Hay nói cách khác, tài chính công cũng được hiểu như kinh tế học của khu vựccông hay kinh tế công, chủ yếu đề cập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu củachính phủ và những ảnh hưởng c
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Khoa Tài Chính
Học phần: Tài Chính Công
ĐỀ TÀI : Vai trò của tài chính công trong việc thực hiện mục tiêu kép tại
Việt Nam trong bối cảnh Covid 19.
Giảng viên hướng dẫn : Lê Diệu Huyền
Sinh viên thực hiện Nhóm 1 :
Hà nội, ngày 26 tháng 11 năm 2021
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Nguyễn Minh Tuấn 22A4011140
Trần Thị Diễm Quỳnh 22A4011172
Hoàng Thanh Thúy 22A4010940
Phan Thị Ngọc Ánh 22A4010438
Giang Nhật Phương 22A4011190
Trang 3Mục Lục
2 Nội dung và phạm vi hoạt động của tài chính công 2
Phần II Th c tr ng th c hi n tài chính công trong b i c nh covid 19 ự ạ ự ệ ố ả 6
2 Mục tiêu kinh t Vi t Nam giai ế ệ đoạ n 2018-2020 7
3 Hoạt ng tài chính công ã th c hi n t độ đ ự ệ để đạ được mụ c tiêu kép trong b i c nh Covid-19 ố ả 8
Phần I Cơ sở lí thuyết về tài chính công
1 Quan niệm về tài chính công
Trang 4Quan niệm về tài chính công có quan hệ chặt chẽ với khu vực công và được sửdụng để đối lập với khái niệm tài chính tư Theo dòng thời gian, sự tiếp cận kháiniệm tài chính công cũng có sự khác nhau giữa các nhà kinh tế, sở dĩ như vậy, là vìbối cảnh kinh tế xã hội đã làm thay đổi quan niệm về vai trò của nhà nước Quanđiểm của các nhà kinh tế cổ điển (Adam Smith - cha đẻ của kinh tế thị trường) chorằng: tài chính công là khoa học nghiên cứu sự tài trợ cho các khoản chi tiêu công.Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, Giáo sư Harvey Rosen cho rằng tài chính công là
“lĩnh vực kinh tế học phân tích thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ” Vớicách tiếp cận này, tài chính công không những là khoa học nghiên cứu việc sửdụng các công cụ tài chính để tài trợ chi tiêu công, mà còn phân tích các chính sáchthu công, chi tiêu công nhằm mục đích thực hiện vai trò can thiệp của chính phủvào nền kinh tế (đây là quan điểm tổng quát hơn) Như vậy, cho dù có những cáchtiếp cận khác nhau, nhưng điểm chung của các nhà kinh tế khi định nghĩa phạm trùnày là: tài chính công là một nhánh của kinh tế học nghiên cứu vai trò của chínhphủ thông qua phân tích tác động thu, chi ngân sách đến các hoạt động kinh tế xãhội Hay nói cách khác, tài chính công cũng được hiểu như kinh tế học của khu vựccông hay kinh tế công, chủ yếu đề cập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu củachính phủ và những ảnh hưởng của nó trong việc phân bổ các nguồn lực và phânphối thu nhập
Từ những phân tích trên đây có thể có khái niệm tổng quát về tài chính công nhưsau: Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do nhà nước tiếnhành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và
sử dụng các quỹ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của nhà nước và đápứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội
2 Nội dung và phạm vi hoạt động của tài chính công
Trang 52.1 Nội dung tài chính công
Hoạt động tài chính công rất đa dạng và phức tạp, còn nhiều tranh cãi và sự pháttriển còn đang ở phía trước Tuy nhiên, trong sự biến động của nền kinh tế, đòi hỏiphải chứng kiến một sự thay đổi tạo ra các qui chuẩn mới trong hoạt động tài chínhcủa Chính phủ, Tài chính công xem xét các vấn đề liên quan đến tình hình tài chínhcủa Chính phủ ở các mức độ khác nhau cũng như xem xét quan hệ tài chính trongnội bộ Chính phủ Nội dung chủ yếu trong hoạt động tài chính công bao gồm:Thứ nhất, thu nguồn lực công: Chủ yếu giải quyết các vấn đề liên quan đếnnguồn thu của Chính phủ, tỷ lệ, cách thức tạo lập nguồn lực Tập trung thảo luận
và phân tích những tác động trong phân tích nguồn thu và các quyết định trongviệc đưa ra chính sách thu (Trong đó, thu nguồn lực công như thu từ thuế, phí, cáckhoản vay nợ để đáp ứng nhu cầu của Chính phủ )
Thứ hai, những vấn đề về chi tiêu công: Chi tiêu công phản ánh sự tài trợ củaChính phủ đối với nền kinh tế, thông qua chi tiêu công sẽ phản ánh dòng luânchuyển vốn của nền kinh tế khi có Chính phủ tham gia, chi tiêu công ảnh hưởngđến hành vi tiêu dùng của các chủ thể thực hiện phân phối thu nhập, giải quyếtphúc lợi xã hội, góp phần tăng trưởng ổn định và các chính sách xã hội khácThứ ba, những vấn đề về ngân sách và nợ công: Cân đối ngân sách là vấn đềquan trọng, việc chấp nhận bội chi nhằm tạo ra mức gia tăng nhu cầu tiêu dùnghoặc đầu tư để kích thích và tăng năng lực sản xuất Tuy nhiên, gắn với bội chingân sách là vòng xoáy nợ nần, việc vay nợ để bù đắp bọi chi có thể làm gia tănggánh nặng ngân sách Do vậy kiểm soát ngân sách và xử lí gánh nặng nợ được đặt
ra đối với nền tài chính của mối quốc gia
2.2 Phạm vi hoạt động của tài chính công
Trang 6Nội dung hoạt động của tài chính công rất phong phú, đa dạng cùng với sự pháttriển của nền kinh tế, hoạt động tài chính công ngày càng phát triển nhanh hơn,mạnh mẽ Tùy theo yêu cầu quản lý của mỗi quốc gia, phạm vi hoạt động của tàichính công được tiếp cận theo các tiêu thức khác nhau.
- Căn cứ theo chủ thể quản lí trực tiếp, tài chính công bao gồm các bộ phận:+ Tài chính công tổng hợp: Hoạt động tài chính công tổng hợp bao gồm tài chínhcủa các cấp chính quyền trung ương và chính quyền địa phương)
+ Tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước: Bộ máy nhà nước được tổ chứcbao gồm các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp và các cơ quan tư pháp từtrung ương đến địa phương
+ Tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập: Các đơn vị sự nghiệp công lập làcác đơn vị thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằmduy trì sự hoạt động của nền kinh tế Hoạt động của các đơn vị này không nhằmmục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu mang tính chất phục vụ
- Căn cứ theo nội dung quản lý bao gồm các bộ phận:
+ Quỹ ngân sách nhà nước: Đây là quỹ tiền tệ công lớn nhất bởi vì nguồn thu chủyếu là thuế, trong đó thuế là hình thức thu dựa trên tính cưỡng chế, đồng thời, cáckhoản chi tiêu của Quỹ ngân sách nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại hoạt động của
bộ máy nhà nước và phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước nhưđảm bảo an ninh, quốc phong, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế
+ Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước (Quỹ ngoài ngân sách): CácQuỹ ngoài ngân sách là các quỹ tiền tệ tập trung cũng do Nhà nước thành lập, quản
lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử lý những biến độngbất thường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ thêm cho Ngân sáchnhà nước trong trường hợp khó khăn và nguồn tài chính
+ Quỹ tín dụng Nhà nước: Tín dụng cũng được sử dụng để hỗ trợ Ngân sách nhànước trong các trường hợp cần thiết Nhà nước động viên các nguồn tài chính tạm
Trang 7Một số dấu hiệu nhận biết Báo cáo tài…Tài chính
3
Kỹ năng pt - nothingTài chính
16
Cong thuc su dung trong phong thiTài chính
1
BÀI TẬP CHƯƠNG 3
- TÀI Chính CÔNGTài chính
13
Trang 8thời nhàn rỗi trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn tài chính của các cấpchính quyền nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.Đặc trưng cơ bản trong tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ qua hình thức tín dụng nhànước lả mang tính tự nguyện và có hoàn trả.
