BỘ MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SỨC KHỎE ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2023
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
BỘ MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SỨC KHỎE
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
KHẢO SÁT MỨC ĐỘ STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2023
Trang 21 Lý do chọn chủ đề:
Với sự phát triển chóng mặt của xã hội hiện đại Con người phải đốimặt với những biến đổi, những sự kiện diễn ra xung quanh mình, phải thíchnghi với những điều đó trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần, đặcbiệt là mặt tinh thần Đời sống tâm lý của con người phải thay đổi liên tục,ngày càng trở nên phong phú và đa dạng để thích nghi với môi trường sống
và làm việc Do đó, tình trạng stress trong xã hội hiện nay ngày một giatăng
Tình trạng stress ở sinh viên được ghi nhận là đặc biệt trầm trọnghơn các lĩnh vực khác, đặc biệt là sinh viên khối ngành Y dược Nhiềunghiên cứu trên đối tượng học sinh- sinh viên đã chỉ ra rằng ngày càng giatăng về tỷ lệ và mức độ stress trong thời kì này cao hơn hẳn các giai đoạnkhác trong cuộc đời[1] Sinh viên đại học không chỉ đối mặt với nhữngthách thức liên quan đến cuộc sống độc lập mà còn cả những khó khăntrong học tập Điều này khiến họ dễ bị trầm cảm, lo lắng và căng thẳng,những tình trạng khá phổ biến [2]
Stress có thể là động lực giúp con người tập trung hơn vào công việc
và đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên khi công việc quá tải, áp lực lớn kèmtình trạng stress kéo dài với cường độ mạnh không những gây ảnh hưởngxấu đến sức khỏe [3]
Nguyên nhân sinh viên y khoa dễ mắc stress hơn các sinh viên khốingành khác do họ không chỉ học lý thuyết trên lớp mà còn phải thực tập tạibệnh viện với thời gian dày đặc Điều này khiến cho sinh viên không tránhkhỏi căng thẳng, mệt mỏi và thiếu ngủ dẫn đến tình trạng sức khỏe kém đi[4]
Trang 3Một tỷ lệ đáng kể sinh viên y khoa được phát hiện là bị trầm cảm, lolắng và căng thẳng cho thấy một lĩnh vực tâm lý bị bỏ quên của sinh viêncần được quan tâm khẩn cấp Các dịch vụ tư vấn cho sinh viên cần phảiđược cung cấp và dễ tiếp cận để hạn chế tình trạng này [5].
Tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, hiện tại chưa có nhiều nghiêncứu về stress trên đối tượng sinh viên ngành Y khoa Do đó, chúng tôi thựchiện nghiên cứu “Khảo sát mức độ stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tốliên quan của sinh viên Y Khoa – trường Đại Học Y Dược Cần Thơ” vớihai mục tiêu:
+ Xác định tỷ lệ, mức độ stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên ngành Ykhoa Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2023
+ Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng này ở sinh viên ngành
Y khoa Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2023
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Khảo sát mức độ stress, lo âu, trầm cảm và một số
yếu tố liên quan của sinh viên Y Khoa – trường Đại Học Y Dược Cần Thơ năm 2023
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định tỷ lệ stress của sinh viên Y khoa
+ Khảo sát mức độ stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên Y Khoa – trườngĐại Học Y Dược Cần Thơ năm 2023
+ Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng stress, lo âu, trầm cảm củasinh viên Y Khoa tại trường Y Dược Cần Thơ năm 2023
Trang 4+ Đưa ra một số phương pháp giảm căng thẳng, stress, lo âu, trầm cảm chosinh viên khối ngành sức khỏe.
