1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch thuật và phân tích những vấn đề gặp phải trong dịch thuật từ đó bình luận, nêu ý kiến cá nhân và đưa ra hướng giải quyết

28 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dịch Thuật Và Phân Tích Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Dịch Thuật. Từ Đó Bình Luận, Nêu Ý Kiến Cá Nhân Và Đưa Ra Hướng Giải Quyết
Tác giả Nguyễn Hồ Hải Yến, Doanh Thị Kim Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng, Tống Kim Hân, Tăng Nguyên Khoa, Nguyễn Thới Kim Ngân
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Lam Anh
Trường học Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Biên phiên dịch
Thể loại Báo cáo cuối kỳ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 684,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ DỊCH THUẬTNGUYÊN NHÂN Trang 5 Khó xác định chủ ngữ trong câu.Ví dụ:解雇理由は、間違えるとすぐ怒る、怖い、勉強がつまらなくなった、 だった。- Trong tiếng Nhật, chủ ngữ của câu có thể bị lược bỏ để làm cho câu văn ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NHẬT BẢN HỌC

– -& -—

BÁO CÁO CUỐI KỲ

MÔN: BIÊN PHIÊN DỊCH GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Nguyễn Thị Lam Anh

ĐỀ TÀI:

DỊCH THUẬT VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ GẶP PHẢI TRONG DỊCH THUẬT TỪ ĐÓ BÌNH LUẬN, NÊU Ý KIẾN CÁ NHÂN VÀ ĐƯA RA HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 7

Tăng Nguyên Khoa Nguyễn Thới Kim Ngân

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: DỊCH VIẾT NHẬT - VIỆT 2

I Bài dịch số 1 2

II Bài dịch số 2 5

III Bài dịch số 3 9

IV Bài dịch số 4 15

CHƯƠNG II: DỊCH VIẾT VIỆT – NHẬT 18

I Bài dịch số 1 18

II Bài dịch số 2 20

III Bài dịch số 3 22

IV Bài dịch số 4 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

CHƯƠNG I: DỊCH VIẾT NHẬT - VIỆT

I Bài dịch số 1

1 Dịch thuật

先日、ついに仕事を解雇されてしまった。といっても、勤めている学校の仕事ではなく、息子の家庭教師だ。解雇理由は、間違えるとすぐ怒る、怖い、勉強がつまらなくなった、だった。そう言われてみると、確かに厳しく 言い過ぎたような気もする。食事の用意をしながら聞いていた妻も息子の味方だった。

職を失い、残ったのは悪評だけだった。

40人の子供がいる学校の教室には、言ったことをすぐ理解する子供もいれば、何度言ってもわからない子供もいる。それ以前に聞く気がない子供も少なくない。100%の子供が100%理解できるなんて、もともと思っていない。

10年以上そんな毎日を過してきたので、自分なりにいいと思う子供たちへの接し方があるつもりでいたが、相手が自分の子供となると、どうも違う。我慢できず、つい「えっ!」とか「これも知らないのか!」と言ってしまう。「やばい」と思ったときはすでに遅く、次に決まって言われるのが「何で勉強しなければならないか?」である。私は、これにはほんとうに困るのだ。

実に難しい質問で、相手が高校生や大学生なら納得させる答えもあろうが、小学生相手にはかなりの難問である。教育の原点に帰る問題だからだ。 私自身も学校の先生や親から「なるほど、そうだったのか」と思うような答えを聞いたことがない。そして、実は今もよくわからない。私は、教師はみな、この質問を避けることに一生懸命なのではないかと思う。

Trang 4

Bản dịch:

Ngày hôm trước, cuối cùng tôi cũng bị đuổi việc Cho dù vậy, nhưng đó không phải là việc ở trường mà là việc gia sư cho con trai của tôi Lý do nghỉ việc là khi con tôi mắc lỗi, tôi đã nổi giận, đứa con tôi cảm thấy sợ hãi và chán ghét việc học Khi bị nói như vậy, tôi cảm thấy mình hơi quá lời Vợ tôi, người vừa chuẩn bị bữa ăn, vừa nghe câu chuyện cũng đứng về phía con trai tôi