3 Vai trò của tài chính công
Tài chính công là công cụ đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc tồn tại và hoạtđộng có hiệu quả của nhà nước Tài chính công huy động các nguồn lực từ mọilĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, địa vị xã hội để hình thành nên nguồn tài chínhcho toàn quốc gia
Sau khi đã huy động được nguồn tài chính, thì tài chính công đóng vai trò phânphối nguồn đó cho từng các chủ thể, đảm bảo sự hoạt đông của toàn bộ máy nhànước và thực hiện các chức năng của nhà nước Và tài chính công thực hiện việckiểm tra giám sát, đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được sử dụngmột cách hiệu quả, hợp lý, đúng mục đích
Tài chính công mà trong đó đặc biệt là Ngân sách nhà nước đóng vai trò chỉ đạotrong nền kinh tế nhà nước Tài chính công thực hiện thu các khoản thu các chủ thểkhác trong nền kinh tế để tạo lập quỹ tiền tệ chung Và tài chính công cũng thựchiện các hoạt động đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư vào cơ sở hạtầng, đầu tư cho khoa học công nghệ, trang thiết bị,… tạo điều kiện thuận lợi chocác chủ thể trong nền kinh tế mở rộng, phát triển
Tài chính công đóng vai trò định hướng, hướng dẫn cho hoạt động của các chủ thểtrong nền kinh tế như việc hướng dẫn tiêu dùng, đầu tư qua các chính sách về thuếTài chính công thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh doanh, địnhhướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo lãnh thổ, ngành nghề, lĩnhvực, ví dụ như việc miễn giảm thuế tại các khu vực công nghiệp, khu vực có điềukiện khó khăn,… nhằm thu hút đầu tư vào các khu vực này
Tài chính công Chủ
đề 1 Nhóm 2Tài chính
40
Trang 9Tài chính công can thiệp, điều tiết thu nhập xã hội bằng công cụ thuế, để giảm bớtthu nhập cao, nâng dần các thu nhập thấp, thực hiện các hoạt động về an sinh xãhội, giúp đỡ các trường hợp khó khăn như trẻ em mồ côi, người khuyết tật,…
Phần II Thực trạng thực hiện tài chính công trong bối cảnh covid 19
1 Bối cảnh Việt Nam thời kì covid 19
Trang 10Đại dịch Covid - 19 đã và đang gây ra cuộc suy thoái lan rộng và kéo dài trênphạm vi toàn cầu Ở Việt Nam, đại dịch gây xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội, tácđộng tiêu cực đến sự phát triển của thị trường tài chính (TTTC).
● Thứ nhất, tác động rõ nét và cơ bản nhất đối với kinh tế là sự bùng phát củadịch bệnh làm cho thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp, do sản xuất của doanhnghiệp, thu nhập người dân giảm mạnh
Hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu chịu tác động lớn nhất Khó khănnày càng gia tăng, khi tổng giá trị xuất khẩu của nước ta chiếm thường xuyên tới60% -70% GDP Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7ước tính đạt 339,4 nghìn tỷ đồng, giảm 8,3% so với tháng trước và giảm 19,8% sovới cùng kỳ năm trước
Diễn biến tác động tiêu cực đến hoạt động ngân hàng: Thống kê của Ngânhàng Nhà nước (NHNN, 2020) cho biết tín dụng đến 16/3/2020 tăng 0.43% so với31/12/2019, thấp hơn mức tăng 1.52% cùng kỳ năm trước => Cũng là mức tăngtrưởng thấp nhất trong 6 năm trở lại đây Tín dụng tăng trưởng chậm, một mặt docác ngân hàng thương mại thận trọng cho vay vì thị trường biến động mạnh, mặtkhác chính doanh nghiệp hạn chế mở rộng sản xuất kinh doanh do khó khăn về thịtrường, tiêu thụ và ký kết hợp đồng
Chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình luân chuyển vốn chậmcủa nền kinh tế, của doanh nghiệp, dẫn đến khả năng thanh toán bị hạn chế Nhiềudoanh nghiệp ứ đọng hàng hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản tín dụng có liênquan Tín dụng bất động sản luân chuyển chậm, đặc biệt là các khoản nợ cho vaykinh doanh bất động sản
● Thứ hai, dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu tác động gián tiếp đến TTTC
và hoạt động ngân hàng, trên các phương diện sau:
Dòng vốn đầu tư gián tiếp biến động mạnh: Thị trường chứng khoán trongnước thời gian qua phải liên tục điều chỉnh, giảm điểm do việc bán ròng của các
Trang 11nhà đầu tư nước ngoài Dịch bệnh cũng tạo tâm lý bảo toàn vốn, tâm lý nắm giữtiền mặt hơn là cổ phiếu của các Nhà đầu tư, tạo hiệu ứng tâm lý tiêu cực khiến thịtrường chứng khoán trong nước gặp nhiều khó khăn.
Các hoạt động đầu tư, liên kết góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư vào
hệ thống ngân hàng trong nước giảm, ảnh hưởng đến chiến lược tăng trưởng vốnđiều lệ của một số ngân hàng thương mại cổ phần, đến quá trình đổi mới côngnghệ, phát triển dịch vụ, quản trị, quản lý ngân hàng hiện đại của các nhà đầu tưchiến lược nước ngoài =>Tác động này mang tính tạm thời, ngắn hạn
Những biến động của lãi suất, giá vàng, đồng Dolla Mỹ trên các thị trườngtiền tệ thế giới nhanh, liên tục và khó dự báo Điều này tạo môi trường cho cáchoạt động đầu cơ, gây tác động tiêu cực nhất định đến thị trường tiền tệ, thị trường
2 Mục tiêu kinh tế Việt Nam giai đoạn 2018-2020
Nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016-2020, mục tiêu kinh
tế Việt Nam giai đoạn 2018-2020 hướng đến sự ổn định, bền vững, kiểm soát lạmphát và tăng trưởng GDP; cùng với đẩy mạnh liên kết và tự do hoá thương mạihướng tới thị trường thế giới, chú trong tác động mạnh mẽ của phát triển khoa học
và công nghệ đến các mặt kinh tế
Đến cuối năm 2019, do xuất hiện dịch bệnh Covid-19 với tốc độ lan truyền nhanhchóng trên toàn cầu, chưa từng có tiền lệ đã tác động nghiêm trọng khiến cho nềnkinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng rơi vào tình trạng suy thoái Vìvậy, các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra cũng phải thay đổi để phù hợp với tình hìnhdịch bệnh
Năm 2020, mục tiêu là tập trung ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát; nângcao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình
Trang 12đẳng, thông thoáng, thuận lợi Bên cạnh đó, Chính Phủ phát động thực hiện mụctiêu kép: vừa tập trung phòng, chống dịch bệnh; vừa duy trì, phục hồi và phát triểnkinh tế - xã hội Tất cả các hoạt động kinh tế diễn ra đều phải gắn với đảm bảo antoàn xã hội, không để dịch bệnh bùng phát.
Các mục tiêu cụ thể:
- Tăng trưởng GDP khoảng 6,8%
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 7%
- Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33-34% GDP
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị dưới 4%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65%, trong đó tỷ lệ lao động qua đàotạo có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 25%
ủy, chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng để làmtốt công tác quản lý thu ngân sách nhà nước; đẩy mạnh chống thất thu, chuyển giá,buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; tăng cường công tác thanh tra, kiểm trathuế, nhất là thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề về chuyển giá, thương mại điện tử,kinh doanh qua mạng; quyết liệt xử lý thu nợ thuế, qua đó đã giảm số thuế nợ đọngđến cuối năm 2019 xuống dưới 5% tổng thu ngân sách nhà nước
Trang 13Theo Thời Báo Tài chính Việt Nam.Nhờ chủ động trong triển khai thực hiện, kết hợp với sự phát triển khả quan củanền kinh tế, thu cân đối ngân sách nhà nước đến ngày 31/12/2019 đạt 1.549,5nghìn tỷ đồng, vượt 138,2 nghìn tỷ đồng (tăng 9,79%) so dự toán, trong đó: thu nộiđịa vượt 100,2 nghìn tỷ đồng (tăng 8,5%), thu từ dầu thô vượt 11,7 nghìn tỷ đồng(tăng 26,1%) và thu cân đối ngân sách từ xuất nhập khẩu vượt 25,3 nghìn tỷ đồng(tăng 13,4%) so với dự toán; tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đạt khoảng25,7%GDP, huy động từ thuế và phí khoảng 21,1%GDP (mục tiêu giai đoạn2016-2020 tương ứng là 23,5%GDP và 21% GDP) Thu ngân sách Trung ươngvượt 32 nghìn tỷ đồng (tăng 4%) so dự toán, thu ngân sách địa phương vượt trên106,2 nghìn tỷ đồng (tăng 17,7%) so dự toán; 63/63 tỉnh, thành phố vượt dự toánthu ngân sách nhà nước trên địa bàn; 60/63 tỉnh, thành phố đạt và vượt dự toán thungân sách địa phương.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước tiếp tục có chuyển biến và ngày càng bền vữnghơn, tỷ trọng thu nội địa tăng dần, từ mức khoảng 68% bình quân giai đoạn2011-2015 lên trên 82% năm 2019, tỷ trọng thu dầu thô giảm dần, từ mức bìnhquân khoảng 13% giai đoạn 2011-2015 xuống còn khoảng 3,6% năm 2019 và thucân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đã giảm từ mức 18,2% bình quân giai đoạn2011-2015 xuống còn 13,9% năm 2019
Trang 14Theo Báo ĐT.
Dự toán thu NSNN năm 2020 là 1.539 nghìn tỷ đồng, báo cáo Quốc hội ước đạt1.349,85 nghìn tỷ đồng, bằng 87,7% dự toán, giảm 189.200 tỷ đồng Mặc dù chịuảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 và những diễn biến thất thường củathiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh; nhưng nhờ triển khai thực hiện có hiệu quảcác giải pháp chính sách tài khóa, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế nhữngtháng cuối năm đã góp phần làm gia tăng số thu ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó, cơ quan Thuế, Hải quan đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chứcnăng tập trung làm tốt các giải pháp thu ngân sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất -kinh doanh, đi đôi với việc tăng cường kiểm tra, giám sát, giảm thiểu việc lợi dụngchính sách để trục lợi; đẩy mạnh công tác chống thất thu, chuyển giá, buôn lậu,gian lận thương mại, trốn thuế, đặc biệt là đối với các loại hình kinh doanh mớitrong bối cảnh đại dịch Covid-19 (như: thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng,quảng cáo trên mạng, ); thanh tra, kiểm tra và xử lý thu hồi nợ đọng thuế, đôn đốcthu đầy đủ, kịp thời các khoản phải thu vào ngân sách nhà nước theo kết luận của
cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước
Trang 15Kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước cả năm đạt 1.507,8 nghìn tỷ đồng, tăng
158 nghìn tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội, bằng 98% so dự toán, giảm 2,79% sovới thực hiện năm 2019; tỷ lệ động viên thu ngân sách nhà nước đạt 24%GDP,riêng động viên từ thuế và phí đạt 19,1%GDP
Theo Tổng Cục thuế, kết quả thu thuế năm 2020 do Tổng cục Thuế quản lý đạt1.278.649 tỷ đồng, bằng 101,9% dự toán, vượt 24.349 tỷ đồng, vượt 175.849 tỷđồng so với số ước thu đã báo cáo Quốc hội Năm 2020, toàn ngành Thuế đã thựchiện được 83.979 cuộc thanh, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế; kiểm tra được804.590 hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế Tổng số tiền kiến nghị xử lý qua thanhtra, kiểm tra là 71.876 tỷ đồng, bằng 114,7% so với cùng kỳ năm 2019 Trong đó:Tổng số thuế tăng thu vào ngân sách là 19.867 tỷ đồng, bằng 17,6% so với cùngkỳ; giảm khấu trừ là 2.248 tỷ đồng, giảm lỗ là 49.760 tỷ đồng, bằng 119,6% so vớicùng kỳ Tổng số tiền thuế nộp vào ngân sách là 12.435 tỷ đồng
Năm 2020, Tổng cục Thuế đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụngcông nghệ thông tin trong tất cả các khâu của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợthuế, điện tử hoá hệ thống quy trình nghiệp vụ quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ từkhâu ban hành thông báo nợ và quyết định cưỡng chế nợ, phân công, phân loại nợđầy đủ, chính xác để tăng cường hiệu quả việc quản lý nợ thuế Tổng số tiền nợthuế mà ngành thuế quản lý tính đến thời điểm cuối năm 2020 đã giảm 5,5% so vớicùng kỳ năm 2019; tỷ lệ tổng nợ có khả năng thu trên tổng thu năm 2020 ở mức4,1%
Theo Bộ Tài Chính: tính đến ngày 30/6/2021, thu NSNN 6 tháng đầu năm 2021 đạt
781 nghìn tỷ đồng, bằng 58,2% dự toán, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2020,tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: Thu nội địa đạt 56,3% dự toán, tăng13,9%; thu từ dầu thô đạt 80,7%, giảm 12,2%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhậpkhẩu đạt 69,5% dự toán, tăng 37,5% so với cùng kỳ năm 2020.Các khoản thu từhoạt động sản xuất – kinh doanh đều đạt trên 52% dự toán và tăng trên 17% so với
Trang 16cùng kỳ năm 2020, cụ thể: Thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 52,8% dựtoán, tăng 17,8%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt57,7% dự toán, tăng 19,9%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 59,3% dựtoán, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm 2020.
Theo Thời Báo Tài chính Việt Nam.Tuy nhiên, theo Tổng cục Thuế do chịu tác động bởi dịch Covid-19, tổng số nợthuế nội địa đến 30/6/2021 ước gần 116 nghìn tỷ đồng, tăng 20,8 nghìn tỷ đồng sovới thời điểm cuối năm 2020
Ngành Thuế quyết liệt triển khai các giải pháp quản lý thu, phấn đầu hoàn thànhvượt mức dự toán Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Tài chính giao năm 2020 Hiện nayTổng cục Thuế đang chỉ đạo rà soát kỹ các nguồn thu và bám sát các kịch bản tăngtrưởng tổng thể, tăng trưởng GDP để có kịch bản thu ngân sách phù hợp, sát vớitình hình thực tế và tham mưu cho Bộ Tài chính trong điều hành thu ngân sáchtrong 6 tháng cuối năm
Trang 17Hệ thống Thuế các cấp tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp chốngthất thu thuế, đẩy mạnh chống chuyển giá, trốn thuế; đẩy mạnh công tác quản lýthuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh thương mại điệntử; tiếp tục tập trung xử lý hiệu quả công tác thu hồi nợ thuế và xử lý nợ thuế theoNghị quyết số 94 của Quốc Hội, phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đọng xuống dưới 5% tổngthu ngân sách do cơ quan thuế quản lý.
Song song với đó, ngành Thuế sẽ hoàn thành công tác xây dựng thể chế, chínhsách pháp luật trong lĩnh vực thuế theo chương trình xây dựng văn bản pháp luậtnăm 2020; Với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách thuế đểđảm bảo nguồn thu, nguồn lực tài chính chủ yếu thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh quốc phòng và xây dựng ngành Thuế Việt Nam hiện đại tinhgọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả và công tác quản lý thuế thống nhất minh bạch,chuyên sâu, chuyên nghiệp
Trong 6 tháng cuối năm, Tổng cục Thuế sẽ hoàn thành trình Bộ ban hành Quyếtđịnh về chức năng, nhiệm vụ của 03 đơn vị mới được nâng cấp thành cấp Cục;Tiếp tục rà soát để tham mưu với Bộ Tài chính sắp xếp lại tổ chức bộ máy đối vớicác Chi cục Thuế đáp ứng được tiêu chuẩn, điều kiện để nâng cấp các Đội thànhPhòng thuộc Chi cục theo Quyết định số 812/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tàichính
Lãnh đạo ngành Thuế cũng khẳng định, trên cơ sở hỗ trợ người dân và doanhnghiệp trong việc kê khai nộp thuế và tạo thuận lợi cho người dân thực hiện các thủtục hành chính, thực hiện tối đa áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế,ngành Thuế sẽ tập trung chuẩn bị hạ tầng hóa đơn điện tử đáp ứng các quy định tạiNghị định số 123/2020 của Chính phủ, đúng tiến độ, đảm bảo thực hiện trên phạm
vi toàn quốc từ 01/7/2022 Hiện nay đã có 450 TTHC thuế được tích hợp trên cổng
Trang 18dịch vụ công quốc gia, trên 180 TTHC về thuế đã đáp ứng dịch vụ công trực tuyếncấp độ 3, 4
Cơ quan thuế sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, NNT tuân thủ pháp luật thuế thôngqua tăng cường kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế; đẩy mạnh thanh tra chống chuyểngiá; thực hiện tối đa áp dụng công nghệ thông tin, khai thác cơ sở dữ liệu phân tíchrủi ro, thực hiện một bước thanh kiểm tra trên hệ thống và hạn chế thanh tra, kiểmtra tại trụ sở doanh nghiệp theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tàichính
Chú trọng tuyên truyền pháp luật, hỗ trợ kịp thời, duy trì cơ chế đối thoại, thamvấn với cộng đồng doanh nghiệp để giải quyết những vướng mắc phát sinh, tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư
Tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinhdoanh của Doanh nghiệp Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giải quyết kịpthời vướng mắc phát sinh theo thẩm quyền, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trongsản xuất, kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ với NSNN
Duy trì hoạt động tổ công tác chống thất thu và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc chodoanh nghiệp, đôn đốc thu nợ thuế và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư củaUBND tỉnh và UBND các huyện, thành phố, thực hiện chế độ thông tin báo cáokịp thời về tiến độ thu ngân sách, các khó khăn vướng mắc trong chỉ đạo thực hiện
dự toán thu ngân sách.
Đồng thời, ngành Thuế tiếp tục phối hợp với các cơ quan thanh tra giám sát ngânhàng, cơ quan đăng ký kinh doanh rà soát cơ sở dữ liệu, đánh giá rủi ro nhữngthương vụ chuyển nhượng vốn, dự án, góp phần tăng thu vào những khoản hụt thu.Việc tiếp cận các nguồn cung vắc xin phòng Covid-19 đang rất khó khăn; việc tổchức tiêm chủng phải theo thứ tự ưu tiên, phù hợp với điều kiện thực tế Trước tình
Trang 19hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư phốihợp với các Bộ, cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh các chính sách,biện pháp hỗ trợ hiện tại; nghiên cứu xây dựng các chính sách hỗ trợ mới giúpdoanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn do tác động của dịch Covid-19,trình cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện Trong lĩnh vực tài chính - ngân sáchnhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021hướng dẫn thực hiện về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho cáchoạt động phòng, chống dịch Covid-19 Chính phủ cũng đã trình Ủy ban Thường
vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1148/2020/UBTVQH14 ngày 21/12/2020giảm 30% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 01/01/2021đến hết ngày 31/12/2021 Đồng thời, Chính phủ cũng đã trình Bộ Chính trị chủtrương mua vắc xin phòng Covid-19 cho nhân dân từ nguồn ngân sách nhà nước vàcác nguồn tài chính khác; trên cơ sở đó ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày26/02/2021 về mua và sử dụng vắc xin phòng Covid-19 Thực hiện chỉ đạo củaChính phủ, Bộ Tài chính đang phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trươngxây dựng Nghị định của Chính phủ về tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuêđất trong năm 2021 cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19.Đồng thời, tiếp tục rà soát, giảm mức thu các khoản phí, lệ phí để giảm chi phí đầuvào cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh
Nhìn chung, với những hoạt động tích cực trên tài chính công đã góp phầnkhông nhỏ để thực hiện đạt được mục tiêu kép (ổn định kinh tế và kiểm soát dịchbệnh), đem lại kết quả đáng tự hào trong bối cảnh COVID-19
Trang 203.2 Hoạt động chi tiêu công đã thực hiện để đạt được mục tiêu kép trong bốicảnh Covid-19
3.2.1 Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ góp phần thực hiện hóa mục tiêukép
Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh kinh tế,
y tế, văn hóa, an sinh xã hội, Chính phủ đã chủ động xây dựng các gói hỗ trợ kịp thời chodoanh nghiệp và người dân
Về chính sách tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động,linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khácnhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2021 bình quân khoảng 4%, hỗ trợ ổn địnhkinh tế vĩ mô, góp phần phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ vàngoại hối Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tình hình dịch bệnh Covid-19 trongnước và quốc tế để chủ động điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp phù hợp nhằm
ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán
và tín dụng theo định hướng đề ra Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, điềuchỉnh lãi suất, tỷ giá linh hoạt, tăng dự trữ ngoại hối Tái cấp vốn đối với TCTD để hỗ trợthanh khoản, cho vay theo các chương trình, lĩnh vực đã được Chính phủ, Thủ tướngChính phủ phê duyệt và hỗ trợ xử lý nợ xấu Điều hành tín dụng theo chỉ tiêu định hướng,gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, ưu tiên TCTD giảm mặt bằng lãi suất cho vay.Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứngkhoán, các dự án BOT, BT giao thông Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vàngười dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen
Trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều hành, tạo điều kiện để hạ mặtbằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm hỗ trợ DN Các TCTD đã thực hiện cơcấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm, hạ lãi suất, cho vay mới với lãi suất ưu đãi NHNNgia hạn thời gian áp dụng tỷ lệ cho vay trung dài hạn từ nguồn vốn ngắn hạn để hỗ trợTCTD tháo gỡ khó khăn cho người đi vay nhất là vay dài hạn Theo báo cáo của Hiệp hội
Trang 21Ngân hàng Việt Nam, đến ngày 27/9/2021, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữnguyên nhóm nợ cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng, lũy kế giá trị nợđược cơ cấu từ ngày 23/1/2020 là khoảng 531.000 tỷ đồng Các TCTD chủ động miễngiảm các loại phí, lãi vay đến nay là lần thứ tư, mức giảm lãi cao nhất đến 3%/năm, giảm1% trong năm 2020 và giảm thêm 0,66% trong 8 tháng đầu năm 2021 Đến cuối tháng9/2021 các TCTD đã miễn, giảm, hạ lãi suất cho khoảng 1,7 triệu khách hàng bị ảnhhưởng bởi dịch với dư nợ gần 2,5 triệu tỷ đồng, tổng số tiền lãi miễn giảm hạ cho kháchkhoảng 27.000 tỷ đồng; cho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước dịch với doanh số lũy
kế từ ngày 23/1/2020 đến nay đạt 5,2 triệu tỷ đồng cho 800.000 khách hàng Đặc biệt 16ngân hàng (chiếm 75% tổng dư nợ nền kinh tế) thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhànước và kêu gọi của Hiệp hội Ngân hàng giảm lãi lũy kế từ ngày 15/7/2021 đến ngày30/9/2021 là 12.236 tỷ đồng
Về chính sách tài khóa, ngay từ khi dịch bệnh xuất hiện vào năm 2020, Bộ Tàichính đã chủ động trình cấp có thẩm quyền và ban hành theo thẩm quyền nhiều giải pháp
để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân tháo gỡ khó khăn và khôi phục sản xuất kinh doanh,tái khởi động nền kinh tế như: Gia hạn thời hạn nộp các khoản thuế và tiền thuê đất;miễn, giảm các khoản thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất Tổng giá trị hỗ trợ khoảng129.000 tỷ đồng; trong đó, số tiền thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất được gia hạn khoảng97.500 tỷ đồng; số được miễn, giảm khoảng 31.500 tỷ đồng Đặc biệt, sang năm 2021,doanh nghiệp, người dân vẫn gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh chưa được kiểm soát,Chính phủ đã ban hành và tiếp tục thực hiện một số giải pháp như: Gia hạn thời hạn nộpthuế và tiền thuê đất cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19;tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay để hỗ trợ ngành hàng không;thực hiện tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanhnghiệp đối với các khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt độngphòng, chống dịch COVID-19; tiếp tục giảm mức thu hơn 30 loại phí, lệ phí từ ngày1/1/2021 đến hết ngày 31/12/2021
Trang 22Ngoài ra, trước làn sóng bùng phát lần thứ tư của dịch COVID-19 Chính phủ, Ủyban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợdoanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 với trọng tâm: Giảm thuế thunhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2021 cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (có doanh thukhông quá 200 tỷ đồng và giảm so doanh thu năm 2020); Miễn thuế trong quý III và quý
IV năm 2021 đối với hộ kinh doanh và các nhân kinh doanh; Giảm thuế GTGT từ ngày1/10/2021 đến hết 31/12/2021 đối với một số nhóm hàng hoá, dịch vụ; Miễn tiền chậmnộp trong năm 2020 và năm 2021 đối với các doanh nghiệp phát sinh lỗ trong kỳ tínhthuế năm 2020 Giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với nhiều nhóm mặt hàng Tổng giátrị hỗ trợ dự kiến khoảng trên 139.000 tỷ đồng; trong đó, số tiền thuế và tiền thuê đấtđược gia hạn khoảng 115.000 tỷ đồng; số tiền thuế, phí, lệ phí, tiền chậm nộp thuế, tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất được miễn, giảm khoảng 24.300 tỷ đồng
Nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân, yêu cầu các bộ, cơ quanTrung ương và địa phương triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, rà soát cắt giảm tốithiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước, tiết kiệm thêm 10% chithường xuyên, hủy dự toán một số nhiệm vụ chi sử dụng không triển khai thực hiện, Đồng thời, tạm hoãn việc điều chỉnh mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viênchức, lực lượng vũ trang Các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 68/NQ-CP năm 2021được thực hiện ở cả cấp ngân sách trương ương và ngân sách địa phương Bên cạnh đó,
cơ chế đặc biệt, đặc thù, đặc cách được áp dụng linh hoạt trong mua sắm thuốc, trangthiết bị y tế, hóa chất và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ và dự phòng cho công tác phòng,chống dịch khi có diễn biến phức tạp, phát sinh.Quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công, tiếptục cơ cấu lại các khoản vay của ngân sách nhà nước nhằm giảm thiểu các rủi ro về kỳhạn nợ, tỷ giá, lãi suất; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ; giám sát chặt chẽ việc chovay, sử dụng vốn của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; nâng cao hiệu quả sửdụng vốn vay, tập trung cho các công trình, dự án trọng điểm, thực sự có hiệu quả, bảođảm khả năng cân đối nguồn trả nợ Phấn đấu giảm tỷ lệ nợ công so với mức đã báo cáoQuốc hội tại kỳ họp thứ 10 khóa XIV