3 Tổng quan tài liệu theo chủ đề nghiên cứu:
3.1 Định nghĩa/khái niệm chủ đề nghiên cứu:
3.1.1 Stress:
Năm 1914 Walter Cannon gọi stress là stress cảm xúc với các biểuhiện tấn công hay bỏ chạy trước các tình huống gây cấn Còn Hans Selyeđưa ra định nghĩa stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể vớinhững tình huống căng thẳng nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng, đây
là phản ứng thích nghi của cơ thể.[7] Sau này có rất nhiều nhà khoa học đã
đi sâu nghiên cứu về stress và đưa ra định nghĩa: Stress là tình trạng căngthẳng tâm thần, do các tác nhân bên ngoài và/hoặc bên trong cơ thể gây ra,buộc cơ thể phải huy động sự tự vệ để đương đầu với tình huống gây stress.[7],[11]
Stress được chia làm hai loại: Stress sinh lý là sự đáp ứng của chủthể là thích hợp, tạo ra một sự cân bằng mới và stress bệnh lý sự đáp ứngcủa chủ thể là không thích hợp, gây mất cân bằng Dựa vào đặc tính củastress người ta cũng chia ra làm 2 loại: Stress lạc quan và stress bi quan.Stress lạc quan là stress đưa đến những thử thách, kích thích, để tạo cho đờisống thêm phần thú vị nhưng không làm tổn hại đến sức khoẻ Sự nghỉngơi, để phục hồi sinh lực, chính là một trong những yếu tố chính yếu củatính chất stress lạc quan Stress bi quan là stress có liên quan đến việc gâynên nhiều bệnh chứng cho cơ thể như: nhức đầu, cao huyết áp, đau tim,nhức mỏi gân thịt, suy nhược thể chất và tinh thần Khi cơ thể bị đặt trongtình trạng thử thách dài hạn, hoặc những kích thích ngắn hạn liên tục vàthiếu thời gian nghỉ ngơi, thư giãn thích đáng sẽ đưa cơ thể đến tình trạng
Trang 5kiệt sức và tổn hại sức khoẻ Ngoài ra còn rất nhiều cách để phân loạistress Stress có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Đối với mặt tích cực stress
sẽ làm cho con người thích nghi tốt hơn với những thay đổi khách quan,giúp hoàn thiện bản thân khi có thể vượt qua những mặt hạn chế của chínhbản thân chúng ta Tuy nhiên bên cạnh đó nếu stress quá mạnh sẽ làm cơthể rối loạn gây ra nhiều bệnh lý.[7]
Biểu hiện: Khi các sinh viên bị stress học đường thường có biểu
hiện trầm, những chuyện mang tính chất rất bình thường cũng khiến cácbạn suy nghĩ và buồn bực không rõ lý do Hầu hết sinh viên đều mang tâm
lý thể hiện bản thân đều đó dễ dẫn đến việc các bạn sẽ cảm thấy mình làngười thất bại không có giá trị khi không đạt được mục tiêu Cảm thấy nỗlực nhiều nhưng kết quả ngày càng tệ Trí nhớ giảm sút, tinh thần khôngthoải mái khiến các bạn khó tập trung vào giờ học Tim đập nhanh, hay run
và thường đổ mồ hôi cũng là những biểu hiện của stress Từ áp lực giađình, ganh đua điểm số với bạn bè, kiến thức nhiều khiến các bạn kiệt quệ
về tinh thần và thể lực dẫn đến việc có những suy nghĩ theo hướng tiêu cực
về cuộc sống Thường khó kiềm chế cảm xúc, dễ nổi cáu giận dữ Kén ănhoặc ăn nhiều hơn bình thường Ngủ nhiều và cảm giác không muốn dậy đểđến trường
3.1.2 Lo âu, rối loạn lo âu:
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước nhữngkhó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìmcách vượt qua, tồn tại, vươn tới Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trướcmột nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp đểđương đầu với sự đe dọa Người lo âu thường có biểu hiện run rẩy, khó thở,tim đập nhanh, vã mồ hôi, Lo âu là phản ứng bình thường của con người
Trang 6khi gặp các tình huống gây stress Rối loạn lo âu (anxiety disorder) là sự lo
sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất vô lý, lặp lại và kéodài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống Khi lo âu và sợ vẫn tiếptục diễn ngay cả khi mối lo thực tế đã kết thúc thì đó là bệnh lý.[10] Cácdạng rối loạn lo âu bao gồm rối loạn lo âu lan tỏa (GAD), rối loạn lo âu xãhội (SAD), rối loạn hoảng sợ, ám ảnh sợ đặc hiệu,
Biểu hiện: Căng thẳng, lo lắng quá mức là triệu chứng điển hình của
rối loạn lo âu Căng thẳng kéo dài sẽ gây mất tập trung Biểu hiện rõ rànghơn khi bị rối loạn lo âu là sẽ không giữ được bình tĩnh, đứng ngồi khôngyên, đi lại liên tục Tâm lý sợ hãi, tập trung kém, không để tâm vào bài học.Tim đập nhanh, mạnh, hít thở không sâu, thở gấp, run tay, run chân, môikhô, đau bụng, ra mồ hôi nhiều, tê buốt tay chân, mệt mỏi, uể oải là cácbiểu hiện thường thấy nhất Khi tinh thần và cảm xúc thay đổi sẽ làm thayđổi khẩu vị, một số người bị tăng cân không kiểm soát, số khác lại sụt cânliên tục Căng thẳng, lo lắng kéo dài, người bệnh sẽ buồn ngủ hoặc thiếungủ
3.1.3 Trầm cảm:
Trầm cảm điển hình là một rối loạn mang tính chất giai đoạn, táiphát đặc trưng bởi buồn bã hay bất hạnh dai dẳng, mất hứng thú với cáchoạt động hàng ngày, dễ cáu gắt Các phân nhóm của trầm cảm được xácđịnh dựa trên mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, tính chất lan tỏa, suygiảm chức năng và sự hiện diện hay vắng mặt của các giai đoạn hưng cảmhoặc hiện tượng loạn thần.[6] Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10(ICD 10), trầm cảm đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm hay thích thú,giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong
Trang 7khoảng thời gian cần thiết ít nhất là 2 tuần.Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD
- 10 (F32.-):
+ Lần đầu tiên xuất hiện ở bệnh nhân các triệu chứng lâm sàng đặctrưng, phổ biến và sinh học của trầm cảm
+ Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần
+ Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giaiđoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30) ở bất kỳ thời điểm nào trong đời
+ Giai đoạn này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần(F10 - F19) hoặc bất cứ rối loạn thực tổn nào (F00 – F09)[11]
Biểu hiện: Những triệu chứng như giảm sự tập trung, giảm tính tự
trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai
ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát cũng là cáctriệu chứng phổ biến.[11].Trầm cảm khiến trạng thái tinh thần rơi vào tiêucực với một loạt cảm xúc xấu như: đau khổ, chán nản, vô vọng, khóc lócnhiều nhưng không rõ lý do, nhạy cảm hơn, dễ buồn chán khi cảm thấymình không được quan tâm, bị bỏ rơi Mất tập trung cũng là biểu hiệnthường gặp ở người bị bệnh trầm cảm Chứng trầm cảm khiến giấc ngủ bịrối loạn, ngủ nhiều hoặc rất khó đi vào giấc ngủ, thường hay bị thức giấcvào giữa đêm và khó ngủ lại được Trầm cảm thường khiến ta ăn nhiều hơn
và cân nặng tăng 1 cách nhanh chóng Có những ám ảnh về những thiếusót, những số điểm, những kỳ thi Cảm thấy vô vọng về tương lai Dần táchbiệt với mọi người xung quanh, ít nói, lãnh đạm Biểu hiện có thể thay đổitùy theo độ tuổi, giới tính, nền giáo dục và văn hóa
Trang 83.2 Tổng quan nội dung
3.2.1 Xác định tỷ lệ stress của sinh viên Y khoa:
* So với mặt bằng dân số nói chung:
Sức khỏe nói chung và hạnh phúc của sinh viên y khoa đã trở thànhmột vấn đề đáng quan tâm khi yêu cầu của các trường y ngày càng cao hơn
Lo âu, stress có ở khắp mọi nơi và thúc đẩy mọi người thực hiện hết khảnăng của họ Tuy nhiên, căng thẳng quá mức hoặc kéo dài dẫn đến sứckhỏe tâm lý và thể chất kém
Lloyd và cộng sự đã khảo sát 745 sinh viên (tỷ lệ phản hồi 39%) tạiTrường Y khoa Đại học Texas ở Houston vào gần cuối năm học 1981–82nhận thấy điểm số dưới thang điểm trầm cảm cao hơn so với trường hợptheo tiêu chuẩn dân số (trung bình 1,61 ± 0,54 đối với sinh viên y khoa sovới trung bình 1,14 ± 0,28 đối với dân số nói chung)[14]
Khoảng 1 phần 3 sinh viên y khoa trên toàn cầu mắc chứng lo âu[22], các nhà quản lý và lãnh đạo các trường y nên đi đầu trong việc địnhhướng các bệnh tâm thần và thúc đẩy tinh thần tìm kiếm sự giúp đỡ khisinh viên y bị trầm cảm, lo lắng hoặc stress Nghiên cứu sâu hơn là cầnthiết để xác định các yếu tố rủi ro tác động đến tâm lý sinh viên
*Giữa sinh viên y khoa và không y khoa:
Ở những nghiên cứu trên các quốc gia khác, các tài liệu báo cáo chorằng sinh viên y khoa có nhiều vấn đề tâm lý xã hội hơn so với các bạncùng lứa tuổi và có tỷ lệ trầm cảm cao hơn so với dân số nói chung.[15] Tỷ
lệ rối loạn tâm lý ở sinh viên y khoa cao hơn so với các đồng nghiệp khôngphải là y khoa [14],[23],[12],[13] với tỷ lệ lo lắng toàn cầu ở sinh viên y
Trang 9khoa là 33,8% (Khoảng tin cậy 95%: 29,2–38,7%)[22] Một bức tranh toàndiện về sức khỏe tâm thần (MHP) ở các sinh viên y khoa Brazil đề cập đếnnghiên cứu trên 62.728 sinh viên y khoa, tỷ lệ trầm cảm chung được báocáo là 28,0%.
Tám nghiên cứu đã so sánh mức độ phổ biến của sự lo lắng giữa sinhviên y khoa và sinh viên không phải y khoa(n=8) Tỷ lệ cược tính toán từcác nghiên cứu này được thể hiện trong hình sau OR chung giữa hai nhóm
không có ý nghĩa thống kê (OR 0,948, KTC 95%: 0,648–1,39; p = 0,78).
Trang 10tuổi tác luôn là một trong những điều trăn trở của sinh viên ngành Y khithời gian đào tạo của ngành này là 6 năm và có thể nhiều hơn để có đượcnhững bằng cấp cao hơn, phục vụ tốt hơn trong công việc và đặc biệt là cóđược vị trí làm việc tốt hơn Thời gian đào tạo quá dài khiến tuổi tác củasinh viên khi ra trường cao hơn rất nhiều so với các bạn ở những ngành đàotạo khác Đặc biệt, khi các bạn cùng trang lứa đã có công việc ổn định, cómột vị trí vững vàng trong xã hội, thậm chí lập gia đình thì các bạn sinhviên ngành y lại đang loay hoay với những kiến thức và tìm vị trí làm việcthích hợp cho mình sau này Điều này dễ khiến các bạn tự ti về bản thân,mất phương hướng và tăng cảm giác là gánh nặng cho chính gia đình mình.
Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự đã tiến hànhđiều tra trên 442 sinh viên y khoa từ năm nhất đến năm tư của trường đạihọc Fayoum, Ai cập và cho thấy stress, lo âu ở mức độ cao có mối liênquan với yếu tố tuổi Những sinh viên trên 20 tuổi có mức độ stress và lo
âu cao hơn sinh viên dưới 20 tuổi.[24]
• Năm học
Các nghiên cứu đã thực sự chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa năm học
và trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên Một sinh viên y năm thứ 6 sẽ phảiđối mặt với rất nhiều vấn đề, những trăn trở và áp lực nặng nề hơn so vớisinh viên năm thứ 2 Việc phải hoàn thành đầy đủ tín chỉ để tốt nghiệpđúng hạn, tập trung ôn luyện để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp, và cả những
lo âu khi sắp phải đến với một môi trường hoàn toàn khác khiến cho nhómsinh viên này đứng trước vô vàng áp lực và dễ dẫn đến trầm cảm nặng
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thụ trên tổng 829 sinh viên từ K50đến K53 của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra các nhóm yếu tốđặc điểm cá nhân được xếp hàng thứ 2 trong các nhóm nguyên nhân gây
Trang 11stress ở sinh viên Tác nhân năm học, là một trong những tác nhân chủ yếuđóng vai trò chủ đạo gây nên stress ở sinh viên.[4]
• Giới
Tỷ lệ sinh viên nữ thường có khả năng bị trầm cảm, lo âu và stresscao hơn so với sinh viên nam Việc một bạn sinh viên nữ phải học tập rấtnhiều, chi phí học tập cao, tuổi tác khi ra trường đã đến tuổi lập gia đình ởgiới nữ, khiến họ phải đứng trước với những áp lực rất lớn từ gia đình, họctập và công việc của mình
Nghiên cứu của Đoàn Vương Diên Khánh trên sinh viên Y tế côngcộng trường Đại học Y Dược Huế cho thấy tỷ lệ bị stress của sinh viên nữcao gấp đôi so với sinh viên nam với OR = 2,3 (KTC:1,10 – 4,83)[1]
Một kết quả nghiên cứu về lo lắng, trầm cảm và chất lượng cuộcsống của sinh viên y khoa ở Malaysia đã chứng minh rằng phụ nữ có tỷ lệtâm lý ổn định thấp hơn đáng kể so với nam giới, họ nhạy cảm hơn với áplực và dễ xúc động hơn.[17]
• Tình cảm
Việc phải dành thời gian quá nhiều cho việc học tập, thi cử và đi lâmsàng khiến nhiều bạn gặp những vấn đề trong chuyện tình cảm đôi lứa Nếuđối phương sống và học tập trong lĩnh vực khác, họ sẽ rất khó để hiểu hếtnhững áp lực mà bạn đang phải đối mặt, điều này dễ dẫn đến mâu thuẫn, từ
đó khiến việc tình cảm không thuận lợi, tăng thêm áp lực cho sinh viênngành y
Theo kết quả nghiên cứu của Winitra Kaewpila và các cộng sự tạiThái Lan, các vấn đề về các mối quan hệ dường như là mối quan tâm lớn
Trang 12của sinh viên y khoa Khi sinh viên gặp trục trặc trong mối quan hệ, đặcbiệt đối với người yêu thì có khả năng bắt đầu vào thời kỳ trầm cảm.[18]
b Yếu tố học tập:
• Kết quả học tập:
Nghiên cứu cắt ngang của Mohamad Saiful Bahri Yusoff và cộng sựđược tiến hành trên 1058 sinh y khoa của trường Đại học Sains Malaysia đãchỉ ra nhóm liên quan đến học tập bao gồm bài thi, thiếu thời gian ôn tập,không hiểu được kiến thức giảng dạy, là nguyên nhân chính gây nênstress.[25]
Những sinh viên phải thi lại có nguy cơ bị stress cao gấp 2,56 lần sovới những sinh viên không phải thi lại [2]
Theo các bạn sinh viên tham gia nghiên cứu [2], học lực cũng là mộtyếu tố liên quan đến sự lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên, khi học lựcvừa là động lực vừa là áp lực cho các bạn
Trang 13• Khối lượng học tập quá lớn:
Chương trình học với khối lượng kiến thức dồi dào, lịch học dày vớinhững bài kiểm tra liên tục cũng khiến sinh viên dễ rơi vào trầm cảm [20]
Kết quả nghiên cứu định tính của Monica R.Hill và các cộng sự cũngcho kết quả tương tự khi các sinh viên mắc trầm cảm cho rằng khối lượngkiến thi ngành y quá nhiều và tốc độ của chương trình học khiến các sinhviên cảm thấy chơi vơi để theo kịp [18]
• Áp lực đồng trang lứa:
Với đặc thù thời gian học rất dài, hầu hết các trường Đại học kháchọc từ 3 năm đến 4 năm nhưng riêng ngành Y khoa thì là 6 năm Và saukhi ra trường sẽ phải học thêm 1,2 năm nữa để định hướng rõ ràng hơn Vìvậy mà thực tế là bạn bè của sinh viên Y khoa đã ra trường, có công việc
ổn định khi mình chưa học xong Đại học
• Áp lực từ định kiến xã hội:
Ở Việt Nam, nhiều người vẫn hay có thói quen đánh giá người khácphải toàn diện về mọi mặt từ khi còn là học sinh đến khi trở thành sinhviên Tạo nên một áp lực vô hình khi cho rằng sinh viên Y khoa lĩnh vựcnào cũng rành rọt khiến học sinh bị ám ảnh lu mờ, quên rằng chuyên mônmình là Y khoa Làm sinh viên Y khoa nghi ngờ năng lực của bản thân vàxao nhãng chuyên môn chính
c Yếu tố gia đình:
• Thu nhập của gia đình
Những sinh viên sống trong gia đình nghèo thường phải trưởngthành sớm, phải lo nghĩ, quán xuyến nhiều hơn đến công việc của gia đình,
Trang 14chi tiêu và sinh hoạt hàng ngày của gia đình Điều này có nguy cơ xuất hiệncác dấu hiệu của trầm cảm, lo âu và stress cao hơn sinh ở những gia đìnhkhá giả.
• Mối quan hệ với gia đình
Mối quan hệ với gia đình là một cấu phần quan trọng trong sự ảnhhưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên Sự gắn kết, chia sẻ, quan tâm
và chăm sóc của bố mẹ là hết sức quan trọng đối với việc phát triển nhâncách và tâm lý nhất là trong giai đoạn học sinh, sinh viên Trong giai đoạnnày, các em sẽ đối mặt với nhiều vấn đề, khó khăn mới xuất hiện trongcuộc sống
Việc có được sự chia sẻ, hỗ trợ và những lời khuyên bổ ích của giađình là một trong yếu tố then chốt trong bảo vệ sức khỏe tâm thần cho sinhviên, giảm khả năng xuất hiện của trầm cảm, lo âu và stress
d Yếu tố khác:
• Mâu thuẫn với các mối quan hệ xung quanh :
Yếu tố về bạn thân là các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê vớitình trạng stress trong nghiên cứu này Nhóm sinh viên không có bạn thân
bị stress cao gấp 2,76 [3] lần so với nhóm có bạn thân Sinh viên không gặpkhó khăn trong trong hoạt động xã hội mắc stress thấp hơn 70% so vớinhóm gặp khó khăn trong các hoạt động xã hội Kết quả này cũng được lýgiải thêm trong kết quả nghiên cứu của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ NgọcQuỳnh
• Môi trường sống tác động đến sinh viên:
Nơi sống, quê quán là yếu tố có liên quan với tình trạng stress.Những áp lực cuộc sống khi sống xa gia đình, thay đổi điều kiện nhà ở có
Trang 15tác động đến stress của sinh viên Sinh viên từ các vùng nông thôn chuyển
về thành phố sống, học tập chịu stress cao gấp 2 lần so với sinh viên sốngtại vùng thành thị (OR = 2,04; 95%CI: 1,02- 4,52) Điều này cũng tươngđồng khi so sánh với nhóm sinh viên trong tỉnh Thừa Thiên Huế và sinhviên tỉnh khác, khả năng sinh viên tỉnh khác bị stress cao gấp 2,83 lần(OR=2,83; 95%CI: 1,19 – 6,73) so với sinh viên trong tỉnh Thay đổi môitrường sống đặc biệt là ở các vùng nông thôn, kinh tế khó khăn làm tăng áplực cho sinh viên trong thích nghi với môi trường sống, học tập mới nhất làđối với sinh viên năm thứ nhất như trong nghiên cứu.[3]
Những sinh viên ở trọ [16]thường xuất hiện các dấu hiệu của trầmcảm, lo âu và stress cao hơn các sinh viên ở ký túc xá hoặc ở cùng gia đình.Việc ở trong ký túc xá hay ở cùng gia đình tạo điều kiện cho sinh viên dễdàng duy trì các nếp sống, thói quen sinh hoạt đều đặn, lành mạnh Điềunày sẽ góp phần giúp sinh viên có được một sức khỏe tinh thần đầy đủ,giảm bớt nguy cơ xuất hiện các dấu hiệu của trầm cảm, lo âu và stress.Nghiên cứu của Eisenberg và cộng sự năm 2007 thực hiện trên sinh viên
Mỹ đã cho kết quả sinh viên ở ký túc xá có nguy cơ bị lo âu thấp hơn sovới sinh viên không sống ở ký túc xá (OR=0,41; 95%CI: 0,21 – 0,78)
3.3 Phương pháp giảm căng thẳng, stress, lo âu, trầm cảm cho sinh viên khối ngành sức khỏe:
Kết bạn và mở rộng mối quan hệ
Khi bước vào môi trường đại học Y Dược, việc có nhiều mối quan
hệ sẽ hỗ trợ bạn rất nhiều trong quá trình học tập và sinh sống Thay vì tự
ti, nên cố gắng mở lòng và chủ động trò chuyện với những người xungquanh Hãy bắt đầu bằng những câu hỏi đơn giản về tên tuổi, quê quán,…
để có thể dễ dàng tạo mối quan hệ, cùng nhau chia sẻ những vấn đề học tập
Trang 16và kinh nghiệm khi đi thực tập lâm sàng, từ đó mở rộng kiến thức và vượtqua khó khăn trong việc học rất nhiều, giảm bớt căng thẳng khi gặp vấn đềkhó nan giải
● Loại bỏ mối quan hệ “độc hại”
Stress ở sinh viên cũng có thể bắt nguồn từ các mối quan hệ “độchại” Mối quan hệ “độc hại” là cách gọi các mối quan hệ chỉ mang lạinhững cảm xúc tiêu cực và chỉ có bản thân là người nỗ lực, đồng cảm, chiasẻ,… Trong khi người còn lại không quan tâm hay chú ý đến cảm xúc củabạn
Thực tế, dạng mối quan hệ này có thể gặp ở cả bạn bè, đồng nghiệp
và cả mối quan hệ yêu đương Nếu nhận thấy đối phương có biểu hiện bấtthường, bạn nên chủ động kết thúc để bắt đầu các mối quan hệ lành mạnhhơn Việc “thanh lọc” các mối quan hệ “độc hại” sẽ giúp tâm trạng trở nênnhẹ nhàng và có thể giảm thiểu stress, phiền muộn trong cuộc sống
● Lên kế hoạch học tập khoa học
Khác với khi còn là học sinh, đại học yêu cầu sự chủ động trong họctập Do đó, bạn cần phải chủ động trao đổi với giảng viên nếu có vướngmắc về bài học và tự tìm tòi, nghiên cứu thêm tài liệu để hiểu sâu hơn vềbài giảng
● Chi tiêu hợp lý
Bên cạnh việc học, sinh viên cũng cần học cách quản lý chi tiêu hợp
lý để hạn chế những vấn đề liên quan đến tài chính Đầu tiên, cần chuẩn bị
số tiền cho những vấn đề cần thiết như tiền trọ, xăng xe, chi phí mua sách,
vở và đồ dùng học tập Sau đó, cân đối tiền cho các chi tiêu hằng ngày
Trang 17Nếu có làm thêm ngoài giờ, bạn cần có khoản tiết kiệm nhỏ để sửdụng khi có vấn đề phát sinh Thực tế, việc chủ động về tài chính sẽ giúpbạn giảm thiểu nhiều vấn đề trong cuộc sống và hạn chế stress đáng kể.
● Xây dựng lối sống lành mạnh
Stress, mệt mỏi ở sinh viên có thể bắt nguồn từ lối sống thiếu khoahọc Thực tế cho thấy, rất nhiều sinh viên có thói quen thức khuya, ít tậpthể dục và ăn uống tạm bợ Những thói quen này không chỉ gia tăng nguy
cơ bị stress mà còn gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe thể chất
Ăn uống đầy đủ và quân bình chất dinh dưỡng như chất bột là 55 –60%, đạm 20%, béo 22%; chú trọng đạm động vật, béo thực vật Ăn nhiềurau và trái cây để đảm bảo lượng vitamin và khoáng chất Uống đủ nước,không để táo bón
Do đó, bên cạnh những biện pháp trên, bạn cũng cần xây dựng lốisống lành mạnh để hạn chế căng thẳng Trước tiên, cần phải cân đối thờigian học tập – làm việc để ngủ đủ giấc, có thời gian nghỉ ngơi và tập thểdục thể thao Ngoài ra, cần có chế độ ăn lành mạnh, hạn chế sử dụng rượubia, thuốc lá và các món ăn chế biến sẵn
● Tham vấn tâm lý
Nếu không thể kiểm soát stress, bạn nên cân nhắc tham vấn tâm lý.Hiện nay, một số trường đại học có phòng tư vấn tâm lý để hỗ trợ sinh viênvượt qua những khó khăn và học cách giải quyết các vấn đề trong cuộcsống Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm đến các bệnh viện/ phòng khám nếucần thiết Để đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn đề tâm lý, Trường Đại học
Y Dược Cần Thơ đã thành lập phòng tham vấn tâm lý đáp ứng nhu cầu về
tư vấn lý cho sinh viên, học viên
Trang 183.4 Các nghiên cứu khác về trầm cảm-lo âu-stress của sinh viên Y khoa
3.4.1 Tại Việt Nam:
a Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Trong một nghiên cứu về Stress và một số yếu tố liên quan ở sinhviên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2021 đã chỉ ra rằng có 78,2%sinh viên stress, trong đó stress mức độ nhẹ là 35,2%, trung bình là 32,6%,nặng là 10,5% [8] Tác giả còn đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tới stress lànăm học (năm 2, năm 3, năm 4); tham gia hoạt động ngoại khoá (thể thao,đọc sách/nghe nhạc, đoàn hội) từ 30 phút/ngày trở lên; Cảm thấy nội quykhó khăn, khó khăn về tài chính, phải học lại một năm Từ đó, tác giả đưa
ra các lời khuyên cho sinh viên về việc sắp xếp lại lịch học, thời gian ôn tậphợp lý, tham gia các hoạt động ngoại khoá để phòng tránh stress
Một nghiên cứu khác ở trường Đại học Y Dược Cần Thơ về Tìnhhình stress và nhu cầu tư vấn tâm lý năm 2019-2020 cho thấy tỷ lệ stresscủa sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ chiếm 69,5% Trong đó,stress mức độ nhẹ chiếm 51,5%, vừa chiếm 14,7% và nặng chiếm 3,3% Tỷ
lệ sinh viên có nhu cầu cần được tư vấn tâm lý chiếm 78,4% [5] Nghiêncứu này phần nào cho thấy, các tư vấn về tâm lý thật sự cần thiết với sinhviên nhóm ngành khoa học sức khỏe Tuy nhiên, tác giả cho rằng hoạt động
tư vấn tâm lý cho sinh viên ở các trường đại học tại nước ta hiện nay chưathực sự phát triển và quan tâm đúng mức Chính vì vậy, cần tiến hànhnhiều hơn những nghiên cứu cụ thể về nhu cầu tư vấn tâm lý để từ đóhoạch định, tổ chức và thực hiện hoạt động tư vấn một cách hiệu quả nhất
Trang 19để giúp sinh viên vượt qua stress, nâng cao chất lượng học tập và cuộcsống.
là sinh viên ngành bác sĩ răng hàm mặt (47,4%), ngành bác sĩ đa khoa và
cử nhân xét nghiệm đều chiếm 37,8%, ngành cử nhân điều dưỡng chiếm34,3% và thấp nhất là sinh viên ngành bác sĩ y học dự phòng (18,6%) [9].Tác giả của nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên quan của stress với áp lựchọc tập, tình hình tài chính và mối quan hệ của sinh viên với gia đình, bạn
bè Từ đó đưa ra những khuyến nghị về phía gia đình, nhà trường và sinhviên nhằm giảm thiểu stress ở sinh viên
3.4.2 Trên thế giới:
Tại Brazil, nghiên cứu của Mautinho và các cộng sự năm 2017 thựchiện trên 761 sinh viên Y khoa đã chỉ ra 34.6% sinh viên có triệu chứngtrầm cảm (8.8% ở mức nghiêm trọng hoặc cực kỳ nghiêm trọng), 37.2% cótriệu chứng lo âu (12.2% nghiêm trọng hoặc cực kỳ nghiêm trọng) và47.1% có triệu chứng stress (17.4% nghiêm trọng hoặc cực kỳ nghiêmtrọng) Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảmcao ở sinh viên Y khoa, ngoài ra còn chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê đối với các học kỳ khác nhau của chương trình học và một số yếu tố liên
Trang 20quan như giới tính và tín ngưỡng Đối với các học kỳ khác nhau, sinh viên
ở học kỳ đầu tiên có xu hướng lo âu nhiều hơn các học kỳ sau đó (ngoại trừcác sinh viên năm cuối [21])
Tại Pakistan, một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 315 sinhviên từ năm 1 – năm 5 đang theo học tại trường Cao đẳng Y khoa Shifanăm 2021 đã cho thấy 53.3% sinh viên có triệu chứng stress Ngoài ranghiên cứu còn cho thấy 65.7% sinh viên bị stress do kỳ vọng ngày càngcao của cha mẹ, có mối tương quan thuận (p<0.05) giữa những căng thẳng
mà sinh viên Y khoa phải đối mặt với mối quan hệ của họ với gia đình.Học tập, thiếu thời gian giải trí hay kỳ vọng cao vào bản thân cũng là mộttrong những nguyên nhân chính dẫn đến stress ở sinh viên Y Khoa Từ kếtquả nghiên cứu, các tác giả đã nhấn mạnh sự cần thiết phải can thiệp kịpthời vào vấn đề stress ở sinh viên Y khoa và cũng đã đưa ra một số giảipháp như đào tạo các cố vấn để tư vấn cho sinh viên những biện pháp đốiphó và kiểm soát căng thẳng.[19]
3.5 Mô tả địa điểm, quần thể nghiên cứu:
● Địa điểm: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ có sứ mạng đào tạo nguồn nhânlực y tế trình độ đại học và sau đại học; nghiên cứu khoa học, ứng dụng vàchuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhândân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Giá trị cốt lõi: Tráchnhiệm – Chất lượng – Phát triển – Hội nhập Trải qua quá trình xây dựng
và phát triển, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã không ngừng củng cố
và vươn lên thực hiện tốt các nhiệm vụ của Đảng và nhà nước giao phó,nhân dân tín nhiệm trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và khámchữa bệnh Hiện nay Trường đã có 6 khoa đào tạo, 56 bộ môn, liên bộ môn
Trang 21trực thuộc khoa; 10 Phòng, ban, 04 Trung tâm, 01 đơn vị và 01 Bệnh việntrực thuộc Trường với 657 cán bộ viên chức, 446 giảng viên cơ hữu (02Giáo sư, 15 Phó giáo sư; 36 Tiến sĩ, 226 Thạc sỹ; 23 Chuyên khoa cấp II,
04 Chuyên khoa cấp I, và 140 đại học) Mỗi năm đều có một số sinh viêntốt nghiệp loại giỏi, khá tình nguyện ở lại Trường làm cán bộ giảng dạy.Công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế cho khu vực ngày được nâng cao
● Quần thể nghiên cứu: Sinh viên khối ngành Y Khoa trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2023
Sinh viên khối ngành Y khoa phải trải qua 6 năm đào tạo (Hệ Chínhquy), và 5 năm đào tạo (Hệ Liên thông) để trở thành một bác sĩ chính thức.Trong thời gian này, sinh viên sẽ được trang bị kiến thức chuyên môn, kỹnăng và thái độ hành nghề chuyên nghiệp để đảm nhiệm vai trò quan trọngtrong công tác chăm sóc sức khỏe cho công động Sinh viên khối ngành ykhoa là những người phải có tố chất: Trí tuệ; chăm chỉ; kiên trì; sẵn sàng
hy sinh các thú vui cá nhân để dành thời gian trau dồi thêm kiến thức, kinhnghiệm; sức khỏe tốt và chi phí tài chính lớn để duy trì việc học lâu dài
4 Sơ đồ biến số, biến số:
Trang 22Stress Phân loại stress Bình thường
NhẹVừaNặng
Bộ câu hỏi DASS-21