Việc thì cũng đã mất rồi, điều còn lại chỉ còn lại những lời phê phán Trong một lớp học ở trường có 40 em học sinh, cũng có những học sinh mà có thể hiểu những điều tôi nói ngay lập tức, cũng có những học sinh dù nói bao nhiêu lần thì cũng không hiểu Trước đây, cũng có không ít học sinh không có tâm thế tiếp thu bài Vốn dĩ tôi cũng không nghĩ rằng 100% học sinh có thể hiểu hết 100% được

Hơn 10 năm tôi đã trải qua những chuyện như thế mỗi ngày, tôi tự cho rằng cách tiếp cận tốt theo cách riêng của mình với những học sinh, nhưng nếu những học sinh đó là con của mình thì là một câu chuyện khác Khi không chịu được nữa, tôi đã nói

là " Ủa, cái này mà cũng không biết hả?" Khi biết mình lỡ lời thì đã muộn Tiếp theo nhất định tôi sẽ bị chất vấn là tại sao phải học Điều đó thực sự khiến tôi bối rối

Thực sự đây là câu hỏi khó, nếu đối tượng dạy học là học sinh cấp ba hoặc sinh viên đại học thì có cách trả lời mà cho học sinh có thể hiểu được, nhưng với học sinh tiểu học thì khá là nan giải Đây chính là vấn đề mà chúng ta phải quay lại điểm mấu chốt của giáo dục Tôi cũng chưa từng nghe từ bố mẹ hay là giáo viên ở trường học câu trả lời khiến tôi vỡ lẽ ra là "À hoá ra là như vậy" Thực sự thì ngay cả bây giờ tôi cũng không hiểu Phải chăng là giáo viên đang né tránh những câu hỏi này

2 Vấn đề gặp phải khi dịch thuật và hướng giải quyết

VẤN ĐỀ DỊCH

HƯỚNG GIẢI QUYẾT/

Ý KIẾN - BÌNH LUẬN

Trang 5

- Trong tiếng Nhật, chủ ngữ của câu

có thể bị lược bỏ để làm cho câu văn ngắn gọn

- Ở trong câu ví dụ này, do chủ ngữ trong câu không đồng nhất, mà chúng tách biệt với nhau Có 2 đối tượng với những hành động đan xen vào nhau (người bố và đứa con) khiến cho người dịch khó xác định được chủ ngữ

Đọc kĩ đoạn văn để xem xét rõ đối tượng, bối cảnh được nêu trong bài Đối chiếu với các chủ ngữ được tác giả đề cập ở các câu trên để tìm chủ ngữ

Không hiểu được

rõ nghĩa của câu

sự khiến tôi bối rối.”

Khi hiểu được tình huống: sau đó tôi sẽ bị hỏi ngược lại là “thế tại sao phải học?”

Trang 6

II Bài dịch số 2

1 Dịch thuật

今日、地球的規模の気候変動に直面する人類社会は、人為的な原因による「第六の生命大量絶滅の危機」に瀕しているとも言われている。地球環境と人類文明の持続可能性を実現するために、我々は今、何をすべきなのだろうか。

人類社会においては、21世紀の今日においてもなお、各地で紛争が続いている。これらの紛争の背景には、宗教に基づく価値観の違いがあると言えよう。

「宗教」を意味する英語 ‘religion' は、「結びつける」‘to bind’ を意味するラテン語の ‘religare' に由来すると言われている。各宗教は、その宗教を信仰する人々を、一つの民族ないしは集団として束ね、団結させる という役割を果たしてきたのである。その信仰の結束力が強ければ強いほど、 同じ信徒同士の絆(きずな)は強まることだろう。だが、そのことによって、異なる信仰を(いただ) 戴く人々に対する排他 (はいた)性も強まろう。

宗教や文化の多様性は尊重されるべきである。豊かな生態系が生物多様性に満ちているように、宗教や文化の多様性は、人類社会に精神的な豊 かさをもたらしてくれるからである。しかしながら、宗教的価値観の「違い」 が、人類社会に様々な対立と紛争をもたらしているとするならば、環境問題、人口問題、過激思想とテロリズムをはじめとする地球的規模の危機に直面する 今日、我々は宗教的価値観の「違い」ではなく、むしろその「共通性」に目を向けるべきなのではなかろうか。

世界の諸宗教は、他者に親切にせよという「黄金律」を説き、人々に道徳的な向上をうながして、個人と社会の幸福の実現を目指してきた。

Trang 7

今日、人類社会は、国家、宗教、文明といった枠組みで互いのエゴをぶつけあうのではなく、互いの精神性における共通性に目を向け、人類社会と地球環境の「持続的な調和」を実現すべき時を迎えている。宗教や文化の多様性を尊重しつつも、諸宗教に通底する徳目、すなわち「利他主義」を「地球倫理」として共有し、共感と思いやりの輪を広げていくことが21世紀の重要な課題なのである。

Bản dịch:

Ngày nay, chúng ta vẫn biết rằng xã hội loài người đang đối mặt trực tiếp với tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, được cho là đang trên bờ vực tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu bởi nguyên nhân từ con người Để hiện thực hoá khả năng duy trì nền văn minh của loài người và môi trường trái đất thì mỗi chúng ta bây giờ nên làm gì?

Ở thế kỷ 21 ngày nay, trong xã hội loài người, sự xung đột giữa các vùng vẫn đang tiếp tục diễn ra Có thể nói rằng, bối cảnh này là có sự khác biệt về các giá trị quan của tôn giáo

Người ta nói rằng từ “religion” trong tiếng anh có nghĩa là “tôn giáo”, (xuất phát từ) có nguồn gốc từ chữ “religare” trong tiếng Latinh có nghĩa là to bind là kết nối Mỗi tôn giáo thì (đóng vai trò) đảm nhận nhiệm vụ là gắn kết những người tin vào tôn giáo đó, kết nối họ với tư cách là một dân tộc hoặc một tập thể Sự đoàn kết của đức tin

đó càng mạnh mẽ thì mối liên kết giữa những tín hữu sẽ càng bền chặt hơn Tuy nhiên,

vì lý do đó mà sự bài trừ đối với những người theo tôn giáo khác cũng sẽ mạnh mẽ lên

Cần phải tôn trọng sự đa dạng về tôn giáo và văn hóa Bởi vì, tương tự như một hệ sinh thái phong phú chứa đầy sự đa dạng sinh học thì sự đa dạng của tôn giáo và văn hóa mang lại sự phong phú về tinh thần cho xã hội loài người Tuy nhiên, nếu “sự khác biệt” về các giá trị quan tôn giáo đang gây ra nhiều sự đối lập và tranh chấp trong

xã hội loài người thì con người chúng ta ngày nay đang đối mặt với những cuộc khủng hoảng toàn cầu bao gồm các vấn đề về môi trường, vấn đề dân số, chủ nghĩa cực đoan

Trang 8

(tư tưởng quá khích) và khủng bố, thay vì tập trung vào “sự khác biệt” về các giá trị quan tôn giáo, có lẽ chúng ta nên tập trung vào “điểm chung” giữa các tôn giáo thì hơn

Các tôn giáo trên khắp thế giới rao giảng “Quy tắc vàng”, kêu gọi mọi người

cư xử tử tế với người khác, sự tiến bộ về mặt đạo đức ở con người, hướng đến việc làm cho cá nhân và xã hội hạnh phúc Ngày nay (thời đại bây giờ) chúng ta đang chào đón thời kì mà thay vì xung đột cái tôi cá nhân trong khuôn khổ các quốc gia, tôn giáo và nền văn minh, xã hội loài người đang hướng đến những điểm chung trong đời sống tinh thần

và nỗ lực vì “sự ôn hoà bền vững” giữa xã hội loài người và môi trường toàn cầu

Trong khi vẫn tiếp tục tôn trọng sự đa dạng tôn giáo và văn hóa, chia sẻ chủ nghĩa vị tha như là giá trị đạo đức toàn cầu mà giá trị đạo đức đó được xem là giá trị cốt lõi của các tôn giáo, việc lan tỏa sự đồng cảm và sự quan tâm với mọi người xung quanh

là điều quan trọng của thế kỷ 21

2 Vấn đề gặp phải khi dịch thuật và hướng giải quyết

VẤN ĐỀ DỊCH

HƯỚNG GIẢI QUYẾT/

Có những từ có thể nhìn từ chữ Hán mà đoán được nghĩa, rút ngắn được thời gian tra cứu từ vựng ví dụ như 気 候 変 動 (Khí Hậu Biến Động) nghĩa là biến đổi khí hậu, 過 激 思 想 (Quá khích tư tưởng) nghĩa là tư tưởng cực đoan,

Trang 9

Còn những từ còn lại không biết thì không còn cách nào khác là phải tra nghĩa để có thể dịch được chính xác.

Có những từ tiếng

Anh không biết

nên để nguyên như

Dịch nghĩa từ đầu tới cuối,

và đọc lại ý nghĩa, sau đó ghép thành câu hoàn chỉnh cho phù hợp, thay đổi cấu trúc một chút cũng không sao

Trang 10

Dịch nghĩa từ đầu tới cuối,

và đọc lại ý nghĩa, sau đó ghép thành câu hoàn chỉnh cho phù hợp, thay đổi cấu trúc một chút cũng không sao

Tra cứu trên Internet ý nghĩa của cụm từ, ví dụ “ Quy tắc

vàng” là : “Bất cứ điều gì

bạn muốn người khác làm cho bạn, cũng hãy làm cho

họ, vì ấy là Luật pháp và Lời tiên tri.” 1

(Nguồn:https://www.gotquestions.org )

III Bài dịch số 3

1 Dịch thuật

1https://www.gotquestions.org

Trang 11

「東洋の奇跡」と呼ばれた。

この二つの時期において経済成長を大きく推進したのが、民間企業である。企業家精神にあふれた多くの経営者に率いられた企業が、経営努力を積み重ね、国際競争に耐えられるだけ企業を作り上げた。本論文では、それぞれの時代を代表する経営者を取り上げ、その経営哲学を紹介し、それが日本の資本主義発展のプロセスにおいて果たした役割について論じていく。明治期の経営者としては、日本の資本主義の黎明期を先導した多くの企業の創設・運営

を、戦後の高度経済成長期を代表する経営者としては、小さな町工場から出発

Trang 12

この両者は、ともに優れた経営者であることは間違いないが、本論文でこの二人を取り上げるのはそれだけの理由ではない。それはこの両者の経営哲学において、経済における道徳的要素が非常に重要視されており、それが実際の事業活動においても実践されていることである。両者ともに多くの経済人から尊敬され、その経営哲学に共鳴する人々は少なくない。また、それぞれの著書は死後も数多く出版され、現在もなおよく読まれている。両者の経営哲学には共通する部分が非常に多く、日本の経済発展を支えたその精神は、これ

Bản dịch:

Nhật Bản đã trải qua hai giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt trong quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa Lần thứ nhất là thời kỳ hiện đại hóa sau thời kỳ duy tân minh trị năm 1868, từ thời kì Minh trị đến thời Taisho, từ thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 Thời kì này, Nhật Bản thoát ra khỏi hệ thống biệt lập do Mạc phủ Tokugawa áp đặt, đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa với khẩu hiệu “phú quốc cường bình” để bắt kịp với các nước phát triển Kết quả là trước chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã đạt được hiện đại hoá đầu tiên ngoài Châu Âu, Châu Mỹ và các nước theo Thiên Chúa giáo

Thời kỳ tăng trưởng thứ hai là thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao độ từ những năm 1950 đến những năm 1970 sau thất bại trong Thế chiến thứ hai Sau khi thua ở Thế chiến thứ hai, Nhật Bản mất đi các thuộc địa ở nước ngoài và không thể tránh khỏi việc bắt đầu lại từ một tình trạng khắc nghiệt, nhiều thiết bị sản xuất trong nước bị hư hại Tuy nhiên, sau khi trải qua tình trạng hỗn loạn kinh tế nhất thời sau chiến tranh, Nhật Bản bắt đầu cho thấy sự phục hồi kinh tế nhanh chóng từ thập niên 1950, được sự hỗ trợ bởi nhu cầu đặc biệt trong Chiến tranh Triều Tiên Trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao từ 1955 đến 1973, Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đầu năm trên 10%, năm 1968 đã vượt qua Tây Đức khi đó và trở thành cường

Trang 13

quốc kinh tế lớn thứ hai sau Hoa Kỳ Sự tăng trưởng kinh tế thần kì này được gọi là “Điều kỳ diệu của phương Đông”

Thứ xúc tiến mạnh thời kỳ tăng trưởng kinh tế trong hai thời kỳ đó là các công ty tư nhân Các công ty được lãnh đạo bởi các nhà kinh doanh lớn mà tràn đầy tinh thần kinh doanh

đã tích lũy nỗ lực kinh doanh, có thể chịu đựng sự cạnh tranh quốc tế Trong luận văn này, chúng tôi sẽ bàn về những doanh nhân đại diện cho các thời kỳ, giới thiệu các triết lý quản lý của họ, vai trò đạt đã được trong quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa của Nhật Bản

Eiichi Shibusawa (1840-1931), là nhà quản lý trong thời Minh Trị, được mệnh danh

là “cha đẻ của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản”, liên quan đến việc thành lập và quản lý nhiều doanh nghiệp, chỉ đạo cho thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản, Konosuke Matsushita (1894-1989), nhà sản xuất máy móc sử dụng điện tổng hợp nổi tiếng thế giới là Panasonic ngày nay, nhà máy xuất phát từ nhà máy ở một thị trấn nhỏ, với tư cách là doanh nhân đại diện tiêu biểu cho thời kỳ tăng trưởng kinh tế

Việc cả hai người đều là những nhà quản lý xuất sắc là điều không hề sai, nhưng đó không chỉ là lý do khiến tôi tập trung vào họ trong bài viết này Nguyên nhân là do triết lý quản

lý của cả hai công ty đều rất coi trọng yếu tố đạo đức trong kinh tế và điều này cũng được áp dụng vào thực tế hoạt động kinh doanh Cả hai công ty đều được nhiều doanh nhân kính trọng

và nhiều người đồng cảm với triết lý quản lý của họ Ngoài ra, nhiều cuốn sách của họ đã được xuất bản sau khi họ qua đời và vẫn được đọc rộng rãi cho đến ngày nay Có nhiều điểm tương đồng trong triết lý quản lý của cả hai và tôi tin rằng tinh thần hỗ trợ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản sẽ có tính tham khảo rất lớn đối với nhiều quốc gia có mục tiêu phát triển kinh tế trong tương lai

2 Vấn đề gặp phải khi dịch thuật và hướng giải quyết

KIẾN - BÌNH LUẬN

Trang 14

Câu văn dài, dù là cấu trúc

của một câu, nhưng độ dài

- Tác giả muốn ghép thêm nhiều thành phần

bổ ngữ trong câu để cho người đọc có thể hiểu rõ ý tác giả

- Tách câu thành các vế nhỏ, trước hết phải xác định đúng chủ ngữ, động từ chính trong câu sau

đó mới dịch các thành phần bổ ngữ để tránh nhầm lẫn

- Tuy câu cú trong văn bản này khá dài, nhưng tác giả cũng đã phân chia các vế một cách logic, nên nếu nắm được các thành phần chính của câu thì đoạn văn cũng dễ dịch hơn so với các bài trước

- Sắp xếp thứ tự các vế câu thật phù hợp sao cho bản dịch có thể

dễ hiểu

- Dùng các dấu phẩy hoặc gạch ngang, để tránh lẫn lộn giữa các chủ ngữ phụ trong câu

Trang 15

phiên âm tên sao cho chính

xác Không biết nên đặt vị

trí tên/họ trước sau như thế

nào

Ví dụ: 松下幸之助; 渋沢

栄一

- Do sự đa dạng trong họ của người Nhật

- Mặt khác, cùng một chữ Hán có nhiều cách phiên âm khác nhau, do đó cũng có sự phong phú về cách đọc tên của người Nhật

- Đối với các nhân vật lịch sử

có thật, nổi tiếng, có thể tham khảo trong các tài liệu chính xác

có đề cập đến tên của họ để phiên

âm cho chính xác Không nên tự suy đoán cách phát âm và ghi vào bản dịch

- Theo thông báo của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, cách gọi tên riêng người Nhật theo thứ tự

họ trước, tên sau sẽ được sử dụng thống nhất trong tất cả các

Trang 16

văn bản chính thức Vì vậy, chúng ta cũng tuân thủ theo nguyên tắc này để biên dịch sao cho phù hợp.

IV Bài dịch số 4

1 Dịch thuật

八ヶ岳の大きなのびのびとした代赭色の裾野がようやくその勾配をゆるめようとするところに、サナトリウムは、いくつかの側翼を並行に拡げながら、南を向いて立っていた。その裾野の傾斜は更に延びて行って、二三の小さな山村を村全体傾かせながら、最後に無数の黒い松にすっかり包まれながら、見えない谿間のなかに尽きていた。

サナトリウムの南に開いたバルコンからは、それらの傾いた村とその赤茶けた耕作地が一帯に見渡され、更にそれらを取り囲みながら果てしなく並み立っている松林の上に、よく晴れている日だったならば、南から西にかけて、南アルプスとその二三の支脈とが、いつも自分自身で湧き上らせた雲のなかに見え隠れしていた。

一面の雪の凍りつく音が地の底深く鳴っているような、厳しい夜景

さで落ちつつあると思われるほど、あざやかに浮き出ていた。星の群が目へ近づいて来るにつれて、空はいよいよ遠く夜の色を深めた。国境の山々はもう重

星空の裾に重みを垂れていた。すべて冴え静まった調和であった。

Trang 17

Bản dịch:

Tọa lạc nơi triền núi có độ dốc thoải dần, ở phần chân của cụm Yatsugatake mênh mông trải rộng màu hoàng thổ, viện an dưỡng quay mặt về hướng nam, với các mặt tòa nhà cùng có những mái hiên song song tỏa rộng Sườn dốc vùng chân núi còn tiếp tục trải dài, đổ nghiêng qua hết phần lãnh thổ của vài ba sơn thôn nhỏ bé, rồi cuối cùng chấm dứt trong miền thung lũng bị che khuất hoàn toàn bởi vô số những cây thông đen sẫm bao bọc khắp xung quanh

Từ ban công hướng nam của viện an dưỡng, có thể nhìn toàn cảnh những sơn thôn trên sườn nghiêng như thế, cùng với vùng đất canh tác màu vàng nâu; và nếu gặp những ngày thật quang đãng, thì phía trên cánh rừng thông bao quanh nơi ấy – như trải ra vô tan với những thân cây mọc san sát bên nhau – từ phía nam kéo dài sang phía tây là rặng núi Alps Nam cùng vài ba nhánh núi của nó, ẩn hiện thấp thoáng giữa những đám mây cứ luôn tự đùn lên

Cảnh trời đêm lạnh giá như vang đến tận đáy đất sâu tiếng tuyết đang đông cứng thành băng phủ khắp trên mặt đất Đêm không trăng Khi ngước nhìn lên bầu trời nhiều sao đến khó tin thì thấy những ngôi sao hiện ra sáng rực, đến mức khiến người ta cảm thấy như chúng đang rơi mãi với tốc độ nhanh phi thực tế Những ngôi sao càng tiến đến gần mắt người quan sát thì bầu trời lại càng chìm sâu hơn trong màu sắc của màn đêm xa thẳm Không còn phân biệt được từng ngọn trong dãy núi trùng điệp nằm ở vùng ranh giới, giờ chỉ còn thấy một màu đen nhờ nhờ giúp người ta áng chừng mức độ trải rộng của ngọn núi mà thôi, nên chân trời đầy sao đang trĩu nặng một vùng núi màu đen rũ xuống Tất cả đều hài hòa trong lặng yên giá lạnh

Nhưng rồi những ngọn núi màu đen không rõ vì sự bột phát nào lúc ấy mà trông như sáng lên màu tuyết trắng tinh khôi, do vậy mà có cảm giác như dãy núi trong suốt và cô quạnh

2 Vấn đề gặp phải khi dịch thuật và hướng giải quyết

VẤN ĐỀ DỊCH THUẬT NGUYÊN NHÂN QUYẾT/ Ý KIẾN HƯỚNG GIẢI

- BÌNH LUẬN

Ngày đăng: 03/01/2024, 15:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm