Ngân hàng trung ương giám sát hoạt động của các ngân hàng, điều hành vĩ mô thị trường tiền tệ thông qua các công cụ chủ yếu là nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, tỷ lệ dự tr
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG - PHÂN VIỆN BẮC NINH
-BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Nhóm 7 Tìm hiểu về vị trí pháp lý và mô hình tổ chức của NHTW hiện đại
tại một số quốc gia.
Bắc Ninh, ngày 15 tháng 11 năm 2023
Giảng viên hỗ trợ: Vương Thị Minh Đức
Sinh viên thực hiện: Đặng Hồng Phượng 25A4012725
Nguyễn Thùy Dương 25A4012666 Nguyễn Thị Hương 25A4012688 Bùi Ngọc Mai 25A4012702
Trang 2MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng Nếu trong nền kinh tế hàng hoá, thị trường nói chung là tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh thì trong nền kinh tế thị trường giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, tiền tệ - vốn ngày càng trở nên quan trọng
Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có rất nhiều chủ thể với những mục đích khác nhau: Chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể kiểm soát hoạt động của thị trường Trong đó Ngân hàng trung ương là chủ thể quan trọng trên thị trường tiền tệ Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết
để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, tương ứng với mục tiêu của chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương giám sát hoạt động của các ngân hàng, điều hành vĩ mô thị trường tiền
tệ thông qua các công cụ chủ yếu là nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, kiểm soát hạn mức tín dụng, quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại… làm cho chính sách tiền tệ luôn được thực hiện theo đúng mục tiêu của
nó
Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em sẽ trình bày những kiến thức cơ bản về NHTW; vị trí pháp lý và mô hình tổ chức của NHTW Canada; từ đó đưa ra đề xuất, giải pháp đối với NHNN Việt Nam
Vì kiến thức còn hạn hẹp nên dù nhóm chúng em đã cố gắng hết mức để hoàn thành nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của cô Vương Thị Minh Đức – Giảng viên hướng dẫn môn Lý thuyết Tài chính – Tiền tệcùng với mọi người để bài tiểu luận có thể hoàn chỉnh hơn, đồng thời cũng giúp nhóm chúng tôi có thêm kinh nghiệm cho những bài tiểu luận sau
Xin chân thành cảm ơn!
TẬP THỂ NHÓM 7
Trang 3Phần 1: Trình bày các cơ sở lý thuyết về vị trí pháp lý, mô hình tổ chức và tính độc lập
của NHTW
I Giới thiệu chung về NHTW
1 Ngân hàng trung ương là gì?
Là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền trung ương, là ngân hàng của các ngân hàng ngân hàng của Chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý Nhà nước về hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu phát triển và ổn định của cộng đồng
2 Lịch sử ra đời
- Trong thời kỳ đầu hoạt động, các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệp vụ: nhận tiền gửi và cho vay, phát hành giấy bạc ngân hàng vào trong lưu thông, thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền, đổi tiền
- Từ thế kỷ 18, nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào hoạt động của hệthống ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành giấybạc của mình vào lưu thông
- Đến thế kỷ 19, ở các nước có xu hướng ra đời các đạo luật chỉ cho phép một ngânhàng duy nhất phát hành tiền còn các ngân hàng khác chỉ thuần túy kinh doanh tiền tệ vàcác dịch vụ ngân hàng ở Anh năm 1844, nhà nước cấm các ngân hàng tư nhân phát hànhtiền và toàn bộ nghiệp vụ phát hành tiền được tập trung vào Anh quốc ngân hàng Ngânhàng cổ phần tư nhân Pháp thành lập năm 1800, đến năm 1803 được độc quyền phát hànhgiấy bạc ở Paris đến năm 1948 độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng trên toàn nướcPháp
- Đầu thế kỷ 20, ở các nước ngân hàng được phép phát hành tiền đều thuộc sở hữu
tư nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp vào hoạt động kinh tế thông qua tác độngcủa tiền tệ Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 – 1933, các nước tiến hànhquốc hữu hóa hoặc thành lập ngân hàng phát hành thuộc sở hữu Nhà nước nhằm nắm trọnquyền phát hành tiền tệ để qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô Canada: quốchữu hóa ngân hàng phát hành năm 1938; Đức: 1939; Pháp: 1945; Anh: 1946 từ đó kháiniệm Ngân hàng Trung ương được sử dụng thay thế cho khái niệm ngân hàng phát hành
Trang 4- Sự khác nhau và giống nhau giữa ngân hàng phát hành và NHTW?
+ Giống: cùng được phát hành tiền vào lưu thông
+ Khác: NHTW không chỉ phát hành tiền vào lưu thông mà còn thực hiện chứcnăng quản lý về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng
Thực tế: một số nước NHTW không hoàn toàn thuộc sở hữu của Nhà nước nhưng hoạtđộng vẫn mang tính chất của một Ngân hàng Nhà nước Ví dụ minh họa: NHTW NhậtBản là ngân hàng cổ phần theo luật năm 1942 trong đó cổ phần Nhà nước chiếm 55%, cổphần tư nhân chiếm 45%; ở Mỹ, hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư nhân
II Vị trí pháp lý của NHTW
Vị trí pháp lý của Ngân hàng Trung ương (NHTW) có thể khác nhau đối với từng quốcgia, vì mỗi quốc gia có hệ thống tài chính và hệ thống ngân hàng riêng Dưới đây là một
số thông tin tổng quan về vị trí pháp lý của các Ngân hàng Trung ương:
1 Độc lập: Trong nhiều quốc gia, Ngân hàng Trung ương được thiết lập như một tổ chức độc lập với chính quyền nhằm đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ Điều này
có nghĩa là Ngân hàng Trung ương không phụ thuộc vào sự can thiệp của chính trị và có thể đưa ra quyết định độc lập về lãi suất, chính sách tiền tệ và quản lý nền kinh tế
2 Quyền phát hành tiền tệ: Một trong những chức năng quan trọng của Ngân hàng Trung ương là quyền phát hành và quản lý tiền tệ trong quốc gia Quyền này thường đượccấp cho Ngân hàng Trung ương thông qua luật pháp hoặc hiến pháp của quốc gia Ngân hàng Trung ương có thể in tiền, điều chỉnh lưu thông tiền mặt và quản lý các dự trữ ngoạitệ
3 Chính sách tiền tệ: Ngân hàng Trung ương có trách nhiệm định rõ chính sách tiền
tệ của quốc gia Điều này bao gồm quyết định về lãi suất, kiểm soát lạm phát, quản lý thông qua các biện pháp chính sách tiền tệ như mua bán trái phiếu chính phủ, thay đổi tỷ giá và ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại
4 Quản lý hệ thống ngân hàng: Ngân hàng Trung ương thường có trách nhiệm giám sát và quản lý hệ thống ngân hàng trong quốc gia Điều này bao gồm việc đảm bảo tính
ổn định tài chính, xem xét và cấp phép cho các ngân hàng hoạt động, thi hành các quy định liên quan đến an toàn ngân hàng và giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính khác
Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể có cách tổ chức và pháp lý riêng cho Ngân hàng Trung ương của mình Vì vậy, để hiểu rõ hơn về vị trí pháp lý cụ thể của Ngân hàng Trung ương, việc tham khảo luật pháp và quy định của quốc gia đó là cần thiết
Trang 5III Mô hình tổ chức và tính độc lập của NHTW
1.1 Ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội và độc lập với Chính phủ
Hình 1: Mô hình NHTW trực thuộc Quốc hội, độc lập với Chính phủ
Theo mô hình này, NHTW không nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ, không chịu
sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW mặc dù ban lãnh đạo của ngân hàng do Tổng thống hay Thủ tướng bổ nhiệm Chính quyền không được phế truất thống đốc Điển hình cho mô hình này là NHTW ở các nước như Hoa Kỳ, Đức, Nga
Việc quy định NHTW độc lập với Chính phủ bởi NHTW là cơ quan quản lý, điều tiết tiền tệ và phát hành tiền, hoạt động của nó tác động trực tiếp tới sự phát triển của nền kinh tế, nếu xác định vị trí pháp lý của nó thuộc Chính phủ thì không có gì bảo đảm rằng mọi quyết sách của Chính phủ về tiền tệ sẽ phù hợp với chủ trương, giải pháp của NHTW
và phù hợp với nhu cầu thực tiễn của thị trường tiền tệ Hơn nữa, nếu NHTW thuộc Chính phủ khi có thâm hụt tài chính ngân sách, việc phát hành tiền quá giới hạn và khôngphụ thuộc vào quy luật lưu thông tiền tệ dễ xảy ra, gây ra tình trạng lạm phát, ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế và đời sống của nhân dân Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc trao cho NHTW vị trí pháp lý độc lập là vô cùng cần thiết, là yếu tố
Trang 6then chốt để đảm bảo tính hiệu quả trong điều hành CSTTQG ở mỗi nước.
