích của Đảng và Nhà nước trong cả hệ thống chính trị, phải nhận thức rằng đây là chính sách ưu đãi đặc biệt, là chính sách bắt buộc, chứ không phải là một sự ban ơn thuần túy Việc thực hiện chính sách là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, của các cá nhân, tổ chức và của toàn xã hội

Do đặc điểm về chính sách ASXH có sự khác biệt so với các đối tượng chính sách khác, đó là những người bản thân họ đã chịu nhiều mất mát, thiệt thòi so với những người khác, nên họ rất dễ bị tổn thương; do vậy những

Trang 33

người trực tiếp tham gia thực hiện chính sách ngoài việc phải nhận thức đúng đắn về chủ trương về quan điểm của Đảng và Nhà nước, họ phải thấu hiểu và thực sự trân trọng, không được có thái độ quan liêu, thờ ơ đối với các đối tượng này; thường xuyên chia sẻ, động viên họ, làm cho họ hiểu rõ về chính sách để hưởng ứng và hợp tác trong quá trình thực hiện chính sách Đồng thời phải tuyên truyền vận động nhân dân không nên so bì, mà cùng nhau hợp tác, tạo được sự thống nhất cao trong Nhân dân, tham gia đóng góp, hỗ trợ để họ

có điều kiện vươn lên trong cuộc sống

1.1.5.2 Năng lực của cán bộ thực hiện chính sách

Cán bộ là cái gốc của công việc Công việc thành hay bại đều ở nơi cán

bộ tốt hay kém Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và giám sát thực thi chính sách ASXH rất quan trọng đòi hỏi họ phải có năng lực chuyên môn, sâu sát cơ

sở thấu hiểu tâm lý và tình cảm của người đồng bào, phải có lòng nhiệt tình say sưa, tận tâm với công việc được phân công, phải thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước các cấp với người dân và ngược lại

1.1.5.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng thực hiện chính sách

Nếu như nói rằng, việc ban hành, triển khai thực hiện chính sách ASXH là điều kiện cần, thì các yếu tố về nguồn lực: con người, tài chính, cơ

sở vật chất là điều kiện đủ để đảm bảo thực hiện được chính sách ASXH Để chính sách được triển khai thực hiện thì ngay từ các bước đầu xây dựng kế hoạch, đến công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai, kiểm tra, đôn đốc thực hiện…đều phải có đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện Việc phân công cán

bộ, công chức thực hiện chính sách phải là những người có năng lực, tâm huyết, đạo đức đảm bảo chính sách được triển khai thực hiện đến đúng đối tượng và đúng theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước

Trong quá trình triển khai thực hiện phải phân bổ nguồn tài chính thường xuyên cần thiết để mua sắm trang thiết bị, máy móc, phương tiện làm

Trang 34

việc cho đội ngũ cán bộ, công chức; cơ sở chăm sóc, phụng dưỡng người có công; nguồn ngân sách ổn định hằng năm để chi trả lương cho bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách và chi trả chế độ trợ cấp cho các đối tượng Nếu chính sách ban hành đúng, nhưng không đảm bảo cơ sở vật chất và nguồn tài chính ổn định để duy trì thực hiện, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách và uy tín của Đảng và Nhà nước; cũng như làm tổn thương, ảnh hưởng đến cuộc sống của các đối tượng chính sách

Yếu tố kinh tế, xã hội có tác động rất lớn trong việc thực hiện chính sách ASXH Một đất nước phát triển mạnh về kinh tế, trong môi trường xã hội ổn định và hài hòa sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện các chính sách Kinh tế và xã hội có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau Kinh tế phát triển, Nhà nước có nguồn thu ngân sách cao, ổn định để phân bổ

ổn định nguồn ngân sách hàng năm cho việc thực hiện các chính sách an sinh

xã hội, tạo điều kiện cho người dân và các đối tượng chính sách có điều kiện thụ hưởng chính sách, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, góp phần ổn định xã hội Một đất nước hòa bình, ổn định về an ninh chính trị, người dân phấn khởi tin tưởng, ủng hộ Đảng, Nhà nước, hăng say lao động sản xuất là cơ sở quan trọng để thu hút các nhà đầu tư yên tâm đầu tư phát triển sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, giúp cho việc tích lũy phúc lợi lớn hơn để tiếp tục duy trì, thực hiện chính sách Ngược lại, một xã hội bất ổn về an ninh chính trị, luôn luôn biến động sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước, sẽ kéo nền kinh tế phát triển chậm, ảnh hưởng đến nguồn lực để duy trì thực hiện chính sách

Trong những năm gần đây, đất nước ta đã duy trì được sự ổn định về mặt xã hội; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế đã dần phục hồi và có những bước phát triển ổn định, tạo điều kiện cho Đảng và Nhà nước ta tiếp tục duy trì, và từng bước mở rộng, nâng cao các chế độ

Trang 35

chính sách đối với người có công cách mạng, giúp cho các đối tượng phấn khởi, yên tâm và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội

1.2.1 Một số nghiên cứu có liên quan đến hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội

An sinh xã hội là vấn đề đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học

Do đó, nhiều công trình đã được công bố, đề cập những khía cạnh khác nhau, với nội dung và cách tiếp cận phong phú, đa dạng Trong đó có những công trình tiêu biểu như:

- “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Công trình nghiên cứu cấp nhà nước mang mã số KX 04.05 do Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội làm chủ đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài đề cập đến một cách khá hệ thống vấn đề đổi mới, hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội như: đã làm rõ khái niệm về đảm bảo xã hội; mối quan hệ giữa bảo đảm xã hội với các chính sách xã hội, vị trí, vai trò và sự cần thiết khách quan của bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường, khẳng định bảo đảm xã hội vừa là nhân tố ổn định, vừa là động lực cho phát triển kinh tế xã hội; đề tài đã nghiên cứu làm rõ các bộ phận cấu thành của bảo đảm

xã hội là BHXH, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội; đã đánh giá thực trạng của các

bộ phận cấu thành này, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của nó và chỉ ra quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển trong tương lai của hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta

- “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Luận văn Tiến sỹ của tác giả Mai Ngọc Anh - Chuyên ngành

Trang 36

quản lý kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sơn La Tác giả đã nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường; tổng kết kinh nghiệm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở một số nước trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc xây dựng hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước ta; khái quát thực trạng hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của hệ thống ASXH hiện hành đối với nông dân

- “Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” Sách chuyên khảo do Viện khoa học Lao động và xã hôi thuộc Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội Việt Nam biên soạn Cuốn sách đã đề cập và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như những nội dung, chính sách chủ yếu và thực trạng của hệ thống ASXH ở Việt Nam hiện nay; định hướng phát triển chính sách ASXH đến năm 2020

- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Chiêu, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Sơn La “An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” Bài viết

đã chỉ ra vai trò của hệ thống ASXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay, đồng thời đề ra những định hướng nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách ASXH ở Việt Nam

- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Mai Ngọc Anh, trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Trong phạm vi luận án này, tác giả chủ yếu

đề cập đến các nhân tố, điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH hiện đại đối với nông dân Từ đó làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện

Trang 37

kinh tế thị trường

- Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Chương Phát, trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh với đề tài “Ảnh hưởng của hệ thống An sinh xã hội tới vấn đề nghèo đói hộ nông dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”, trong đề tài này trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng hệ thống ASXH tới nghèo đói của hộ nông dân huyện Văn Chấn, tác giả đã làm rõ quan niệm, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp tăng cường sự ảnh hưởng của hệ thống ASXH tới vấn đề nghèo đói của hộ nông dân huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái" Tác giả cũng đã đưa ra các kiến nghị, giải pháp toàn diện nhằm xây dựng hệ thống ASXH đảm bảo giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo

1.2.2 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách sách an sinh xã hội của một số địa phương tại Việt Nam

1.2.2.1 Kinh nghiệm của huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Xác định công tác an sinh xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự,

an toàn xã hội ở địa phương Trong những năm qua, huyện Định Quán đã triển khai đồng bộ các giải pháp đảm bảo an sinh xã hội trên nhiều phương diện như: Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, giúp người dân tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, rà soát, giải quyết các chế độ chính sách cho người nghèo, hộ cận nghèo, chăm lo, giải quyết các chế độ chính sách với người có công, đối tượng trợ cấp xã hội, qua đó đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Số người tham gia BHXH liên tục tăng qua các năm, nếu như năm

2020, toàn huyện Định Quán có khoảng 8263 người tham gia bảo hiểm xã hội thì đến hết năm 2022 con số này là 9036 người tham gia BHXH tốc độ phát

Trang 38

triển bình quân về số người tham gia bảo hiểm xã hội là 108% Số người tham gia BHYT 17.475 người thì đến năm 2022 con số này là 22.137 người Đầu năm 2022, toàn huyện có 595 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 3,14% so với tổng số hộ dân; Kế hoạch giảm nghèo của huyện giao 595 hộ nghèo Trong năm 2022 thực hiện giảm nghèo là 595 hộ với 2.095 khẩu đạt 100% kế hoạch tỉnh giao Nguồn kinh phí hỗ trợ trong năm 2022 toàn huyện đã tập trung huy động, tranh thủ sự hỗ trợ của tỉnh và các tổ chức, cá nhân để giúp đỡ cho hộ nghèo,

hộ đặc biệt nghèo, với tổng số tiền 11.271.820.000 đồng, trong đó nguồn từ ngân sách 6.718.970.000 đồng, nguồn huy động 4.306.850.000 đồng, vốn vay ngân hàng chính sách 246.000.000 đồng Tập trung đầu tư vào các giải pháp chủ yếu như làm nhà Tình thương, nhà Đại đoàn kết, nhà Tình nghĩa, sửa chữa nhà, xây dựng công trình phụ, trao vốn sinh kế, hỗ trợ học bổng, vay vốn,

tư vấn đào tạo, chuyển đổi ngành nghề Để Chương trình mục tiêu giảm nghèo đạt hiệu quả cao, huyện đã đề ra các chính sách hổ trợ thiết thực như: Chính sách tín dụng, hỗ trợ sinh kế, giải quyết việc làm, hỗ trợ về giáo dục, y

tế, nhà ở

Về chính sách an sinh xã hội, nhằm sẻ chia những khó khăn với các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội, trong 5 năm qua, huyện đã trợ cấp xã hội cho gần 9 nghìn trường hợp Vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm, huyện đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ neo đơn đặc biệt khó khăn, hỗ trợ gạo cứu đói trong dịp Tết Nguyên đán cho hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo, với mức

hỗ trợ là 15kg/khẩu Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, "Đền ơn đáp nghĩa", Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Định Quán đã tích cực chăm lo tốt đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách, thực hiện chi trả đúng, đủ, kịp thời các chế độ đối với người có công, cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng chính sách, người có công cách mạng Mỗi

Trang 39

năm, nhân các ngày lễ, Tết, huyện đã thăm và tặng hơn 20 nghìn suất quà với tổng giá trị hơn 5 tỷ đồng Trong 3 năm, từ 2020 đến 2022, huyện đã vận động Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được hơn 3,5 tỉ đồng, đã xây mới và sửa chữa

60 nhà tình nghĩa với tổng trị giá 2,2 tỉ đồng cho các gia đình chính sách khó khăn về nhà ở

Bên cạnh thực hiện tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, các chương trình chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em cũng được các cấp, các ngành huyện Định Quán thực hiện có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật Trong 5 năm qua, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với Trung tâm Phục hồi chức năng - Giáo dục trẻ em khuyết tật tỉnh đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em khuyết tật và kiểm tra phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho hơn 300 em tại các xã, các cơ sở mái ấm, nhân dịp này, huyện

đã trao 125 suất học bổng cho học sinh nghèo vượt khó từ nguồn Quỹ “Bảo trợ trẻ em”, mỗi suất 1 triệu đồng

Có thể nói, với sự nỗ lực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của các ngành, các Hội, đoàn thể và hưởng ứng tích cực của người dân trong việc triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp an sinh xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là các đối tượng hộ nghèo, cận

nghèo và các đối tượng chính sách, bảo trợ xã hội từng bước được cải thiện 1.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai

Thời gian qua, các chính sách đảm bảo an sinh xã hội luôn được các cấp, ngành, địa phương trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ quan tâm thực hiện; xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Bằng cách đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và những mô hình hiệu quả triển khai tới cơ sở, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội trong huyện cũng góp phần huy động mọi nguồn lực cho an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân

Trong những năm qua, hoạt động chăm lo cho người nghèo đã trở

Trang 40

thành hoạt động thường niên của huyện với mục tiêu là hỗ trợ, cứu trợ cho các đối tượng yếu thế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội Với vai trò là cơ quan thường trực của Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo”, hằng năm, Ủy ban MTTQ huyện đã xây dựng kế hoạch vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”, triển khai chương trình an sinh xã hội và công tác cứu trợ trong năm Hình thức vận động Quỹ “Vì người nghèo” cũng được triển khai đồng bộ xuống các địa bàn dân cư Tùy điều kiện cụ thể ở từng địa phương, các hình thức vận động quỹ, các mô hình giúp nhau giảm nghèo có nhiều nội dung phong phú,

đa dạng như: Giúp nhau bằng ngày công lao động, vật liệu xây dựng, bằng kinh nghiệm, truyền nghề, phổ biến khoa học kỹ thuật, tín chấp vay vốn đầu

tư phát triển sản xuất Trong đó việc đóng góp, ủng hộ bằng tiền là một nội dung quan trọng để huy động các nguồn lực hỗ trợ xóa nhà tạm, xây nhà tình thương cho hộ nghèo Ban Vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng chung tay hỗ trợ người nghèo; kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tích cực tham gia, đóng góp, ủng hộ xây dựng quỹ Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo mọi khoản tiền hỗ trợ gửi tới đều được tiếp nhận, quản

lý và sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch

Đến nay, Quỹ “Vì người nghèo” toàn huyện đạt trên 6,5 tỷ đồng (trong

đó huyện huy động được trên 2,5 tỷ đồng, cấp xã huy động được 4 tỷ đồng);

đã hỗ trợ, giúp đỡ xây mới 72 ngôi nhà tình thương, tình nghĩa với số tiền trên 3,6 tỷ đồng, hỗ trợ sửa chữa 120 ngôi nhà với số tiền trên 2,5 tỷ đồng Giúp

đỡ gia đình hộ nghèo nghèo, cận nghèo phát triển kinh tế với số tiền trên 250 triệu đồng Ban vận động đã hỗ trợ chi phí chữa bệnh cho nhiều trường hợp gia đình nghèo, khó khăn; hỗ trợ chi phí cho hàng trăm học sinh nghèo, cận nghèo vượt khó vươn lên trong học tập với số tiền hàng trăm triệu đồng Hỗ trợ trên 670 xuất quà tết cho hộ nghèo vui xuân đón Tết cổ truyền của dân tộc

Ngày đăng: 04/01/2024, 12:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2012). Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1-6-2012 về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”. Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
Năm: 2012
2. Bảo hiểm xã hội huyện Thống Nhất (2020 - 2022), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2020, 2021, 2022, Thống Nhất, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2020, 2021, 2022
3. Chi cục thống kê huyện Thống Nhất (2022), Niên giám thống kê huyện Thống Nhất 2020,2021, 2022, Thống Nhất, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Thống Nhất 2020,2021, 2022
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Thống Nhất
Năm: 2022
7. Huyện ủy Thống Nhất, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Thống Nhất lần thứ XII nhiệm kỳ 2020-2025, Thống Nhất, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Thống Nhất lần thứ XII nhiệm kỳ 2020-2025
8. Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Thống Nhất, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ các năm 2020, 2021, 2022. Thống Nhất, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ các năm 2020, 2021, 2022
9. Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất (2020 - 2022), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội – an ninh – quốc phòng năm 2020, 2021, 2022 và phướng hướng nhiệm vụ năm 2023, Thống Nhất, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội – an ninh – quốc phòng năm 2020, 2021, 2022 và phướng hướng nhiệm vụ năm 2023
4. Chính phủ (2016). Nghị định 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết biện pháp thi hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhất. Hà Nội, Việt Nam Khác
5. Lê Thị Hằng (2023). An sinh xã hội là gì? Công khai, minh bạch trong lĩnh vực an sinh xã hội. An sinh xã hội là gì? Công khai, minh bạch trong lĩnh vực an sinh xã hội (luatminhkhue.vn), truy cập ngày 15/08/2023 Khác
6. Nguyễn Hương (2023), Chính sách là gì? Các loại chính sách cơ bản hiện nay. Chính sách là gì? Các loại chính sách cơ bản hiện nay (luatvietnam.vn), truy cập ngày 15/08/2023 Khác
6. Ông/bà có tham gia vào xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chính sách ASXH tại địa phương không?[ ] Có [ ] Không Khác
7. Đánh giá của ông/bà về thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chính sách ASXH tại địa phương?[ ] Kế hoạch được xây dựng hàng năm[ ] Kế hoạch được phổ biến tới những người thực thi chính sách[ ] Kế hoạch được phổ biến tới những địa phương thực hiện chính sách [ ] Kế hoạch dễ triển khai thực hiện[ ] Khác (ghi rõ)……………………………………………………………………… Khác
8. Hạn chế trong xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chính sách ASXH tại địa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Thực trạng dân số của huyện Thống Nhất năm 2022 - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 2.3. Thực trạng dân số của huyện Thống Nhất năm 2022 (Trang 51)
Bảng 2.4. Thực trạng lao động của huyện Thống Nhất năm 2022 - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 2.4. Thực trạng lao động của huyện Thống Nhất năm 2022 (Trang 52)
Bảng 3.1. Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.1. Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện (Trang 60)
Bảng 3.3. Thực trạng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn huyện - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.3. Thực trạng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn huyện (Trang 63)
Bảng 3.5. Thực trạng các chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.5. Thực trạng các chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện (Trang 67)
Bảng 3.7. Thực trạng chính sách bảo trợ trên địa bàn huyện Thống Nhất, - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.7. Thực trạng chính sách bảo trợ trên địa bàn huyện Thống Nhất, (Trang 72)
Bảng 3.13. Đánh giá của người dân về công tác tuyên truyền, phổ biến - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.13. Đánh giá của người dân về công tác tuyên truyền, phổ biến (Trang 79)
Bảng 3.15. Đánh giá của cán bộ về hạn chế trong công tác phân công phối - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.15. Đánh giá của cán bộ về hạn chế trong công tác phân công phối (Trang 82)
Bảng 3.17. Đánh giá của cán bộ về công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.17. Đánh giá của cán bộ về công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện (Trang 84)
Bảng 3.19. Đánh giá của cán bộ về công tác tổng kết, đánh giá thực hiện - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.19. Đánh giá của cán bộ về công tác tổng kết, đánh giá thực hiện (Trang 87)
Bảng 3.20. Đánh giá của các đối tượng về sự cần thiết của tổ chức thực - Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện thống nhất, tỉnh đồng nai
Bảng 3.20. Đánh giá của các đối tượng về sự cần thiết của tổ chức thực (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm