Trang 1 ĐỖ THỊ PHƯƠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ DƯỚI 5 TUỔI MẮC NHIỄM KHUẨN HƠ HẤP CẤP TÍNH CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN NHI TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2019 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀ
Trang 1ĐỖ THỊ PHƯƠNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ DƯỚI 5 TUỔI MẮC NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN NHI
TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2019
Trang 2ĐỖ THỊ PHƯƠNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ DƯỚI 5 TUỔI MẮC NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN NHI
TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Thanh Tùng
NAM ĐỊNH – 2019
Trang 3TÓM TẮT i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Phân loại về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 4
1.1.3 Các biểu hiện lâm sàng 4
1.1.4 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ 6
1.1.5 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 7
1.1.6 Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 8
1.2 Các nghiên cứu về chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 11
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 11
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu 16
1.4.Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
Trang 42.7 Các biến số nghiên cứu 21
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 21
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành về bệnhnhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng 28
3.1.1.Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 28
3.1.2 Kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 29
3.1.3 Thái độ của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 33
3.1.4 Thực hành của bà mẹ khi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 35
3.1.5 Nguồn thông tin bà mẹ tiếp cận 38
3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng 38
3.2.1 Mối liên quan giữa kiến thức với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 38
3.2.2 Mối liên quan giữa thái độ với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 44
3.2.3 Mối liên quan giữa thực hành với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 47
Chương 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tínhcủa các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng năm 2019 51
4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng năm 2019 57
4.3 Những điểm mạnh và điểm yếu của đề tài 61
Trang 5PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu
Phụ lục 2: Bản đồng thuận
Phụ lục 3: Bộ câu hỏi nghiên cứu
Phụ lục 4: Danh sách các bà mẹ bệnh nhi tham gia nghiên cứu
Trang 6trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ và xác định một số yếu
tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng năm 2019
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô
tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang có phân tích trên 385 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng trong thời gian từ tháng 3/2019 – 5/2019
Kết quả: Số bà mẹ biết về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm tỷ lệ
83,6% Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 72,2 % Số bà
mẹ biết đúng dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay chiếm 70,4% Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu bệnh nặng hơn chiếm 41,3% Số bà mẹ biết cách cho trẻ ăn đúng khi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 80,3% và biết làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn chiếm 50,4% Số bà mẹ biết đúng biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 80,3% Số bà mẹ có thái độ tích cực về biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 77,9% Số bà mẹ có thái độ tích cực về chọn nơi khám bệnh chiếm 95,3% Số bà mẹ có thái độ tích cực về biện pháp chăm sóc trẻ khi mắc nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính chiếm 84,4% Số bà mẹ thực hành đúng về phòng ngừa nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính chiếm 72,5% Số bà mẹ thực hành đúng về chọn nơi khám bệnh chiếm 82,6% Số bà mẹ thực hành đúng về chăm sóc khi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 18,7% Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có mối liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ bao gồm dân tộc, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ học vấn và số con
Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
của các bà mẹ tương đối tốt Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành với một số đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ bao gồm dân tộc, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ học vấn và số con
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, thực hành, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính,
bà mẹ
Trang 7tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bè bạn Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
PGS.TS Lê Thanh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Người thầy đã giành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Yersin Đà Lạt và Bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thu thập số liệu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè của tôi, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 8liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Trang 9
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
trợ kỹ thuật và tài chính của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
NKHHCT (ARI) Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (Acute Respiratory Infections)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại kiến thức của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 2.2 Phân loại thái độ của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 2.3: Phân loại thực hành của đối tượng nghiên cứu 25
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 28
Bảng 3.2 Kiến thức về các bệnh thuộc nhóm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 29
Bảng 3.3 Kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng hơn 29
Bảng 3.4 Kiến thức về dấu hiệu bệnh và dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám 30
Bảng 3.5 Kiến thức chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 30
Bảng 3.6 Kiến thức phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 31
Bảng 3.7 Đánh giá kiến thức chung của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 31
Bảng 3.8 Thái độ của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 33
Bảng 3.9 Đánh giá thái độ chung của bà mẹ về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 34
Bảng 3.10 Thực hành chọn nơi khám chữa bệnh khi trẻ có dấu hiệu mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 35
Bảng 3.11 Thực hành cho trẻ uống nước khi sốt hoặc ho 35
Bảng 3.12 Thực hành sử dụng thuốc giảm ho 35
Bảng 3.13 Thực hành dự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 36
Bảng 3.14 Thực hành làm sạch mũi cho trẻ khi chảy mũi 36
Bảng 3.15 Đánh giá thực hành chung của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 37
Bảng 3.16 Nguồn thông tin bà mẹ tiếp cận 38
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 38
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức về dấu hiệu nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 39
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức về dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 40
Trang 11Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng với các đặc điểm nhân
khẩu học của bà mẹ 41Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức về với cho trẻ ăn khi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô
hấp cấp tính với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 42Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính với
các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 43Bảng 3.23 Mối liên quan giữa thái độ chấp nhận chọn nơi khám chữa bệnh với các
đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 44Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thái độ chấp nhận những biện pháp chăm sóc trẻ nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 45Bảng 3.25 Mối liên quan giữa thái độ chấp nhận những biện pháp phòng ngừa cho trẻ
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 46Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thực hành về chọn nơi khám bệnh với các đặc điểm
nhân khẩu học của bà mẹ 47Bảng 3.27 Mối liên quan giữa thực hành về chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 48Bảng 3.28 Mối liên quan giữa thực hành về phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 49Bảng 3.29 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ của bà mẹ về chăm sóc trẻ nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính 50Bảng 3.30 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 50Bảng 3.31 Mối liên quan giữa thái độ và thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính 50
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân loại mức độ kiến thức của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính… 32Biểu đồ 3.2 Phân loại mức độ thái độ của bà mẹ về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
34Biểu đồ 3.3 Phân loại mức độ thực hành của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
37
Trang 13
Ở Việt Nam, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, là nguyên nhân nhập viện thường gặp nhất ở trẻ em, chiếm 27,9% số ca nhập viện, đặc trưng bởi thời gian nằm viện dài (7,6 ngày) ngay cả trường hợp bệnh nhẹ [3], [33]
Nhận thức được tầm quan trọng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em, từ năm 1984 đến nay chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI) do WHO và UNICEF khởi xướng đã được triển khai thực hiện ở nước ta Cho đến nay chương trình đã triển khai rộng khắp trên 96% địa phương toàn quốc, đã có 98% trẻ em dưới 5 tuổi được chương trình bảo vệ Thành công của chương trình là giáo dục kiến thức cho
bà mẹ biết cách phát hiện sớm dấu hiệu của bệnh, đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời, chăm sóc và phòng ngừa bệnh cho trẻ [2]
Theo điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS) với sự hỗ trợ
kỹ thuật và tài chính của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) được Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2014, có 3% trẻ em dưới 5 tuổi được khai báo có triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong vòng 2 tuần trước thời điểm phỏng vấn Trong đó 81,1% được đưa đến cơ sở y tế và 88,2% được điều trị bằng kháng sinh Tuy nhiên, cứ mười trẻ em thì có một trẻ em (10%) có dấu hiệu nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nhưng không được điều trị hoặc tìm lời khuyên Số điều trị ở cơ sở y tế tư nhân cao hơn (56,4%) so với cơ sở y tế nhà nước (42,6%) [1]
Một trong những vai trò quan trọng của phụ nữ trong gia đình là chăm sóc và nuôi dạy con cái Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia châu Á khác, việc chăm sóc
Trang 14con cái chủ yếu do người mẹ đảm trách Công việc chăm sóc con cái của người mẹ bao gồm việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cả lúc trẻ khỏe mạnh lẫn lúc ốm đau Vì vậy nếu bà mẹ có kiến thức về bệnh thì họ có thể sử dụng để cải thiện thái độ, thực hành chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ [6], [7]
Chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không chỉ phụ thuộc vào cán bộ Y tế
mà còn phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc của bà mẹ Nhận biết sớm các dấu hiệu của bệnh có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong cho trẻ, góp phần giảm chi phí và thời gian điều trị bệnh [32], [36]
Hiểu biết của người mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm là nhân tố quyết định đối với hành vi chăm sóc và điều trị Trong điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS) với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) được Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2014, mẹ hoặc người chăm sóc chính của trẻ được hỏi về những dấu hiệu để họ quyết định đưa trẻ tới cơ sở y tế ngay lập tức, có khoảng 28,4% bà mẹ hoặc người chăm sóc chính của trẻ biết được ít nhất một trong hai dấu hiệu nguy hiểm của bệnh viêm phổi (trẻ thở nhanh hơn và/hoặc khó thở) Dấu hiệu phổ biến nhất để đưa trẻ tới cơ sở y tế là “khi trẻ bị sốt cao hơn” (90,8%), chỉ có 4,8% cho rằng khi trẻ thở nhanh hơn và 25,5% cho rằng khi trẻ khó thở là cần đưa ngay tới cơ sở y tế Khả năng nhận biết này tăng theo trình độ học vấn của người mẹ, 18,4% ở nhóm bà mẹ không có bằng cấp so với 32,5% ở nhóm trên trung học phổ thông [1]
Với mong muốn giúp bà mẹ nhận biết sớm các dấu hiệu của bệnh, kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế và lựa chọn phương pháp chăm sóc phù hợp, có kiến thức phòng bệnh đúng đắn cho trẻ nhằm giảm nhập viện không cần thiết và giảm chi phí điều trị
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng năm 2019” với các mục tiêu sau:
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng năm 2019
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.1.2 Phân loại về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.1.2.1 Phân loại theo vị trí giải phẫu
Lấy nắp thanh quản là ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới Nếu tổn thương ở phía trên nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp trên, tổn thương ở phía dưới nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp dưới
+ Nhiễm khuẩn khuẩn hô hấp trên là các viêm họng, viêm VA, viêmamidal, viêm xoang, viêm tai giữa, ho, cảm lạnh Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên thường nhẹ và ít gây tử vong
+ Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới thường gặp nhất là viêm phổi, tuy chỉ chiếm khoảng 1/3 số ca NKHHCT nhưng thường nặng và dễ gây tử vong [5], [23], [24]
1.1.2.2 Phân loại theo mức độ nặng nhẹ
Theo TCYTTG có thể dựa vào dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh
- Bệnh rất nặng: Trẻ có một trong các dấu hiệu nguy kịch
-Viêm phổi nặng: Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực
- Viêm phổi: Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực
- Không viêm phổi (ho và cảm lạnh): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực [5], [23], [24]
1.1.3 Các biểu hiện lâm sàng
1.1.3.1 Dấu hiệu thường gặp [5], [24]
- Ho
Trang 17+ Rút lõm lồng ngực là lồng ngực phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới của xương
ức rút lõm xuống trong thì hít vào
+ Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ có RLLN nhẹ thì chưa có giá trị chẩn đoán vì lồng ngực của trẻ còn mềm RLLN phải mạnh và sâu mới có giá trị chẩn đoán
-bThở khò khè (Wheezing):
+ Tiếng thở khò khè nghe ở thì thở ra
+ Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc lại ở trong phổi vì thiết diện các phế quản nhỏ bị hẹp lại
+ Khò khè hay gặp trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi
-0Thở rít (Stridor):
+ Tiếng thở rít nghe ở thì hít vào
+ Tiếng thở rít xuất hiện khi luồng khí đi qua chỗ hẹp ở thanh – khí quản + Hay gặp trong mềm sụn thanh quản bẩm sinh, viêm thanh quản rít, dị vật đường thở
- Tím tái
1.1.3.2 Dấu hiệu nguy kịch[5], [24]
*Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi:
- Trẻ không uống được hoặc bỏ bú
- Co giật
- Ngủ li bì hoặc khó đánh thức: Là khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh trẻ vẫn ngủ li bì hoặc mở mắt rồi ngủ lại ngay (khó đánh thức)
- Thở rít khi nằm yên
Trang 18- Suy dinh dưỡng nặng
* Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi:
Adenovirus, virus cúm, virus á cúm,…
Ở các nước đang phát triển vi khuẩn vẫn chiếm vị trí quan trọng trong
NKHHCT Vi khuẩn hay gặp nhất là các vi khuẩn phế cầu và H.influenzae, sau đó đến
tụ cầu, liên cầu và các vi khuẩn khác [5], [23], [24]
1.1.4.2 Các yếu tố nguy cơ
- Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp (dưới 2500g): Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi có cân nặng lúc sinh dưới 2500g cao hơn so với trẻ
có cân nặng trên 2500g
- Suy dinh dưỡng cũng là yếu tố mắc NKHHCT cao hơn trẻ bình thường và khi
bị NKHHCT thì thời gian điều trị kéo dài hơn, tiên lượng xấu hơn
- Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ: Nguy cơ tử vong do viêm phổi ở trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ
- Ô nhiễm không khí, khói bụi sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ niêm mạc hô hấp, các lông rung, quá trình tiết chất nhày cũng như hoạt động của đại thực bào, sự sản sinh các Globulin miễn dịch, do đó trẻ dễ bị NKHHCT
- Khói thuốc lá cũng là một yếu tố gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ
- Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em
- Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp,
Trang 19thiếu vitamin A cũng là điều kiện làm trẻ dễ mắc NKHHCT
Thiếu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và giảm khả năng biệt hoá của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hoá niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, do đó trẻ dễ bị NKHHCT [5], [23], [24]
1.1.5 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong
ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Năm 1997 giết chết khoảng 4 triệu trẻ em ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Trong đó viêm phổi là nghiêm trọng nhất và chiếm gần như tất cả các trường hợp tử vong do NKHHCT [38] Nguyên nhân tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi trên thế giới (năm 2004): Các bệnh không lây nhiễm là 4%, chấn thương là 4%, các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng khác là 9%, HIV/AIDS là 2%, sởi là 4%, sốt rét là 7%, bệnh tiêu chảy là 16%, viêm phổi là 17% [30]
Mặc dù việc thực hiện các can thiệp an toàn, hiệu quả đã làm giảm tỷ lệ tử vong
do viêm phổi từ 4 triệu vào năm 1981 xuống chỉ còn hơn một triệu vào năm 2013, nhưng viêm phổi vẫn chiếm gần 1/5 số ca tử vong ở trẻ em trên toàn thế giới [38] Ước tính vào năm 2000, 1,9 triệu trẻ em đã chết vì NKHHCT, 70% trong số trẻ
em đó ở Châu Phi và Đông Nam Á Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính có 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì viêm phổi mỗi năm [33].Trong năm 2010, có 120 triệu đợt viêm phổi (14 triệu trong số đó tiến triển đến các đợt nặng) ở trẻ dưới 5 tuổi Ước tính
có khoảng 1,3 triệu ca tử vong do viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2011 [28] Trên toàn thế giới, 70% tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi là do NKHHCT và
tỷ lệ tử vong là 20% (chủ yếu là viêm phổi), chiếm 2,04 triệu ca tử vong/năm Đông Nam Á đứng đầu về số lượng mắc NKHHCT, chiếm hơn 80% tổng số ca mắc bệnh cùng với các nước châu Phi cận Sahara Tại Ấn Độ, có hơn 700 triệu lần nhập viện do NKHHCT và hơn 52 triệu lần do viêm phổi, hơn 4000 ca tử vong mỗi năm do viêm phổi chiếm 13%-16% tổng số ca tử vong khi nhập viện nhi khoa
Các báo cáo gần đây cho thấy 3,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu là do NKHHCT gây ra Ở các nước đang phát triển, trung bình mỗi trẻ em có 5 đợt NKHHCT/năm chiếm 30%-50% tổng số lần khám ngoại trú nhi khoa và 20%-30% lần nhập viện nhi khoa Trong khi ở nước đang phát triển, một đứa trẻ có khả năng bị viêm
Trang 20phổi khoảng 0,3 lần/năm và ở các nước phát triển là 0,03 lần/trẻ/năm [34]
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, phần lớn tử vong viêm phổi (>75%) xảy ra tại 6 quốc gia: Campuchia, Trung Quốc, Lào, Papua New Guinea, Philippines và Việt Nam Mặc dù đạt được nhiều tiến bộ trong quản lý viêm phổi gần đây, tần suất mắc viêm phổi trẻ em Việt Nam vẫn cao gấp 10 lần các nước có thu nhập cao trong khu vực như Mỹ, Nhật Bản Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không chỉ tạo ra gánh nặng bệnh tật mà cả gánh nặng kinh tế đối với gia đình Chi phí điều trị và tác dụng phụ tăng lên nếu trẻ không được quản lý tốt (bao gồm cả nhập viện không cần thiết và sử dụng kháng sinh quá mức) Hiện tại NKHHCT là nguyên nhân nhập viện chính của trẻ em Việt Nam, chiếm 39,9% tổng nhập viện tại bệnh viện Nhi đồng II [33]
Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Thìn và Đàm Thị Tuyết (2013) về “Thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” trên 673 trẻ em Kết quả cho thấy: Tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT ở địa điểm nghiên cứu còn cao (39,5%), trong đó tỷ lệ không viêm phổi: Ho hoặc cảm lạnh (33,3%); Viêm phổi và viêm phế quản (5,6%); Viêm phổi nặng (0,6%.) Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính cao ở lứa tuổi từ 12 - 35 tháng tuổi (43,8%) [20]
Theo nghiên cứu của Ngô Viết Lộc và Võ Thanh Tâm (1017) về “Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” trên 746 trẻ em cho biết tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 23,5% [16]
1.1.6 Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1.1.6.1 Vai trò của bà mẹ trong chăm sóc trẻ
Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình Những đứa con từ khi mới sinh ra đến khi trưởng thành, phần lớn thời gian là gần gũi
và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ bố Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng
ẳm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau [19] Phụ nữ là “nội tướng” của gia đình, là một chủ thể của đời sống xã hội và cộng đồng, là người chăm sóc người già, nuôi dưỡng thế hệ tiếp theo [15] Vì vậy các bà mẹ
là người có thể nhận biết các dấu hiệu bệnh sớm nhất của trẻ em, chăm sóc, theo dõi
và phòng bệnh tốt nhất cho trẻ
Trang 211.1.6.2 Hướng dẫn chăm sóc tại nhà cho trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
* Chăm sóc trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi [4], [5], [23]
- Nuôi dưỡng:
+ Cho trẻ ăn tốt hơn khi ốm, bồi dưỡng thêm khi trẻ khỏi bệnh đề phòng suy dinh dưỡng + Tiếp tục cho trẻ ăn lúc bệnh
+ Thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu
+ Chia làm nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít vì trẻ bị chán ăn
+ Không kiêng trong chế độ ăn như: Tôm, cua, dầu, mỡ…
- Cho trẻ uống nhiều nước (nước chín, nước chanh, nước cam)/ Bú mẹ nhiều lần
để bù lại lượng nước mất do sốt, thở nhanh, nôn trớ, tiêu chảy và hơn nữa nước còn có tác dụng làm loãng đàm
- Giảm ho, làm dịu đau họng bằng các loại thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường, hoa hồng hấp đường, mật ong,…
- Lau sạch làm thông mũi
- Vấn đề quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy một trong các dấu hiệu sau:
Trang 22một lượng nhiều hơn trong một lần bú
- Làm sạch và thông thoáng mũi nếu trẻ bị chảy mũi, tắc mũi ảnh hưởng đến việc ăn, bú của trẻ
- Cách làm:
+ Dùng giấy thấm hoặc vải thấm quấn thành sâu kèn
+ Đặt sâu kèn vào mũi khi sâu kèn thấm ướt lấy ra và đặt sâu kèn khác đến khi khô
- Giữ ấm cho trẻ nhất là về mùa lạnh
- Quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau:
- Nới rộng quần áo, tã lót
- Cho trẻ uống nhiều nước
- Chườm mát
- Khi trẻ sốt ≥ 38,5°C dùng thuốc hạ sốt Paracetamol 10 – 15mg/kg/lần
1.1.6.3 Hướng dẫn phòng bệnh cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
- Làm tốt công tác quản lý thai nghén để đảm bảo trẻ không bị đẻ non, đẻ thấp cân Tổ chức cuộc đẻ an toàn, không để trẻ hít phải nước ối, không bị ngạt
Trang 23- Đảm bảo nuôi trẻ bằng sữa mẹ, cho trẻ bú mẹ sau khi sinh càng sớm càng tốt,
ăn sam một cách khoa học đảm bảo chế độ dinh dưỡng, đủ vitamin, đặc biệt vitamin
- Giữ ấm cho trẻ về mùa lạnh và khi thay đổi thời tiết
- Phát hiện sớm và xử lý đúng các trường hợp mắc bệnh NKHHCT theo phác đồ
- Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bà mẹ về cách phát hiện, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khi bị NKHHCT
- Khi trẻ bị viêm đường hô hấp cần được khám bệnh và theo dõi kịp thời
- Cách ly trẻ với trẻ đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan
- Rửa tay trước và sau khi chăm sóc trẻ: Đây là biện pháp đơn giản, hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc NKHHCT [2], [4], [5], [24]
1.2 Các nghiên cứu về chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Lulu Muhe (1995) nhận thức của các bà mẹ về các dấu hiệu và triệu chứng NKHHCT ở trẻ em: Trên tổng số 222 bà mẹ đưa con đến bệnh viện vì ho hoặc khó thở thì có khoảng 70% các bà mẹ không nhận ra những dấu hiệu này là nghiêm trọng, bao gồm cả những dấu hiệu chính của bệnh viêm phổi như thở nhanh và rút lõm lồng ngực Nghiên cứu kết luận rằng cần cung cấp kiến thức cho bà
mẹ về nhận biết các dấu hiệu và triệu chứng sớm của bệnh [32]
Theo nghiên cứu của B Folasae Iyun & Goran Tomson (1996) phỏng vấn 419
bà mẹ về nhận thức về nguyên nhân và điều trị NKHHCT ở trẻ em cho biết: Hầu hết các bà mẹ coi các đợt NKHHCT là ho và cảm lạnh thông thường Họ cho rằng nguyên nhân này chủ yếu là do tiếp xúc vớilạnh và cơ thể bị cảm lạnh, trong khi không ai trong số họ đề cập đến các tác nhân virus hoặc vi khuẩn Xử trí về biểu hiện nôn mửa thì họ buộc trẻ phải nuốt các phương thuốc đắng như nước tiểu bò hoặc sử dụng một
Trang 24phương thuốc có đặc tính làm ấm và làm dịu Bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng của các nghiên cứu khoa học xã hội về hành vi để thay đổinhận thức của cộng đồng về nguyên nhân và thực hành bệnh Việc sử dụng các biện pháp không phù hợp nên được khắc phụcvà kiểm soát [37]
Theo kết quả nghiên cứu của D.E Simiyu, E.M Wafula, R.W Nduati (2003) phỏng vấn 309 bà mẹ về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến NKHHCT ở trẻ
em cho biết: Có 18% bà mẹ mô tả viêm phổi thỏa đáng, 87,1% bà mẹ cho biết họ sẽ tìm kiếm các dịch vụ của trung tâm y tế cho NKHHCT nặng Các bà mẹ có kiến thức tốt về các dạng NKHHCT nhẹ nhưng không phải là các dạng nặng Thái độ của họ đối với NKHHCT là phù hợp nhưng các xử trí sau đó thì không [36]
Theo nghiên cứu của Neeru Gupta, S.K.JainRatnesh và cộng sự (2007) về kiểm soát NKHHCT trên 1307 trẻ em dưới 5 tuổi, kết quả có 191 trẻ (14,6%) đã mắc NKHHCT trong hai tuần trước Các triệu chứng phổ biến của các trường hợp NKHHCT là chảy nước mũi nhẹ (78%), ho (76,4%) và / hoặc sốt (45,5%), chỉ có 8 trẻ (4%) thở nhanh Một hoặc nhiều dấu hiệu nguy hiểm đã được 80% mà mẹ nhận biết (152/191) và một số lượng tương đương (80%) bà mẹ đã tìm cách điều trị [29]
Theo nghiên cứu của Kumar S Ganesh, Majumdar A và cộng sự (2015) trên
509 bà mẹ của trẻ em dưới 5 tuổi liên quan đến tỷ lệ mắc NKHHCT cùng với các yếu
tố liên quan đến nhân khẩu học và xã hội ở khu vực thành thị và nông thôn Tỷ lệ hiện mắc chung của NKHHCT được quan sát là 59,1%, với tỷ lệ lưu hành ở khu vực thành thị và nông thôn lần lượt là 63,7% và 53,7% Nghiên cứu chỉ ra rằng nơi cư trú và giáo dục của người mẹ có liên quan đáng kể đến NKHHCT, tỷ lệ mắc NKHHCT rất cao, đặc biệt là ở khu vực thành thị Cải thiện điều kiện sống có thể giúp giảm gánh nặngNKHHCT trong cộng đồng [31]
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Qua nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2008) về “Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã miền núi tỉnh Bắc Cạn” trên 552 trẻ em Phân loại theo mức độ bệnh: Thể không viêm phổi, ho hoặc cảm lạnh chiếm 35,69 %; Thể viêm phổi là 4,17 %; Thể viêm phổi nặng hoặc bệnh rất nặng là 0,91% Tỷ lệ mắc NKHHCT tăng dần theo nhóm tuổi Nhóm trẻ từ 12 – 35 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất: 45,02% Ở thể không viêm phổi, ho hoặc cảm lạnh trẻ có tỷ lệ mắc tăng dần theo nhóm tuổi, mắc cao nhất ở nhóm 36 – 59 tháng tuổi:
Trang 2539,37% Ở thể viêm phổi nặng hoặc bệnh rất nặng trẻ có tỷ lệ mắc cao ở nhóm trẻ từ 0 – 1 tháng tuổi: 5,13%, trẻ càng lớn tỷ lệ mắc viêm phổi nặng giảm dần Trẻ nam tại khu vực nghiên cứu có tỷ lệ mắc NKHHCT là 38,36%, tỷ lệ mắc ở trẻ nữ là 43,72% Trình độ học vấn của các bà mẹ có ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ Nhóm trẻ
là con các bà mẹ có trình độ học vấn từ bậc THCS trở xuống có nguy cơ mắc NKHHCT cao gấp 1,9 lần so với nhóm trẻ con các bà mẹ có trình độ học vấn từ bậc THPT trở lên Nhóm trẻ là con các bà mẹ có nghề nghiệp là làm ruộng, công nhân, buôn bán hoặc nghề khác có nguy cơ mắc NKHHCT cao gấp 2,76 lần so với nhóm trẻ
là con các bà mẹ làm giáo viên hoặc công chức nhà nước Nhóm trẻ là con của các bà
mẹ có kiến thức kém có nguy cơ mắc NKHHCT cao gấp 1,54 lần nhóm trẻ con của các bà mẹ có kiến thức trung bình Các yếu tố nguy cơ thuộc về trẻ như : Tiêm chủng không đầy đủ (OR=7,92), cân nặng thấp khi sinh (OR=1,96) và thời gian cai sữa cho trẻ quá sớm (OR=1,53) Các yếu tố nguy cơ thuộc về môi trường sống như làm chuồng gia súc gần nhà (OR=2,55), tình trạng nhà ở ẩm thấm (OR=2,31), kinh tế gia đình nghèo (OR= 1,56), loại nhà ở tạm (OR=1,49), trẻ sống trong các hộ gia đình có người lớn hút thuốc lá, lào trong nhà có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn 1,39 lần so với trẻ nhóm sống trong các hộ gia đình không có người lớn hút thuốc lá, lào (OR=1,39), bếp đun trong nhà (OR=1,25), quy mô gia đình đông người (OR = 2,63) [22]
Nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết (2010) về “Một số đặc điểm dịch tễ và hiệu quả can thiệp đối với nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện chợ mới, tỉnh Bắc Cạn” trên 593 bà mẹ Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ trước thời điểm can thiệp còn cao, chiếm 43,9%, nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp (36,1%), nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp (7,8%) Nhóm trẻ từ 36 – 60 tháng có tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp trên cao nhất (41,0%), nhóm trẻ từ 2 – <12 tháng có tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp cao nhất (11,0%) Tỷ lệ NKHHC chiếm tỷ lệ cao nhất (46,2%) ở nhóm trẻ là con của các bà mẹ mù chữ, biết đọc biết viết và thấp nhất là con của các bà mẹ có trình độ THPT (30,2%) Nhóm trẻ của bà mẹ có trình độ từ tiểu học trở xuống có nguy cơ mắc nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp cao gấp 1,79 lần nhóm trẻ của bà mẹ có trình độ học vấn
từ THCS trở lên Nhóm trẻ là con của bà mẹ có kiến thức kém thì có nguy cơ mắc NKHH dưới cấp cao gấp 3,69 lần so với nhóm trẻ con của bà mẹ có kiến thức trung bình và khá, tốt Nhóm trẻ con của bà mẹ có thực hành kém thì có nguy cơ mắc NKHH dưới cao gấp 5,18 lần nhóm trẻ con của bà mẹ có mức độ thực hành trung bình
Trang 26và khá, tốt với p<0,01 Tỷ lệ bà mẹ có thái độ tốt (đồng ý) chiếm khoảng từ 57,9 % đến 76,3% Tỷ lệ các bà mẹ không biết chiếm khoảng (9,2% đến 24,1%) Có nhiều yếu
tố liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp dưới của trẻ ở khu vực miền núi: Tiêm chủng không đủ hoặc đủ nhưng không đúng lịch, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ kém, cai sữa sớm dưới 12 tháng, mẹ thiếu kiến thức chăm sóc trẻ, gia đình có người hút thuốc
lá, thuốc lào trong nhà, gần trẻ, chuồng gia súc gần nhà, tình trạng nhà ẩm thấp, bếp đun trong nhà [25]
Theo nghiên cứu của Lý Thị Chi Mai và Huỳnh Thanh Liêm (2011) về “Tình hình mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới
5 tuổi tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh” trên 600 trẻ em cho biết: Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ < 5 tuổi trong 2 tuần là 36,5% Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở nhóm trẻ suy dinh dưỡng: 50% và tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở nhóm trẻ không suy dinh dưỡng: 35,5% Có một mối liên quan giữa kiến thức đúng về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ với tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi Các bà mẹ có kiến thức đúng về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thì con của họ mắc bệnh (31,2%), thấp hơn con của các bà mẹ có kiến thức không đầy đủ (47,9%) [17]
Nghiên cứu của Đặng Thị Thu Lệ, Nguyễn Hữu Hiếu và Trần Thị Thanh Hương (2014) về “Thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi viêm phổi của các bà mẹ tại khoa hô hấp nhi bệnh viện Xanh Pôn năm 2014” trên 200 bà mẹ Kết quả cho thấy 53% bà mẹ có thực hành đúng khi chăm sóc trẻ bị viêm phổi; 86,5% bà mẹ vệ sinh mũi họng hàng ngày cho trẻ; 67% bà mẹ cho trẻ dùng siro ho khi trẻ bị ho Các bà mẹ
có kiến thức đúng về viêm phổi thực hành đúng cao gấp 8,1 lần các bà mẹ thiếu kiến thức, trong đó các bà mẹ có trình độ học vấn trên THPT thực hành đúng cao gấp 2,1 lần các bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống Việc nâng cao khả năng thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ sẽ làm giảm thời gian điều trị và những biến chứng xấu có thể xảy ra cho trẻ [13]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2015) về “Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại khoa Nội bệnh viện Nhi Quảng Nam” trên 500 bà mẹ Kết quả cho thấy kiến thức của bà mẹ về NKHHCT về dấu hiệu sốt chiếm nhiều nhất 78,4%, dấu hiệu chảy nước mũi chiếm ít nhất 53,2%, trong các bệnh của NHKKCT thì viêm phổi được
Trang 27biết nhiều nhất 77,8% và ít nhất là viêm amidan chiếm 13,2%; dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đến cơ sở y tế khi sốt cao liên tục là 79%, bú kém là 42% và có 1,8% bà mẹ không biết dấu hiệu nào, 87,2% cho rằng NKHHCT có lây và lây qua đường không khí chiếm nhiều nhất 65,6%, nguồn thông tin bà mẹ nhận được qua sách báo là 28% và qua cán bộ y tế là 54% Thái độ thực hành của bà mẹ, 70,6% bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y
tế, 7,8% bà mẹ tự ra quầy mua thuốc cho trẻ uống và 3% không làm gì để trẻ tự khỏi bệnh, 56% dùng giấy thấm sâu kèn hoặc vải mềm để lau mũi, khi trẻ ho và sốt cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường 74% và uống ít hơn 4,6%, cho trẻ ăn nhiều bữa hơn bình thường 51,2%, ăn ít bữa hơn 22%, không kiêng cữ 20,6% Phòng ngừa NKHHCT cho trẻ bằng cách giữ ấm khi trời lạnh 79,6%, tiêm chủng đầy đủ 63,4%, tránh khói thuốc lá 60%, tránh khói bụi 57,6% Nghiên cứu còn chỉ ra có mối liên quan giữa trình
độ học vấn của bà mẹ với kiến thức về đường lây của bệnh [21]
Nghiên cứu của Chu Thị Thùy Linh (2016) về “Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại bênh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên” trên 385 bà mẹ Kết quả cho thấy số bà mẹ biết về NKHHCT khá cao chiếm 93,2% Dấu hiệu bệnh được bà mẹ biết đến nhiều nhất là ho chiếm 92,7%, tiếp đến là sốt chiếm 76,1% Khó thở là dấu hiệu mẹ cho rằng cần đưa trẻ đi khám ngay chiếm 84,4% Co giật là dấu hiệu bà mẹ cho rằng tình trạng bệnh nặng hơn chiếm 58,7% Số bà mẹ biết làm khô mũi bằng giấy thấm sâu kèn chiếm 37,1% Biện pháp phòng bệnh được bà mẹ biết đến nhiều nhất là giữ ấm chiếm 94,1% Thái độ của bà mẹ đồng ý với biện pháp phòng bệnh, chọn cơ sở y tế khám chữa bệnh, biện pháp chăm sóc trẻ chiếm tỷ lệ cao 100%, 88,3%, 86% Thực hành chọn đúng nơi khám bệnh không cao 31,4%, uống nhiều nước hơn bình thường khi trẻ sốt, ho 62,3%, yêu cầu thành viên không hút thuốc lá trong nhà 99,7%, cho trẻ bú sữa mẹ đầy đủ 99,7%, tiêm chủng đúng quy định 88,8% Nguồn thông tin về bệnh NKHHCT mà bà
mẹ tiếp cận được nhiều nhất từ loa truyền thanh, đài chiếm 82,6% Nguồng thông tin
mà bà mẹ tin tưởng nhất là từ cán bộ y tế chiếm 51,4% Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức về bệnh, kiến thức về dấu hiệu bệnh, kiến thức chăm sóc trẻ, kiến thức về biện pháp phòng bệnh với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ Thái
độ chọn nơi khám, chấp nhận biện pháp phòng bệnh cũng liên quan với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ Thực hành chăm sóc trẻ, chọn nơi khám bệnh, phòng ngừa bệnh
có mối liên quan với trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ [14]
Trang 28Nghiên cứu của Thành Minh Hùng và cộng sự (2016) “Đặc điểm nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi điều trị tại khoa nhi bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Hồi năm 2016” trên 102 bà mẹ Có 43,1% các bà mẹ biết được NKHHCT, 84,3% biết đến bệnh viêm phổi; 82,4% các bà mẹ cho rằng viêm phổi là bệnh nguy hiểm; 70,6% các bà mẹ cho rằng NKHHCT có khả năng lây truyền và 90,7% trả lời đúng về đường lây truyền; 46,1% các bà mẹ nhận biết đầy đủ các triệu chứng của NKHHCT, có 15,7% nhận biết đầy đủ về các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân Có 3,9%
bà mẹ không làm gì khi trẻ mắc NKHHCT; 71,6% lựa chọn đưa trẻ đi khám bệnh tại
cơ sở y tế Nhà Nước; 7,8% tự mua thuốc về cho trẻ uống; 16,7% đưa trẻ đi khám bệnh tại y tế tư nhân Có 54,9% bà mẹ có kiến thức thực hành đúng cho trẻ ăn, bú, 54,5% bà
mẹ trả lời đúng cho trẻ uống nước khi mắc NKHHCT, có 89,2% các bà mẹ dùng thuốc cho trẻ theo hướng dẫn của thầy thuốc, 97,1% bà mẹ kể ra được ít nhất 2 nội dungdự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp cho trẻ Mức độ nặng của viêm phổi gặp nhiều ở trẻ nhỏ hơn trẻ lớn Bạch cầu tăng tỷ lệ với mức độ nặng của phân loại viêm phổi Trình
độ học vấn của bà mẹ liên quan đến nhận biết dấu hiệu nguy kịch của trẻ bị NKHHCT,
bà mẹ có học vấn THPT nhận biết dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ tốt chiếm 20,8%, biết trung bình 70,8%, không biết 8,4%; tương ứng với nhóm có học vấn tiểu học là 0%, 44,5%,55,6% [10]
1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu
Chăm sóc trẻ NKHHCT không chỉ phụ thuộc vào cán bộ y tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc của bà mẹ Nhận biết sớm các dấu hiệu của bệnh có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong cho trẻ, góp phần giảm chi phí và thời gian điều trị bệnh Hiểu biết của người mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm là nhân tố quyết định đối với hành vi chăm sóc và điều trị
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành
về bệnh NKHHCT với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ Trình độ học vấn, nghề nghiệp của các bà mẹ có ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ Nhóm trẻ là con của
bà mẹ có kiến thức kém, thực hành kém và thái độ không tốt (không đồng ý) thì có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn so với nhóm trẻ con của bà mẹ có kiến thức trung bình, khá và tốt; thực hành trung bình,khá vàtốt; và thái độ tốt (đồng ý)
Trang 29Đặc điểm nhân khẩu học của các bà mẹ
(Tuổi, dân tộc, nơi cư trú, trình
độ học vấn, nghề
nghiệp, số con)
Kiến thức, thái
độ và thực hành của bà mẹ
(Bệnh NKHHCT, chăm sóc trẻ NKHHCT, dự phòng bệnh
NKHHCT)
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành
NKHHCT
(Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ bao gồm: Tuổi, dân tộc, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con)
Nguồn thông tin
bà mẹ tiếp cận với bệnh NKHHCT
Hình 1.3.1 Khung lý
thuyết
Trang 301.4 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng (số 57 đường Thánh Mẫu, phường 7, TP Đà Lạt)
có tổng diện tích hơn 17.000m² Hoạt động với quy mô 60 giường bệnh, bệnh viện gồm 4 khoa lâm sàng: Khoa khám bệnh – Hồi sức cấp cứu và sơ sinh; Khoa nội – Vật
lý trị liệu – Nhiễm; Khoa ngoại – Liên chuyên khoa và Khoa dược – Cận lâm sàng Bệnh viện hoạt động với 146 giường bệnh, với số lượng bác sĩ là 20, điều dưỡng là 36 và hộ lý là 10 Trung bình mỗi ngày có 130 lượt bệnh nhi tới khám bệnh
và khoảng 15 bệnh nhi nhập viện để điều trị liên quan đến bệnh lý về nhiễm khuẩn hô hấp
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi (ngày sinh từ 16/5/2014 đến 15/5/2019) nhập viện vào bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng vì bệnh NKHHCT trong thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng 5/2019
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Các bà mẹ thuộc đối tượng nghiên cứu có khả năng giao tiếp và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn không lựa chọn
Bà mẹ có con trong tình trạng nguy kịch, cấp cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: 12/2018 – 8/2019
- Địa điểm: Bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
n: Là cỡ mẫu điều tra
z: Là hệ số tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất α=0,05 (vậy z=1,96)
p: Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về NKHHCT ước tính là 50% (p=0,5)
△: Độ sai lệch mong muốn, trong nghiên cứu này chọn d=0,05
Với các số liệu trên tính được n=385 người bệnh
Trang 322.5 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, lũy tích đủ cỡ mẫu trong khoảng thời gian nghiên cứu
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Tham khảo hồ sơ bệnh án để lựa chọn đối tượng nghiên cứu phù hợp, ghi chép thông tin của bệnh nhi
- Tham khảo về chương trình phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em của
+ Nguồn thông tin bà mẹ tiếp cận với bệnh NKHHCT
Bộ công cụ sau khi xây dựng được đánh giá thử nghiệm trên 30 bà mẹ (30 bà
mẹ không có trong danh sách các bà mẹ tham gia nghiên cứu)
- Phương pháp thu thập số liệu là phát phiếu tự điền cho các bà mẹ bệnh nhi
- Các bước thu thập số liệu : + Bước 1: Lựa chọn các bà mẹ theo tiêu chuẩn chọn mẫu
+ Bước 2: Giải thích, thuyết phục bà mẹ tham gia nghiên cứu Bà mẹ đồng ý sẽ
Trang 332.7 Các biến số nghiên cứu
- Nhóm biến số về thông tin chung của bà mẹ: Tuổi, dân tộc, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số con
- Nhóm biến số về kiến thức bao gồm: Các bệnh thuộc bệnh NKHHCT, dấu hiệu NKHHCT, dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay, dấu hiệu bệnh nặng hơn, cách cho trẻ
ăn khi mắc bệnh, cách làm sạch mũi cho trẻ, đường lây của bệnh NKHHCT, biện pháp phòng ngừa
- Nhóm biến số về thái độ bao gồm: Thái độ về phòng ngừa NKHHCT cho trẻ (Giữ ấm khi thời tiết lạnh, không hút thuốc lá trong nhà, tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch, cho trẻ bú mẹ, cách ly với trẻ đang bị NKHHKCT), chọn nơi khám bệnh, làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn, hướng dẫn của nhân viên y tế
- Nhóm biến số về thực hành bao gồm: Chăm sóc khi trẻ khi bị bệnh (uống nước khi sốt hoặc ho, cho trẻ ăn đầy đủ dinh dưỡng), sử dụng thuốc cho trẻ, làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn, đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch, không cho trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá, cho trẻ bú mẹ
- Nhóm biến số về nguồn thông tin bao gồm: Nguồn thông tin bà mẹ tiếp cận với bệnh NKHHCT, nguồn thông tin bà mẹ tin cậy nhất trong việc phòng ngừa và chăm
Bảng 2.1: Phân loại kiến thức của đối tượng nghiên cứu
Trang 342.8.1.1 Kiến thức về bệnh NKHHCT :
Bà mẹ có kiến thức về bệnh NKHHCT khi biết một trong các bệnh:
- Viêm phổi
- Viêm phế quản
- Viêm tiểu phế quản
- Viêm thanh quản
- Khác (viêm họng, viêm amidan, viêm V.A)
2.8.1.2 Kiến thức về dấu hiệu NKHHCT
Bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu NKHHCT là bà mẹ biết ≥ 2 trong 4 dấu hiệu:
- Sốt: Khi nhiệt độ ≥ 37,5°C
- Ho
- Khó thở
- Thở khò khè (Wheezing):
+ Tiếng thở khò khè nghe ở thì thở ra
+ Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc lại ở trong phổi vì thiết diện các phế quản nhỏ bị hẹp lại
+ Khò khè hay gặp trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi
2.8.1.3 Kiến thức về dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay
Bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay là bà mẹ biết 3 trong 5 dấu hiệu:
+ Tiếng thở rít nghe ở thì hít vào
+ Tiếng thở rít xuất hiện khi luồng khí đi qua chỗ hẹp ở thanh – khí quản
Trang 35+ Hay gặp trong mềm sụn thanh quản bẩm sinh, viêm thanh quản rít, dị vật đường thở
2.8.1.4 Kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng hơn
Bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu bệnh nặng hơn là bà mẹ biết 3 trong 5 dấu hiệu:
2.8.1.5 Kiến thức về cách cho trẻ ăn khi mắc bệnh NKHHCT
Bà mẹ có kiến thức đúng về cách cho trẻ ăn khi mắc bệnh NKHHCT là bà mẹ biết ≥ 2 trong 3 cách:
- Ăn đầy đủ chất dinh dưỡng (thịt, cá, trứng, sữa,…)
- Không kiêng cữ dầu, mỡ, tôm, cua,…
- Cho ăn làm nhiều bữa, mỗi bữa một ít
2.8.1.6 Kiến thức về cách làm sạch mũi cho trẻ bị NKHHCT
Bà mẹ có kiến thức đúng về cách làm sạch mũi cho trẻ bị NKHHCT là biết làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn
2.8.1.7 Kiến thức về phòng bệnh NKHHCT
Bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh NKHHCT là bà mẹ biết ≥ 3 trong
6 cách :
- Không cho trẻ tiếp xúc với khói bụi
- Không cho trẻ tiếp xúc khói thuốc lá trong nhà
- Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh (đặc biệt phần cổ và ngực trẻ)
- Cho trẻ bú sữa mẹ
- Tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch
- Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan
2.8.1.8 Kiến thức về đường lây của bệnh NKHHCT
Bà mẹ có kiến thức đúng về đường lây của bệnh NKHHCT là bà mẹ biết
Trang 36NKHHCT lây qua đường không khí
2.8.2 Các biến số về thái độ
Là biến định danh, ghi nhận những thái độ của bà mẹ về bệnh NKHHCT, chăm sóc trẻ mắc NKHHCT và dự phòng NKHHCT Gồm 10 câu hỏi: Trả lời đúng 1 câu bà
mẹ được 1 điểm, trả lời sai không có điểm Thang đo đánh giá thái độ được phân thành
2 mức: Thái độ tích cực và không tích cực Bà mẹ được đánh giá là thái độ tích cực nếu đạt số điểm ≥ 7 điểm, không tích cực nếu đạt số điểm< 7 điểm
Bảng 2.2 Phân loại thái độ của đối tượng nghiên cứu
- Không có người hút thuốc lá trong nhà
- Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh
- Nuôi con bằng sữa mẹ
- Tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch
- Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan
2.8.2.2 Thái độ chấp nhận nơi khám chữa bệnh
Bà mẹ có thái độ đúng về chấp nhận nơi khám chữa bệnh là bà mẹ chấp nhận sự cần thiết của biện pháp: Khi trẻ bị NKHHCT cần đưa trẻ đến khám tại bệnh viện hoặc
cơ sở y tế
2.8.2.3 Thái độ chấp nhận những biện pháp chăm sóc trẻ
Bà mẹ có thái độ đúng về chấp nhận biện pháp chăm sóc trẻ là bà mẹ chấp nhận
sự cần thiết của các biện pháp :
- Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng
- Làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn
Trang 372.8.3 Biến số về thực hành
Là biến định danh, ghi nhận những việc làm của bà mẹ về bệnh NKHHCT, chăm sóc trẻ mắc NKHHCT và dự phòng NKHHCT Gồm 8 câu hỏi: Trả lời đúng 1 câu bà mẹ được 1 điểm, trả lời sai không có điểm Thang đo đánh giá thực hành được phân thành 2 mức: Thực hành đạt và không đạt Bà mẹ được đánh giá là thực hành đạt nếu đạt số điểm ≥ 75% tổng số điểm (≥ 6 điểm), không đạt nếu đạt số điểm < 75% tổng sổ điểm (< 6 điểm)
Bảng 2.3: Phân loại thực hành của đối tượng nghiên cứu
< 6 điểm ( 75%) Không đạt
2.8.3.1 Thực hành về chăm sóc trẻ khi mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Bà mẹ thực hành đúng về chăm sóc trẻ khi mắc bệnh NKHHCT là bà mẹ làm những việc sau :
- Cho trẻ uống nước khi sốt hoặc ho đúng khi bà mẹ làm ≥ 2 trong 3 cách: + Cho trẻ uống nước nhiều hơn bình thường
+ Tăng số lần uống hoặc số lần bú lên
+ Cho trẻ uống thêm nước trái cây
- Khi trẻ ho cho trẻ uống siro ho tây y hoặc dùng các biện pháp giảm ho trong dân gian
- Làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn
2.8.3.2 Thực hành về chọn nơi khám chữa bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Bà mẹ thực hành đúng về chọn nơi khám chữa bệnh NKHHCT là bà mẹ làm việc sau : Khi trẻ bị NKHHCT cần đưa trẻ đến khám tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế
2.8.3.3 Thực hành về phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Bà mẹ thực hành đúng về phòng ngừa NKHHCT là bà mẹ làm những việc sau:
- Không cho trẻ tiếp xúc khói thuốc lá trong nhà
- Cho trẻ bú sữa mẹ
Trang 38- Tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch
- Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
- Xử lý trong khi thu thập số liệu:
+ Tất cả những số liệu thu thập được kiểm tra làm sạch và hoàn thiện
+ Những dữ liệu không phù hợp được điều chỉnh và bổ sung ngay Nếu không thể thu thập được thông tin cần thiết thì thay bằng một phiếu điều tra khác
ở ngưỡng xác suất p<0,05
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Việc thực hiện nghiên cứu phải được sự chấp thuận và hỗ trợ của Hội đồng khoa học Trường đại học Điều dưỡng Nam Định và lãnh đạo bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu được giải thích đầy đủ về mục đích và nội dung nghiên cứu Bà mẹ có quyền đồng ý hay từ chối tham gia phỏng vấn mà không ảnh hưởng đến chất lượng khám và chữa bệnh của họ Việc tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện Các thông tin thu thập được chỉ phục vụ đúng cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu nâng cao kiến thức, thực hành chăm sóc và phòng bệnh NKHHCT cho trẻ em dưới 5 tuổi của các bà mẹ Kết quả nghiên cứu có thể phục vụ cho cán bộ y tế trong việc truyền thông, giáo dục sức khỏe đúng và phù hợp cho các bà mẹ về phòng chống NKHHCT cho con mình, từ đó bà mẹ có kiến thức, thái độ đúng và thực hành chăm sóc cho trẻ NKHHCT tốt hơn
Trang 392.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu qua bộ câu hỏi bà mẹ tự trả lời chứ không phải qua quan sát của người phỏng vấn nên kết quả điều tra về thực hành của bà mẹ có thể chưa được xác thực
- Do thời gian và kinh phí không cho phép khai thác hết kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ Vì thế còn nhiều kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ chưa được khảo sát trong nghiên cứu như: Nguyên nhân gây bệnh, yếu tố nguy cơ, cho trẻ uống thuốc đúng cách, dấu hiệu đưa trẻ đi tái khám
2.11.2 Những sai số có thể có trong quá trình nghiên cứu
- Sai số trong quá trình thu thập số liệu do đối tượng không trả lời đúng sự thật
và thiếu thông tin do đối tượng từ chối trả lời một số câu hỏi
- Sai số trong quá trình nhập, xử lý số liệu do nhập số liệu và xử lý số liệu bằng máy tính
2.11.3 Biện pháp khắc phục sai số
- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, logic và sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu
- Điều tra viên được tập huấn cẩn thận về kỹ năng sử dụng bộ câu hỏi, kỹ năng tiếp cận đối tượng và làm thử trước khi tiến hành thu thập số liệu
- Số liệu sau khi đã được thu thập đầy đủ sẽ tiến hành làm sạch, quá trình nhập số liệu cần thống nhất giữa các thành viên và người xử lý số liệu cần có chuyên môn cao
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện tại bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ (n=385)
Nhận xét: Qua kết quả phân tích cho thấy, bà mẹ nhóm tuổi < 26 tuổi chiếm
37,1%, ≥ 26 tuổi chiếm 62,9%, tuổi trung bình của bà mẹ là 27,55 tuổi, tuổi cao nhất
44 tuổi, tuổi thấp nhất 18 tuổi Bà mẹ dân tộc kinh chiếm 74,8%, bà mẹ dân tộc thiểu