Ở Hoa Kỳ, năm 1908 Đạo luật Aldrich - Vreeland được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đã xác định rõ sự cần thiết phải quy định hệ thống ngân hàng độc lập với Chính phủ Sau đó,năm 1913, Đạo luật về Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ khẳng định NHTW Hoa Kỳ (Cục
Dự trữ liên bang Hoa Kỳ - FED) có vị trí độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội, độc lập trong việc quyết định cung ứng tiền tệ và thực hiện CSTTQG
Theo đạo luật này, cơ quan lãnh đạo cao nhất của FED là Hội đồng Thống đốc, người điều hành FED là Chủ tịch Hội đồng gồm 7 thành viên, do Tổng thống bổ nhiệm, với sự tham vấn và đồng thuận của Thượng viện (Phần 10, Điều 1), là cơ quan quyền lực đối vớihoạt động của NHTW, mọi quyết định đều được thông qua một cách dân chủ, đa số, tránh
tình trạng lạm quyền Không một nghị sỹ nào trong Quốc hội được là thành viên của Hội
đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ liên bang hoặc là cán bộ hay là Giám đốc của Ngânhàng Dự trữ liên bang (Phần 4 Điều 13) Hội đồng Thống đốc hoạt động theo quy chế độclập, là cơ quan chịu trách nhiệm trước Quốc hội Mỹ (Phần 2B, Khoản a), có nhiệm vụ điều hòa tiền tệ, tín dụng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Mỹ với mục đích đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền USD và sự tăng trưởng kinh tế, có thẩm quyền quy định mức chiết khấu, mức dự trữ tối thiểu, điều hòa chính sách thị trường mở, quyết định quy chế hoạt động của các ngân hàng dự trữ liên bang và các ngân hàng thành viên hệ thống
dự trữ liên bang, giám sát hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung
Có thể nói, mô hình NHTW trực thuộc Quốc hội thường được thiết lập ở những nước
có nền kinh tế phát triển và CSTTQG được coi là động lực của mọi sự phát triển Để đảmbảo tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của NHTW thì ngân hàng này phải có vị trí pháp lý độc lập, tức là mối quan hệ giữa NHTW với Quốc hội và Chính phủ phải được làm rõ và tính độc lập, tự chủ phải được đề cao Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Ban lãnh đạo NHTW có quyền tự quyết, chứ không phải là quyết định của Quốc hội hay Chính phủ Vị thế này được thể hiện rõ nét nhất trong việc xây dựng và thực hiện CSTTQG Đây là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô
Trang 7Phiếu học tập đáp ánTài chính
3
Trắc nghiệm tài chính tiền tệ
Tài chính
21
Trang 81.2 Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ
Hình 2 : Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ
Theo mô hình này, NHTW nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ, chịu sự điều hành trực tiếp của Chính phủ Chính phủ có quyền can thiệp rất lớn, không chỉ trên phương diện tổ chức, điều hành mà còn trong hoạt động thực hiện CSTTQG NHTW được ví nhưcông cụ của Chính phủ trong việc điều tiết giá trị đồng tiền và huy động các nguồn tài chính trong nền kinh tế Mô hình này được xác định dựa trên cơ sở: Chính phủ là cơ quanhành pháp, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế Do đó, Chính phủ phảinắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng nó một cách đồng bộ và phối hợp cáccông cụ nhằm vận hành nền kinh tế trôi chảy và hiệu quả, cũng là để thực thi tốt nhiệm
vụ của mình, mà thực chất là Chính phủ nắm NHTW và thông qua NHTW tác động đến CSTTQG Tiêu biểu cho mô hình này là NHTW ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam
1.3 Ngân hàng trung ương trực thuộc Bộ Tài chính ( mô hình ít phổ biến)
TCC Lý thuyết Full
đẻ học tâkp tốt hon…Tài chính
101
Trang 9Hình 3 : Mô hình NHTW trực thuộc Bộ Tài Chính
Đây là mô hình ít phổ biến, bởi lẽ hoạt động của NHTW phụ thuộc vào Bộ Tài chính,
dễ xảy ra khả năng sử dụng công cụ phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, gây ra tình trạng lạm phát cao trong nền kinh tế, ảnh hưởng trầm trọng tới đời sống của nhân dân Mô hình này đã tạo ra mâu thuẫn giữa một cơ quan thực hiện nhiệm vụ ngân sách với một cơ quan phát hành tiền và điều tiết lượng tiền cung ứng Mô hình đã từng được
áp dụng ở một số nước như Pháp, Anh, Malaysia… tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay nó
đã không còn tồn tại do những bất cập của nó
Vậy, hiện nay mô hình tổ chức NHTW trên thế giới chỉ còn được thể hiện dưới dạng thứnhất và thứ hai Mỗi mô hình đều có ưu điểm và hạn chế nhất định Với mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, NHTW có toàn quyền xây dựng và thực thi CSTTQG mà không
bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hay áp lực chính trị khác, trên cơ sở
đó có thể tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính Song bên cạnh đó, mô hình này cũng có điểm bất lợi ở chỗ khó có sự kết hợp hài hòa giữa CSTTQG (do NHTW thực hiện) và chính sách tài khóa (do Chính phủ chỉ đạo) để quản lý vĩ mô nền kinh tế một cách hiệu quả Tuy nhiên, có thể khẳng định đây là mô hình tổ chức hiện đại, phù hợp với vai trò của NHTW trong nền kinh tế thị trường
Ngược lại, mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ có ưu điểm nổi trội là Chính phủ có thể dễ dàng chỉ đạo và yêu cầu NHTW phối hợp CSTTQG với các chính sách kinh tế vĩ
mô khác nhằm đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả của tổng thể các chính sách kinh tế tài chính đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ Mô hình này được xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng, xây dựng kinh tế trong thời
kỳ tiền phát triển Tuy nhiên, mô hình cũng có hạn chế nhất định, NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện CSTTQG Việc xây dựng và thực thi CSTTQG có sự can thiệp chính trị thường chỉ đạt được những mục tiêu ngắn hạn Sự phụ thuộc vào Chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp
Trang 10phần tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, mô hình này có thể biến NHTW thành nơi phát hành tiền để bù đắp sự thâm hụt ngân sách nhà nước khiến cho hoạt động phát hành tiền khôngtuân thủ nguyên tắc và có thể dẫn đến lạm phát.
2 Tính độc lập của NHTW :
II.1 Quan điểm về tính độc lập
Tính độc lập của NHTW đuợc thể hiện thông qua việc NHTW Có được toàn quyền quyết định việc sử dụng các công cụ để thực thi CSTT hay không, chỉ rõ trách nhiệm, quyền hạn của NHTW và người đứng đầu NHTW trong việc điều hành chính sách nhằm đạt được các mục tiêu để ra
Ngay từ những năm 90 của thê kỷ XX, cụm từ “Tính độc lập của NHTW" đã được nhắc đến nhiều lần, và nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế Bởi lẽ, trong một nền kinh tế, nếu một NHTW có tính độc lập cao sẽ là nền tảng cho những cải cách về thể chế chính trị nhằm giảm thiểu, hoặc tránh sự ảnh hưởng, chi phối bất hợp lý của quyển lực chính trị đến quá trình thiết kế, hoạch định, và thực thi CSTT của NHTW,
từ đó mà NHTW có thể yên tâm, theo đuôi các mục tiêu CSTT trong dài hạn, đặc biệt là mục tiêu hàng đầu và quan trọng của CSTT là ổn định giá cả Ngược lại, một NHTW không có sự độc lập, hoặc tính độc lập thấp, nghĩa là việc xây dựng, thực thi CSTT có sự can thiệp của chính trị thường chỉ đạt được những mục tiêu ngắn hạn, làm gia tăng tính không bền vững của nến kinh tế vĩ mô, gây nguy cơ lạm phát cao, kìm hãm tăng trường kinh tế và làm gia tăng thất nghiệp
Theo King Banaian (2008) tính độc lập của NHTW thế hiện ở ba khía cạnh: (i) Độc lập về nhân sự
(ii) Độc lập về chính sách,
(iii) Độc lâp về tài chính
II.2 Đo lường tính độc lập
Đo lường tính độc lập dựa vào 2 chỉ số:
- Chỉ số độc lập pháp lý : được đo lường bởi chỉ số CWN index, đây là chỉ số bao
quát nhất được khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng Chỉ số CWN Có 4 thành phần: Thủ tục bổ nhiệm người đứng đầu NHTW: Biệm pháp giải quyết mâu thuẫn giữa NHTW và Chính phủ; Sử dụng mục tiêu chính rõ ràng, minh bạch, và Các quy định giới hạn cho vay Chính phủ Trong đó thành phần thứ nhất và thành phần thứ ba liên quan nhiều đến các hoạt động nội bộ của NHTW (các thủ tục và chính sách của NHTW), trongkhi đó thành phần thứ hai và thứ tư lại liên quan đến mối quan hệ giữa NHTW với Chính phủ (vấn để xung đột và quan hệ tài chính giữa hai bên)
- Chỉ số độc lập thực tế: Theo nghiên cứu của Radzyner and Riesinger (1997), chỉ
số độc lập thực tế được hình thành trên cơ sở các yếu tố: Tỷ lệ thay thế nhân viên trong
Trang 11NHTW (Turnover rate of central bankers); Nhân phẩm và uy tín (Personality and charisma) của các nhân viên; Xây dựng chính sách tài khóa và CSTT (The design of fiscal and monetary policies)
Phần 2: Thực trạng vị trí pháp lý và mô hình tổ chức của NHTW tại quốc gia lựa chọn
nghiên cứu và đánh giá thực trạng dưới góc nhìn đa chiều
I Giới thiệu chung về NHTW Canada
Ngân hàng trung ương Canada tiếng Anh là Bank of Canada, viết tắt là BOC
Ngân hàng trung ương Canada (BOC) được thành lập năm 1934 theo Đạo luật Ngân hàng Canada Đạo luật tuyên bố rằng Ngân hàng trung ương Canada được tạo ra để thúc đẩy phúc lợi kinh tế và tài chính của Canada BOC và Thống đốc của BOC chịu trách nhiệm thiết lập các chính sách tiền tệ, in tiền và xác định lãi suất của các ngân hàng Canada
Đặc điểm của Ngân hàng trung ương Canada:
- BOC có 4 lĩnh vực trách nhiệm chính: qui định chính sách tiền tệ (tức qui định việc cung ứng tiền lưu thông trong nền kinh tế Canada), tạo lập và quản lí tiền tệ thiết kế,
và phát hành tiền giấy, và quản lí quĩ BOC quản lí nợ công và dự trữ ngoại hối của chínhphủ Canada
- Thống đốc BOC chịu trách nhiệm cho nhiều chức năng của ngân hàng Thống đốc đầu tiên, Graham F Towers, đã hoạt động trong suốt 20 năm Thống đốc BOC do hội đồng quản trị bầu ra phục vụ nhiệm kì 7 năm Thống đốc Stephen Poloz đã giữ chức vụ này từ năm 2013 và là thống đốc thứ 9 của ngân hàng Các thành viên của hội đồng quản trị được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính Canada và phục vụ trong nhiệm kì 3 năm
- Thiết lập lãi suất là một trong những vai trò quan trọng nhất của BOC Khung chính sách tiền tệ của Canada được thiết kế để giữ lạm phát thấp và ổn định Lãi suất được thay đổi 8 lần/năm Trong năm 2007, lãi suất đã ở mức trên 4% trước khi được hạ xuống, theo thời gian, xuống còn 1% vào năm 2010 Tỉ lệ này đã bị cắt giảm hai lần trong năm 2015 xuống còn 0,5% Kể từ năm 2015, tỉ lệ này đã tăng ba lần lên 1,25% vào tháng 4 năm 2018 và 1,75% vào tháng 3 năm 2020 Tỉ lệ này là lãi suất được tính khi các ngân hàng cho vay tiền với nhau BOC thường áp đặt cắt giảm lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế
- Tạo lập và quản lí tiền tệ quốc gia cho Canada là một nhiệm vụ quan trọng khác của BOC Trách nhiệm của thống đốc là cung cấp tiền khó bị làm giả và có qui trình xác thực Canada kí hợp đồng in tiền cho một công ty in ấn bên ngoài Chữ kí của thống đốc Nhật Bản được in trên tất cả tiền giấy của Canada Trụ sở chính của BOC là 234 Phố
Trang 12Wellington ở thành phố Ottawa Đây là nơi ngân hàng đã hoạt động từ năm 1980 sau nhiều lần di chuyển địa điểm Các văn phòng của Ngân hàng Khu vực Canada đặt tại Vancouver, Calgary, Toronto, Montreal và Halifax.
II Phân tích thực trạng về vị trí pháp lý và mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm
thúc đẩy một hệ thống tài chính an toàn và hiệu quả
Hội đồng quản trị gồm có Thống đốc, Phó Thống đốc cấp cao và các Phó Thống đốc.Công cụ chính của Hội đồng Quản trị để thực hiện chính sách tiền tệ là lãi suất chính sách Tỷ lệ này thường được ấn định vào 8 ngày thông báo cố định mỗi năm Hội đồng đưa ra quyết định về tỷ giá bằng sự đồng thuận - chứ không phải bằng phiếu bầu riêng lẻ, như trường hợp của một số ngân hàng trung ương khác
1.2.2 Hội đồng điều hành
Hội đồng điều hành gồm có Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành và Giám đốc điều hành
- Giám sát Họ cùng nhau vạch ra định hướng chiến lược của Ngân hàng
Thống đốc
Với tư cách là Giám đốc điều hành, Thống đốc cuối cùng có toàn quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thống đốc:
làm chủ tịch Hội đồng quản trị
lãnh đạo Hội đồng quản trị
thực hiện chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu lạm phát đã được Ngân hàng và Chính phủ Canada thống nhất
Thống đốc NHTW Canada phải là công dân của nước này có kinh nghiệm về tài chính quốc tế và hiểu biết sâu sắc về thị trường tài chính và nền kinh tế
Hội đồng quản trị bổ nhiệm Thống đốc:
theo yêu cầu đủ điều kiện trong Đạo luật Ngân hàng Canada
trong thời hạn bảy năm, để mang lại tầm nhìn trung và dài hạn cần thiết cho chính sách tiền tệ hiệu quả
với sự chấp thuận của Thống đốc trong Hội đồng (Nội các liên bang)
Trang 13Hình 4: Tiff Macklem là Thống đốc thứ 10 của Ngân hàng NHTW Canada Ông được bổ nhiệm
vào ngày 3 tháng 6 năm 2020 với nhiệm kỳ 7 năm.
Phó Thống đốc cấp cao
Giám sát việc hoạch định và hoạt động chiến lược của Ngân hàng, Phó Thống đốc cấp cao:Chia sẻ trách nhiệm thực hiện chính sách tiền tệ với tư cách là thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng
Là thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng
Được Hội đồng quản trị bổ nhiệm với nhiệm kỳ 7 năm
Hình 5: Carolyn Rogers được bổ nhiệm làm Phó Thống đốc Cấp cao, có hiệu lực từ ngày 15 tháng
12 năm 2021.
Quá trình chính trị
Ngân hàng Canada là một loại tập đoàn Crown đặc biệt, thuộc sở hữu của chính phủ liên bang nhưng có quyền độc lập đáng kể để thực hiện trách nhiệm của mình
Trang 14Thống đốc và Phó Thống đốc cấp cao được bổ nhiệm bởi Hội đồng quản trị Ngân hàng (với sự chấp thuận của Nội các), chứ không phải bởi chính phủ liên bang.Thứ trưởng Bộ Tài chính ngồi trong Hội đồng quản trị nhưng không có quyền biểu quyết.
NHTW Canada trình các khoản chi tiêu của mình lên Hội đồng quản trị, trong khi các cơ quan chính phủ liên bang trình các khoản chi tiêu của họ lên Hội đồng Kho bạc
Nhân viên của họ được quản lý bởi chính Ngân hàng chứ không phải bởi các cơ quan dịch vụ công liên bang
Sổ sách được kiểm toán bởi các kiểm toán viên bên ngoài do Nội các bổ nhiệm theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính chứ không phải bởi Tổng Kiểm toán Canada.Một tổ chức tiền tệ độc lập tách biệt quyền tiêu tiền với quyền tạo ra tiền
Với tư cách là một ngân hàng trung ương tách biệt khỏi quy trình chính trị, NHTW Canada
có thể áp dụng các quan điểm trung và dài hạn cần thiết để thực hiện chính sách tiền tệ hiệuquả
Hình 6 : Mô hình tổ chức của NHTW Canada
Văn bản quản trị
NHTW Canada cam kết công bố thông tin về cách làm việc của họ
Trang 15Đạo luật Ngân hàng Canada yêu cầu nộp báo cáo tài chính đã được kiểm toán hàng
năm, kèm theo báo cáo của Thống đốc gửi Bộ trưởng Bộ Tài chính
Đạo luật thanh toán và thanh toán bù trừ thanh toán giao cho NHTW Canada trách
nhiệm giám sát các khoản thanh toán cũng như các hệ thống thanh toán và thanh toán
bù trừ khác ở Canada nhằm mục đích kiểm soát rủi ro hệ thống
Báo cáo thường niên bao gồm các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và xuất
bản Báo cáo tài chính hàng quý
=> Thực trạng vị trí pháp lý và mô hình tổ chức của NHTW Canada (BoC) được đánh giá
là phù hợp với yêu cầu của một NHTW độc lập
Một số ưu điểm và hạn chế của vị trí pháp lý và mô hình tổ chức của BoC:
* Ưu điểm: Vị trí độc lập giúp cho BoC có thể đưa ra các quyết định chính sách tiền tệ một cách khách quan, không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chính trị Mô hình tổ chức của BoC đảm bảo cho ngân hàng có đủ năng lực và nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ của mình
* Hạn chế: Một số ý kiến cho rằng BoC cần được trao thêm quyền lực trong việc giám
sát hệ thống ngân hàng và các thị trường tài chính Nhìn chung, vị trí pháp lý và mô hình
tổ chức của BoC là phù hợp với yêu cầu của một ngân hàng trung ương độc lập Tuy nhiên, cũng cần có những cải thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2 Chức năng của NHTW Canada
2.1 Chính sách tiền tệ
* Mục tiêu
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là bảo toàn giá trị của tiền bằng cách giữ lạm phát ở mức thấp, ổn định và có thể dự đoán được Điều này cho phép người Canada đưa ra các quyết định chi tiêu và đầu tư một cách tự tin hơn, khuyến khích đầu tư dài hạn vào nền kinh tế Canada và góp phần tạo việc làm bền vững và năng suất cao hơn Điều này lần lượt dẫn đến sự cải thiện trong mức sống của họ
Khung chính sách tiền tệ của Canada bao gồm hai thành phần chính phối hợp với nhau: mục tiêu kiểm soát lạm phát và tỷ giá hối đoái linh hoạt Khuôn khổ này giúp các hành động chính sách tiền tệ trở nên dễ hiểu và cho phép Ngân hàng thể hiện trách nhiệmgiải trình của mình đối với người dân Canada
* Mục tiêu kiểm soát lạm phát
Trọng tâm của khuôn khổ chính sách tiền tệ của Canada là mục tiêu kiểm soát lạm phát,
là 2%, điểm giữa của phạm vi mục tiêu từ 1 đến 3% Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1991, mục tiêu này do Ngân hàng Canada và chính phủ liên bang cùng đặt ra
và được xem xét lại 5 năm một lần Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tiền tệ hàng ngày là trách nhiệm của Hội đồng quản trị Ngân hàng Mục tiêu kiểm soát lạm phát hướng dẫn các quyết định của Ngân hàng về việc điều chỉnh lãi suất chính sách phù hợp nhằm duy trì môi trường giá cả ổn định trong trung hạn Ngân hàng công bố cài đặt lãi suất chính sách của mình vào những ngày thông báo cố định tám lần một năm
o Mục tiêu cho lãi suất qua đêm