Trong quá trình phát triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn như hiện này, một lượng chất thải sinh ra gây tác hại xấu đến môi trường.. Chăn nuôi quốc doanh không đóng vai trò
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CƠNG NGHỆ TPHCM
KHOA MƠI TRƯỜNG VÀ CƠNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRANG TRẠI CHĂN VĂN LỢI NUÔI HUYỆN
THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI
Trang 2TP.Hồ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2007
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước với tốc độ phát triển nhanh chóng, các cơ sở sản xuất là các tế bào đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi,…được xây dựng và mở rộng nhằm cải thiện đời sống đáp ứng nhu cầu của con người Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu về nhu câu đời sống kinh tế – xã hội Chính những quá trình sản xuất này đã làm cho môi trường ngày càng xuống cấp trầm trọng và gây ra cho con người nhiều bệnh tật hiểm nghèo
Ngành chăn nuôi hàng hóa đã và đang phát triển với qui mô ngày càng lớn, nhằm cung cấp một lượng lớn thực phẩm động vật cho nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người Tuy nhiên, ngoài việc mang lại lợi ích về kinh tế, thoả mãn nhu cầu đời sống con người, vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra cần được quan tâm Sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khoẻ con người Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để việc triển chăn nuôi phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người
Ở Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng, khía cạnh môi trường của ngành chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức Trong quá trình phát triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn như hiện này, một lượng chất thải sinh ra gây tác hại xấu đến môi trường Với mật độ gia súc cao có thể gây ô nhiễm không khí bên trong chuồng trại, ô nhiễm từ hệ thống lưu trữ chất thải và ô
Trang 3nhiễm từ nguồn nước thải sinh ra trong việc dội chuồng và tắm rửa gia súc Ngoài
ra chất thải chăn nuôi còn là một nguồn lây lan các virus nhiễm bệnh trong gia cầm và có thể lây sang con người Một số ít nghiên cứu dùng phân gia súc vào các mục đích kinh tế khác như phân bón, biogas… đã được thực hiện Tuy nhiên chưa có những nghiên cứu đánh giá toàn diện hiện trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra để góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững
Ở trang trại chăn nuôi Văn Lợi, chăn nuôi chỉ tập trung chủ yếu là nuôi heo Các vấn đề môi trường ở đây chưa được quan tâm nhiều, chỉ có hệ thống xử lý biogas nhưng đã xuống cấp trầm trọng Hơn nữa hệ thống biogas nay cũng được thiết kế chưa đung kỷ thuật nện hiệu quả xử lý nước thải rất kém, nước thải sau hố biogas lại thải trực tiếp vào suối do đó làm ô nhiễm môi trường rất lớn Chưa có hệ thống xử lý chất thải rắn như phân, xác chết gia súc, các rác thải thú y… phần lớn họ chỉ tập trung vào việc phát triển kinh tế
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và các vấn đề bức xúc của môi trường
chúng tôi tiến hành đề tài” Nghiên cứu hiện trạng và xây dựng các giải pháp
bảo vệ môi trường cho trang trại chăn nuôi Văn Lợi huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai”
Với mục tiêu nhằm đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra , dựa trên các số liệu thu thập và khảo sát thực tế tại trang trại Trên cơ sở đó tiến hành xây dựng các giải pháp quản lý tốt nguồn chất thải sinh ra, các kỷ thuật xử lý và tái sử dụng chất thải nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của con người và vật nuôi
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường của trang chăn nuôi gây ra
Trang 4- Xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững trang trại.
CHƯƠNG 2: NGÀNH CHĂN NUÔI VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI
TRƯỜNG CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về ngành chăn nuôi
2.1.1 Sự phân bố đàn vật nuôi
Sự phân bố và số lượng gia súc, gia cầm phụ thuộc vào từng khu vực khác nhau trong cả nước Sự phân bố không đồng đều ở các địa phương,phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí địa lý, vốn đầu tư, diện tích đất, điều kiện cung cấp thức ăn,…Hiện nay ngành chăn nuôi đang chuyển dịch cơ cấu phát triển theo hướng tăng cường chất lượng đàn giống và nâng cao năng suất, chuyển dần phương thức chăn nuôi nhỏ thành chăn nuôi tập trung, thâm canh có trình độ chuyên môn hoá cao Nhưng nhìn chung, ngành chăn nuôi nước ta phân bố rãi khắp từ Bắc vào Nam, tại các tỉnh Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa…) Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh Tuy nhiên, mặt trái của nó là dịch bệnh dễ dàng lan tràn, chất thải chăn nuôi lan truyền, phát tán gây ô nhiễm trên diện rộng, khó kiểm soát
Bang ̉ng 2.1: Sô lượng đàn heo t n m 2000 – 2006 của các tỉnh thành ừ năm 2000 – 2006 của các tỉnh thành ăm 2000 – 2006 của các tỉnh thành trong cả nước
Cả nước 18132,4 18885,8 20193,8 21800,1 23169,5 24884,6 26143,7 Đồng bằng sông Hồng 4795,0 5051,2 5398,5 5921,8 6307,1 6757,6 6898,5 Đông Bắc 3191,0 3338,4 3509,8 3868,0 4007,4 4236,1 4391,0
Trang 5Bắc Trung Bộ 2774,3 2709,6 2944,0 3351,9 3569,9 3803,4 3852,3 Duyên hải Nam Trung Bộ 1617,8 1626,1 1725,0 1922,0 2028,7 2137,7 2220,5 Tây Nguyên 948,0 1030,4 1122,8 1111,6 1191,2 1329,8 1488,7 Đông Nam Bộ 1394,0 1497,9 1649,6 1651,8 1862,7 2072,5 2402,7 Đồng bằng sông Cửu
Long 2593,6 2797,2 2976,6 2946,1 3151,6 3448,6 3713,8
Nguồn: Tổng cuc thống kê
2.1.2 Quy mô chăn nuôi
Hiện nay ngành chăn nuôi nước ta chủ yếu phát triển theo 3 loại qui mô đólà qui mô lớn, vừa và nhỏ tồn tại trong 3 loại hình chăn nuôi là quốc doanh, tư nhân và hộ gia đình
Loại hình chăn nuôi quốc doanh nguồn cung cấp con giống quan trọng cho các hộ chăn nuôi và là nơi áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng giống gia súc, gia cầm Trong khi đó, chăn nuôi hộ gia đình có tỷ lệ tăng dần, đây là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho cả nước Hai loại hìnhchăn nuôi này đang hỗ trợ lẫn nhau trong việc phát triển ngành chăn nuôi Mặc dù số lượng heo ở các cơ sở chăn nuôi quốc doanh chỉ chiếm tỷ lệ thấp và có xu hướng ngày càng giảm, nhưng hình thức này vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển con giống, cung cấp giống cho các hộ chăn nuôi trong khu vực Chăn nuôi quốc doanh không đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thực phẩm nhưng lại có ưu điểm là nơi có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi, đồng thời được nhà nước hỗ trợ nên có thể có điều kiện đầu
tư vào hệ thống xử lý chất thải nên ít ô nhiễm môi trường hơn chăn nuôi gia đình Tuy nhiên, quy mô càng lớn mức độ tập trung chất thải càng cao, mức độ tác hại đến sức khoẻ con người và môi trường càng lớn
Trang 6Chăn nuôi hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhân dân và góp phần cải thiện kinh tế người dân Trong đó, các hộ chăn nuôi heo chiếm tỷ lệ cao, vì đây là loại gia súc dễ nuôi, có thể tận dụng được lượng thức ăn thừa từ nhà bếp Bên cạnh đó do tập quán dùng thịt heo và giá thực phẩm nhu cầu thịt heo trong cuộc sống cao hơn các loại thịt gia súc, gia cầm khác, nên sản phẩm từ chăn nuôi heo dễ dàng tiêu thụ và ổn định hơn
Đối với chăn nuôi gia cầm, vốn đầu tư cho gia cầm tương đối thấp hơn so với chăn nuôi bò, heo mà thời gian thu hoạch nhanh, thị trường tiêu thụ lớn nên nhiều hộ chăn nuôi đầu tư vào chủng loại này Đặc biệt từ năm 2002-2005 do dịch cúm gia cầm nên số lượng đàn gia cầm bị giảm
Bảng 2.2: So sánh số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm trong cả từ năm 1990 – 2006
Gia cầm (Triệu con)
Trang 72.2 Tác động môi trường của ngành chăn nuôi
Đặc thù của ngành chăn nuôi là lượng chất thải sinh ra nhiều Việc kiểm soát chất thải của con vật là rất khó khăn, ảnh huởng lớn đến các thành phần môi trường như đất, nước, không khí Nếu việc quản lý và xử lý các chất thải không triệt thì đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường rất lớn
2.2.1 Môi trường nước
Chất thải chăn nuôi không được xử lý hợp lý, lại thải trực tiếp vào môi trường nước sẽ làm suy giảm lượng oxy hoà tan trong nước Thêm vào đó, chất thải có chứa hàm lượng nitơ, phosphor cao nên dễ dàng tạo điều kiện cho tảo pháttriển, gây hiện tượng phú dưỡng hoá nguồn nước mặt Hơn thế nữa, nước thải thấm vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm trầm trọng
Ngoài ra trong phân gia súc, gia cầm còn chứa nhiều loại vi khuẩn, vi trùnghay trứng giun sán Chúng sẻ lan truyền trong nguồn nước và gây bệnh cho con người cũng như các động vật khác
* Ảnh hưởng của một số chất ô nhiễm chính đến môi trường nước
+ Chất hữu cơ
Trong thức ăn, một số chất chưa được đồng hóa và hấp thụ bài tiết ra ngoàitheo phân, nước tiểu cùng các sản phẩm trao đổi chất Ngoài ra, các chất hữu cơ từ nguồn khác như thức ăn thừa, ổ lót, xác chết gia súc không được xử lý Sự phân
Trang 8huỷ này trải qua nhiều giai đoạn, tạo ra các hợp chất như axitamin, axit béo, các khí gây mùi hôi khó chịu và độc hại.
Ngoài ra, sự phân huỷ các chất béo trong nước còn làm thay đổi pH của nước, gây điều kiện bất lợi cho hoạt động phân huỷ các chất ô nhiễm
Một số hợp chất cacbohydrat, chất béo trong nước thải có phân tử lớn nên không thể thấm qua màng vi sinh vật Để chuyển hóa các phân tử này, trước tiên phải có quá trình thuỷ phân các chất phức tạp thành các chất đơn giản (đường đơn, axit amin, axit béo mạch ngắn) Quá trình này tạo các sản phẩm trung gian gây độc cho thuỷ sinh vật
+ Nitơ, Phosphor
- Nitơ: Theo Jongbloed và Lenis (1992), đối với heo trưởng thành, trong
100g Nitơ ăn vào có 30g được giữ lại trong cơ thể, 50g được bài tiết theo đường nước tiểu dưới dạng Urê là dạng dễ phân hủy sinh học và độc hại cho môi trường,20g được bài tiết theo phân dưới dạng nitơ vi sinh vật là dạng khó phân hủy và antoàn cho môi trường Tùy theo sự có mặt của oxy trong nước mà Nitơ chủ yếu tồn tại ở các dạng NH4, NO2, NO3
Khi nước tiểu và phân được bài tiết ra ngoài, nhóm niệu khuẩn Urobacteria như Micrococus ureae sẻ sản sinh ra enzyme Urease chuyển hóa Urê thành NH3
Amoniac nhanh chóng phát tán vào trong không khí gây nên mùi hôi hay khuếch tán vào trong nguồn nước gây ô nhiễm nguồn nước
(NH2)CO + H2O NH4 + OH- + CO2 <=> NH3 + H2O + CO2 Nồng độ ammoniac tạo thành tùy thuộc vào hàm lượng Urê, pH chất thải và điều kiện lưu trử chất thải
Trang 9Sau khi ammoniac khuếch tán vào nước , nó tiếp tục được chuyển hóa thành NO2,
NO3 nhờ vi khuẩn nitrat hóa trong điều kiện có ôxy Đến khi gặp điều kiện kỵ khíNitrat lại bị vi sinh vật kỵ khí khử thành Nitơ tự do tách khỏi nước Lượng ôxy cầnthiết để ôxy hóa chất hửu cơ chứa Nitơ trong nước thải chăn nuôi chiếm 47% TOD (nhu cầu ôxy lý thuyết)
NH3 + O2 NO2 + 2H+ + H2O
Dựa vào dạng của Nitơ trong nguồn tiếp nhận, có thể xác định thời gian nước bị ô nhiễm: nếu Nitơ trong nước thải chủ yếu là ammoniac thì chứng tỏ nguồn nước mới bị ô nhiễm, còn ở dạng nitrit (NO2) là nước bị ô nhiễm một thời gian lâu hơn và ở dạng nitrat (NO3-) là nước đã bị ô nhiễm thời gian dài
Cả ba dạng ammonia (NH4), Nitrit (NO2), hay Nitrat (NO3-) đều có ảnh hưởng đến sức khỏe con người Vì khi chúng đi vào cơ thể, gặp điều kiện thích hợp ammoniac và Nitrat có thể chuyển hóa thành Nitrit, mà NO2 có ái lực mạnh với hồng cầu trong máu hơn ôxy nên khi nó thay thế ôxy sẻ tạo thành
Methemoglobin, ức chế chức năng vận chuyển ôxy đến các cơ quan của hồng cầu, ngăn cản quá trình trao đổi chất của cơ thể, làm cho cơ quan thiếu ôxy, đặc biệt là ở nạo dẫn đến nhức đầu, mệt mỏi, hôn mê thậm chí là tử vong
- Photpho: Trong nước thải chăn nuôi, photphat chiếm tỉ lệ cao, thường
tồn tại ở dạng orthophotphat ( HPO42-, H2PO4, PO43-), Metaphotphat (hay
Polyphotphat) và Photphat không độc hại cho con người, nhưng là một chỉ tiêu để giám sát mức độ chuyển hóa chất ô nhiễm của các công trình xử lý có hệ thống hồ sinh vật và thủy sinh
Trang 10Trong các hồ nghèo dinh dưỡng nồng độ photpho là thấp và có xu hướng suy giảm Tỉ lệ nồng độ Nitơ và Photpho thường lớn hơn 12, do đó sự phú dưỡng hóa là do photpho khống chế vì vậy có thể nói photpho là thông số dưới hạn để đánh giá sự phú dưỡng do tác nhân ô nhiễm không bền vững.
+ Vi sinh vật
Trong phân chứa nhiều loại vi trùng, virus, trứng giun sán gây bệnh như Escherichia coli gây bệnh đường ruột, Diphillobothrium latum, Taenia saginata gây bệnh giun sán, Rotavirus gây bệnh tiêu chảy, chúng lan truyền qua nguồnnước mặt, nước ngầm, hay qua rau quả nếu sử dụng nước ô nhiễm vi sinh vật để tưới tiêu
sinh vật phát triển tốt trong môi trường có độ ẩm cao, vệ sinh chuồng trại kém Các nơi nước đọng bên trong, xung quanh chuồng trại hay hệ thống thu gom, xử lý chất thải là nơi sinh sôi, nảy nở và phát tán vi sinh vật
2.2.2 Môi trường không khí
Môi trường không khí xung quanh khu vực chăn nuôi heo có đặc trưng là mùi hôi thối của phân và nước tiểu phát tán nhanh, rộng theo gió Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí gây khó khăn không kém gì ô nhiễm môi trường nước, bởi khả năng tác động đến sức khoẻ con người và vật nuôi một cách nhanh chóng nhất, dễ dàng nhất Các chất khí thường gặp trong chăn nuôi là CO2, CH4,
H2S, NH3,…Những khí này có tính chất gây mùi và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, kháng bệnh của cơ thể Những khí này có thể được tạo ra với số lượng tương đối
Trang 11lớn và có độc hại đặc biệt là ở những cơ sở chuồng trại kín hoặc là thiếu thông thoáng
a Thành phần các chất khí từ chất thải chăn nuôi
Các khí sinh ra trong chuồng nuôi, tại các bãi, hầm chứa chất thải như NH3,
CH4, H2S, CO2, Indol, Skatol là sản phẩm của quá trình phân hủy kỵ khí và hiếu khí các chất hửu cơ trong chất thải chăn nuôi (chủ yếu là phân và nước tiểu)
Các khí được sinh ra từ quá trình phân hủy chất thải có ảnh hưởng lớn đến sụ sinh trưởng, hô hấp, kháng bệnh của gia súc, gia cầm và sức khỏe của con
người Nồng độ các khí này khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện môi trường (nhiệt độ , độ ẩm, bức xạ, ) và cách thức thu gom, lưu trử, vận chuyển và xử lý chất thải Tùy thuộc và nồng độ các khí mà tác động của chúng lên gia súc gia cầm và con người khác nhau
Theo Trương Thanh Cảnh (1999), quá trình phân giải chất khí thải gia súc, gia cầm do vi sinh vật như sau:
NH3
Indol, Schatol, Phenol Protêin
H2S
Axit hữu cơ mạch ngắn
Lipit
Alcohol Andehyde và Ketone
H2O, CO2, hydrocacbon mạch ngắn
H2O, CO2 và CH4
Cacbohydra
Axit béo
Trang 12Sơ đồ 2.1: Các sản phẩm từ quá trình phân huỷ kỵ khí các chất thải chăn nuôi
Bảng 2.3: Kết quả phân tích mẫu khí ở một số trại chăn nuôi gia đình
(Nguồn :Viện khoa học Nông Nghiệp Miền nam )
Các sản phẩm khí như NH3, H2S, Indol, Phenol, Schatole,…sinh ra có thể gây kích thích mạnh hệ hô hấp và ô nhiễm môi trường Theo tác giả Trương Thanh Cảnh (1999), các khí sinh ra từ chăn nuôi được chia ra các nhóm sau :
Nhóm 1: Các khí kích thích
Những khí này có tác dụng gây tổn thương đường hô hấp và phổi, đặc biệt là gây tổn thương niêm mạc của đường hô hấp Nhất là NH3 gây nên hiện tượng kích thích thị giác, làm giảm thị lực
Nhóm 2 : Các khí gây ngạt
Các chất khí gây ngạt đơn giản (CO2 và CH4): những khí này trơ về mặt sinh lý Đối với thực vật, CO2 có ảnh hưởng tốt, tăng cường khả năng quang hợp Nồng độ CH4 trong không khí từ 45% trở lên gây ngạt thở do thiếu oxi Khi hít phải khí này có thể gặp các triệu chứng nhiễm độc như say, co giật, ngạt và viêm phổi
Các chất gây ngạt hóa học (CO): là những chất khí gây ngạt bởi chúng liênkết với Hemoglobin của hồng cầu máu làm ngăn cản quá trình thu nhận hoặc quá trình sử dụng oxy của các mô bào
Trang 13Nhóm 3: Các khí gây mê
Những chất khí (Hydrocacbon) có ảnh hưởng nhỏ hoặc không gây ảnh hưởng tới phổi nhưng khi được hấp thu vào máu thì có tác dụng như dược phẩm gây mê
Nhóm 4 : Các chất khác
Những chất khí này bao gồm các nguyên tố và chất độc dễ bay hơi Chúng có nhiều tác dụng gây độc khác nhau khi hấp thụ vào cơ thể chẳng hạn như khí phenol ở nồng độ cấp tính
b Quá trình hình thành
khí thải chăn nuôi có mùi đặc trưng do quá trình phân hủy kỵ khí chất thải chăn nuôi (chủ yếu là phân và nước tiểu), quá trình phân hủy gồm các quá trình lên men và thối rữa các hợp chất hửu cơ trong chất thải
Các hợp chất carbonhydrat trong phân hay nước tiểu gia súc sau khi bài tiết
ra ngoài dễ dàng bị enzim vi sinh vật phân giải tạo nên một số sản phẩm cuối cùng là các khí độc như NH3, H2S, CO2, CH4, các axit béo mạch ngắn dễ bay hơi…riêng protein trong phân có thể bị vi sinh vật thối rữa phân giải thành các khí rất độc như Indol, schatole và nhiều khí khác… Vi sinh vật tiết men protease ngoại bào để phân giải protein thành các hợp chất nhỏ hơn như Polypeptid,
Olygopeptid Các chất này lại tiếp tục phân giải thành các axit amin Các axit amin này, một phần được vi sinh vật sử dụng để tạo protein cho mình, phần còn lại sẻ được tiếp tục phân hủy theo các con đường khác nhau Sản phẩm chính của quá trình khử amin là các khí độc Nếu như khu chứa chất thải không được che
Trang 14kín các khí độc này dễ dàng khuếch tán vào không khí Những khí này có độ nhảy cảm cao với khứu giác, gây ra mùi hôi khó chịu cho chuồng nuôi và khu vực xung quanh.
c Tác động của khí tạo mùi
Có tới gần 170 chất tạo mùi trong chất thải chăn nuôi Phân gia súc thải ra
trong ba ngày đầu, mùi sinh ra ít do sinh vật chưa kịp phân hủy các chất trong chất thải Các ngày tiếp sau đó, nồng độ mùi sẻ tăng thêm nhiều do khí được tạo
ra ngày càng tăng, đặc biệt là những chuồng ẩm thấp, không thoáng khí, có điều kiện cho vi sinh vật hoạt động Các khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và gia súc, và sẻ rất nguy hiểm khi các khí này tồn tại đồng thời trong không khí hay tụ lại ở nồng độ cao Trong các khí gây ô nhiễm thì NH3 và H2S được sinh ra nhiều và sinh ra mùi nặng nề nhất
Mỗi khí sinh ra có mùi đặc trưng để nhận biết và có dưới hạn cho phép nồng độ khí đó trong môi trường
Bảng 2.4 : Đặc điểm các khí sinh ra trong quá trình phân hủy phân heo
tiếp xúc (ppm)
Tác hại
NH 3 Hăng, xốc Nhẹ hơn không khí, sinh ra
trong quá trình hoạt động của vi sinh vật trong điều kiện kỵ khí và hiếu khí tan trong nước
đường hô hấp trên, gây ngạt ở nồng độcao, dẫn đến tử vong
CO không mùi Nặng hơn không khí, sinh 1000 Gây uể oải, nhức
Trang 15ra trong quá trình hoạt động của vi sinh vật trong điều kiện kỵ khí và hiếu khí, tan tốt trong nước
đầu, gây ngạt ở nồng độ cao, có thểtử vong
CH 4 Không
mùi
Nhẹ hơn nhiều so với không khí, ít tan trong nướclà sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy kỵ khí
ngạt, nhức đầu, bấttỉnh, tử vong
H 2 S Trứng thối Nặng hơn không khí,
ngưỡng nhận biết mùi thấp,tan trong nước
ngạt, gây nổ ở nồng độ 5 – 15% trong không khí
* Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm không khí
+ Ảnh hưởng của H 2 S
Khí H2S là sản phẩm của quá trình phân huỷ chất hữu cơ có mùi rất khó chịu, gây độc rất cao Chúng có thể gây cho cơ thể ức chế toàn thân, tăng vận động của đường hô hấp Do dễ hoà tan trong nước nên H2S có thể thấm vào niêm mạc mắt mũi, niêm mạc đường hô hấp gây kích thích và dị ứng
Bảng 2.5: Ảnh hưởng của H2S đến sức khoẻ người và gia súc
Đối
tượng Nồng độ tiếp xúc Tác hại hay triệu chứng
Trang 16Với
người
20 ppm trở lên
trong hơn 20 phút
Ngứa mắt, mũi, họng
50-100 ppm Nôn mửa, ỉa chảy
200 ppm/giờ Chóng váng thần kinh suy nhược, dễ gây viêm
200 ppm Có thể sinh chứng thuỷ thủng ở phổi nên khó
thở và có thể trở nên bất tỉnh, chết
(Nguồn : Barker và cộng tác viên,1996)
Theo đường hô hấp vào máu, H2S được giải phóng lên não gây phù hoặc phá hoại các tế bào thần kinh, làm tê liệt trung khu hô hấp, trung khu vận mạch, tác động đến vùng cảm giác, vùng sinh phản xạ của các thần kinh, làm suy sụp hệ thần kinh trung ương Ngoài ra nó còn rối loạn hoạt động một số men vận chuyển điện tử trong chuỗi hô hấp mô bào gây rối loạn hô hấp mô bào H2S còn chuyển hoá Hemoglobin làm mất khả năng vận chuyển oxy của nó Tiếp xúc với
H2S ở nồng độ 500 ppm trong khoảng 15-20 phút sẽ sinh bệnh tiêu chảy và viêm cuống phổi
+ Ảnh hưởng của CH 4
Trang 17Khí metan cũng là sản phẩm của quá trình phân huỷ chất hữu cơ trong quá trình phân huỷ sinh học Có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ con người và vật nuôi Nồng độ khí CH4 trong không khí từ 45% trở lên gây ngạt thở do thiếu oxy Khi hít phải khí này có thể gặp những triệu chứng nhiễm độc như say, co giật, ngạt, viêm phổi Khi hít thở không khí có nồng độ CH4 cao sẽ dẫn đến tai biến cấp tính biểu hiện bởi các triệu chứng như tức ngực, chóng mặt, rối loạn giác quan, tâm thần nhứt đầu, buồn nôn, say sẫm Khi hít thở nồng độ CH4 lên đến 60
000 mg/m3 sẽ dẫn đến hiện tượng co giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí gây tửvong
+ Ảnh hưởng của khí NH 3
Trong chăn nuôi heo, lượng nước tiểu sinh ra hằng ngày rất nhiều với thành phần khí NH3 là chủ yếu Chất khí này có nồng độ cao kích thích mạnh niêm mạc, mắt, mũi, đường hô hấp dễ dị ứng tăng tiết dịch, hay gây bỏng do phảnứng kiểm hoá kèm theo toả nhiệt, gây co thắt khí quản và gây ho Nếu nồng độ khí NH3 cao gây huỷ hoại đường hô hấp, NH3 từ phổi vào máu, lên não gây nhứt đầu và có thể dẫn đến hôn mê Trong máu NH3 bị oxy hoá thành tạo thành NO3- làm hồng cầu trong máu chuyển động hỗn loạn, ức chế chức năng vận chuyển oxy đến các cơ quan của hồng cầu và gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ, trường hợp nặng có thể gây thiếu oxy ở não dẫn đến nhứt đầu, mệt mỏi, hôn mê thậm chí có thể gây tử vong
Bảng 2.6: Ảnh hưởng của NH 3 lên người và heo
Đối
6ppm đến 20 ppm trở lên Ngứa mắt, khó chịu ở đường hô hấp
Trang 18Với
người
100 ppm trong 1 giờ Ngứa ở bề mặt niêm mạc
400 ppm trong 1 giờ Ngứa ở mặt, mũi và cổ họng
1720 ppm (dưới 30 phút) Ho, co giật dẫn đến tử vong
700 ppm (dưới 60 phút) Lập tức ngứa ở mắt, mũi và cổ họng
5000 ppm-10 000 ppm
(vài phút)
Gây khó thở và mau chóng ngẹt thở
Co thắt do phản xạ họng, xuất huyết phổi, ngất do ngạt, có thể tử vong
Với heo
thở lâu sẽ sinh ra chứng viêm phổi và các bệnh khác về đường hô hấp
ngon
300 ppm trở lên Lập tức ngứa mũi miệng, tiếp xúc
lâu dài sinh hiện tượng thở gấp
(Nguồn : Baker và Ctv ,1996)
+ Ảnh hưởng của CO 2
Khí CO2 không gây độc mạnh bằng hai khí trên nhưng ảnh hưởng cũng lớn đến sức khỏe con người và vật nuôi Khi con người tiếp xúc lâu với khí này cũng có những biểu hiện như nôn, chóng mặt Nếu tiếp xúc với nồng độ cao thì hô hấp và nhịp tim chậm lại do tác dụng của CO2 thấp gây ra trầm uất, tức giận, ù tai, có thể ngất, da xanh tím
Trang 19+ Ảnh hưởng mùi
Mùi hôi thối sinh ra trong hoạt động chăn nuôi heo là sản phẩm của quá trình phân huỷ các chất thải Mùi phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn và quá trình lưu trữ hay xử lý chất thải Tuy nhiên sự thối rữa của phân không phải là nguồn gốc duy nhất của mùi, thức ăn thừa thối rữa, phụ phẩm của chế biến thực phẩm dùng cho gia súc ăn cũng gây mùi khó chịu
Ngoài ra, mùi còn phát sinh từ xác động vật chết không chôn ngay hoặc mùi do phun thuốc khử trùng chuồng trại hay nơi chứa phân Các sản phẩm tạo mùi là do quá trình lên men chiếm số lượng lớn, một số sản phẩm ở dạng vết Có nhiều sản phẩm tạo mùi, trong số đó khí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và động vật các khí cacbonic, monocacbon oxit, metan, ammoniac, hydrosulfual, indol, Schatole và phenol Các chất khí này thường là sản phẩm của quá trình phân huỷ kỵ khí phân, đã qua phân huỷ bởi vi sinh vật không sử dụng oxy Cho nên chúng ảnh hưởng rất mạnh đến khứu giác của con người Những người dân đãsống xung quanh có khả năng mắc các chứng bệnh về đường hô hấp rất cao
+ Ảnh hưởng của bụi
Bụi từ thức ăn, lông thú hay phân là những hạt mang vi sinh vật gây bệnh, hấp phụ các khí độc, các chất hoá học đi vào đường hô hấp và gây dị ứng, gây xáo trộn hô hấp
2.2.3 Môi trường đất
Chất thải chăn nuôi là nguồn phân bón hữu cơ rất tốt Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều thành phần dễ gây ô nhiễm môi trường đất vì vậy, nếu bón phân
Trang 20không đúng lượng cần thiết hay đổ bỏ chất bãi trên đất là một nguồn gây ô nhiễmmôi trường đất đáng kể.
Trong chất thải chăn nuôi có chứa một lượng lớn nitơ và photpho do gia súckhông hấp thụ hết từ thức ăn Vì vây, khi bón quá nhiều loại phân này cho cây trồng, cây sẻ không thể hấp thụ heat, và hàm lượng nitơ, photpho dư sẻ tồn tại trong đất và gây ô nhiễm cho đất Sự tồn tại nitơ hay photpho hàm lượng cao trong đất sẻ kích thích sự phát triển của các vi sinh vật ưa nitơ hay photpho, ức chế các loại vi sinh vật khác làm thay đổi khu hệ vi sinh đất Ngoài ra trong môi trường đất, nitơ hay bị oxy hóa thành nitrat, chúng đóng thành váng trên bề mặt thổ nhưỡng, hạn chế sự trao đổi các thành phần trong đất với môi trường
Bảng 2.7: Một số vi sinh vật gây bệnh trong phân
Tên ký sinh trùng Lượng vi sinh
vật
Khả năng gây bệnh
Điều kiện bị diệt
Trang 21Nguồn: Lê Trình, 1997
Photphot, trong môi trường đất có khả năng kết hợp với các nguyên tố Ca,
Cu, Al, … thành các chất phức tạp, khó có thể dung giải, làm cho đất cằn cỗi, ảnh hưởng sự sinh trưởng và phát triển của thực vật
Hiện tượng phú dưỡng hóa đã được phát hiện ở nhiều nơi như Pensylvania,Mỹ (Bacon et al., Narod et al., 1994), Bryttani, Pháp (Brandjes et al., 1995) và nhiều nơi khác
Gần đây người ta còn thấy sự có mặt các kim loại nặng trong phân gia súc Nguyên nhân là do việc bổ sung một số kim loại nặng có khả năng kích thích sự tăng trọng của gia súc nên một số doanh nghiệp chế biến thức ăn gia súc đã cho một số kim loại nặng vào thành phần thức ăn Nhưng điều đáng nói là họ đã cho nhiều loại kim loại nặng với hàm lượng lớn vào thành phần chế biến, trong khi đó, cơ thể gia súc chỉ hấp thu một số kim loại nặng với một khối lượng nhất định.vì vậy, khi đất trồng trọt được bón loại phân có nguồn gốc từ chất thải chăn nuôi có thể dẫn tới tích tụ một lượng kim loại nặng trong đất Nếu kéo dài các kim loại này được đất trồng hấp thu thì chúng có thể được tích tụ trong các loại lương thực, thực phẩm các loại rau quả, …, khi con người ăn các loại thực phẩm
Trang 22này sẻ đưa các kim loại nặng này vào cơ thể, tích tụ trong cơ quan và gây tác hại cả cho con người.
Ngoài ra trong thức ăn còn chứa Arsannilic Axit, Roxarson, … chế phẩm selen hữu
cơ Theo tính toán, cứ một vạn lợn ăn khẩu phần có chứa Arsannitic axit mỗi name sẻ bài tiết ra ngoài ít nhất 120kg Acsen, khi lượng phân này dùng để bón cho cây trồng sẻ làm ô nhiễm đất, nước và cây trồng cũng gián tiếp bị ô nhiễm Acsen Nguy hiểm hơn, khi con người ăn rau, củ, quả và uống nước bị ô nhiễm Acsen sẻ làm giảm một số hoạt tính của enzyme trong cơ thể, làm sự trao đổi của tế bào không bình thường, ảnh hưởng sức khỏe con người, (Lê Bá Hoàng Long, 2006)
Hơn nữa, trong phân gia súc còn chứa một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh, có thể tồn tại trong đất trong thời gian dài như Salmonella trong đất ở độ sâu 50m trong 2 năm, trứng ký sinh trùng cũng tồn tại khoảng 2 năm Nếu dùng phân bón không đúng kỷ thuật sẻ làm vi sinh vật phát tán khắp nơi, ảnh hưởng sức khỏe con người và gia súc
2.2.4 Lan truyền dịch bệnh
Chăn nuôi là ngành sản xuất có nhiều nguy cơ gây bệnh tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột, bệnh giun sán… cho con người và súc vật do các vi sinh vật gây ra nếu chúng ta không tiêm phòng chặt chẽ cho súc vật và quản lý chất thải một cách đúng mức Chất thải phải được thu gom, lưu trử và vận chuyển một cách cẩnthận vì đây là những nguyên nhân có thể làm lây lan các mầm bệnh đi nơi khác
Trang 232.3 Các giải pháp khống chế ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi chứa nhiều chất hửu cơ, đặc biệt là các hợp chất chứa, Nitơ, phốt pho, các khoáng đa và vi lượng… Đây là sản phẩn dễ bị phân hủy khi thải ra môi trường và có khả năng gây ô nhiễm môi trường gây cao vì thế cần phải kiểm soát và xử lý kịp thời
- Sản xuất phân bón: Sản xuất phân bón hửu cơ từ phân gia súc dựa trên sự phân
hủy các thành phần hửu cơ có trong phân dưới sự tác động của vi khuẩn có trong thành phần phân
- Sản xuât biogas: Bản chất của quá trình sản xuất biogas là một loạt các quá
trình phân hủy các chất hửu cơ phức tạp thành các chất hửu cơ đơn giản dưới tác dụng của các vi khuẩn kỵ khí
Với hệ thống hệ thống xử lý phân và nước thải chăn nuôi sản xuất biogas,
ta co thể thu được các sản phẩn hửu ích như: khí đốt, phân bón, thức ăn cho cá
- Khống chế mùi hôi: Khống chế ô nhiễm mùi hôi trong chăn nuôi là một việc
làm rất phức tạp Để khống chế mùi hôi chúng ta có thể sử dụng các phương phápsau:
- Chuồng trại phải thông thoáng, khô ráo, tao sự trao đổi không khí bên ngoài và trong chuồng trại tôt Tránh ẩm thấp, nước, chất thải, thức ăn dư thừa ứ đọng trong chuồng nuôi và xung quanh, sinh ra các loại khí độc
- Sử dụng mái chuồng bằng vật liệu cách nhiệt, tránh nhiệt độ cao tăng khả năng phân hủy chất thải tạo ra các sản phẩm gây mùi
- Chất thải phải được thu gom hàng ngày
- Hệ thống thu gom, mương dẫn, bể lưu trử và ủ phân phải kín
Trang 24- Khuyến khích trồng cây xanh xung quanh khu vực chuồng nuôi.
- Sử dụng thức ăn sạch là loại thức ăn có thể hạn chế việc tạo ra chất thải cóthành phần dễ phân hủy, sinh ra khí độc hại cho môi trường
- Cách ly chuồng nuôi với khu vực nhà ở, tránh ảnh hưởng mùi hôi đến con người
- Xử lý xác súc vật chết: Bên cạnh các thiết bị cho việc xử lý chất thải, cần có
hố chôn gia súc chết Hố chôn phải xa nguồn nước, xa khu dân cư, cần rắc vôi sống để sát trùng Đối với những gia súc, gia cầm chết do bệnh truyền nhiễm thì phải dùng phương pháp đốt nhằm tiêu diệt mần bệnh, tránh lây lan qua các vật nuôi khác
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi của trang trại chăn nuôi Văn Lợi tại
huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai
Trang 25- Vị trí địa lý trang trại chăn nuôi
- Cơ sở hạ tầng trang trại
+ Diện tích trang trai
+ Diện tích chuồng trại
+ Diện tích nhà ở và các kho chưa
+ Diện tích và các thiết bị, công trình khác
- Quy mô chăn nuôi và số lượng đàn gia súc
+ Quy mô chăn nuôi
+ Số lượng đàn gia súc
- Quy trình chăn nuôi và phòng ngừa dịch bệnh
+ Nguồn giống
+ Thức ăn
+ Tiêm phòng bệnh
+ Thời gian xuất chuồng
- Các hoạt động khác
3.1.2 Đánh giá hiện trạng môi trường
- Nghiên cứu đầu vào, đầu ra cảu trang trại
+ Năng lượng
+ Nước
Trang 26+ Thức ăn
+ Sản phẩm
- Nguồn phát sinh ô nhiễm
+ Chất thải rắn
+ Nước thải
+ Khí và mùi hôi
- Tải lượng, thành phần, tính chất của chất thải
+ Tải lượng chất ô nhiễm
+ Thành phần
+ Tính chất
- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải
+ Phương thức vệ sinh chuồng trại
+ Hệ thống mương dẫn chất thải
+ Hệ thống lưu trử chất thải
+ Hệ thống xử lý chất thải
* Xử lý chất thải rắn
* Xử lý nước thải
* Xử lý khí và mùi hôi
3.1.3 Xây dựng các giải pháp khống chế ô nhiễm môi trường
- Giải pháp kỷ thuật
Trang 27+ Giảm thiểu tại nguồn
- Giải pháp quản lý
+ Quy hoạch và bố trí chuồng trại
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu
Tại trang trại chăn nuôi Văn Lợi thuộc xã Gia Tân 2 – huyện Thống Nhất – tỉnh Đồng Nai cách khu dân cư khoảng 1km ở đây trang trại chủ yếu là chăn nuôi heo nái và heo thịt Ngoài ra còn chăn nuôi một số loại gia súc khác như: cừu, dê, heo, rừng và nhập nguyên liệu về trộn cám để bán và cho heo Trang trạihoạt động từ năm 1999 với quy mô ngày càng được mở rộng
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập thông tin
Trang 28Bằng cách phỏng vấn, thăm hỏi ý kiến, điều tra các số liệu về đàn gia súc, chế độ ăn uống, điều kiện chăm sóc thú y, năng lượng và lượng nước cấp cho việc vệ sinh chuồng trại và sinh hoạt hàng ngày
- Phương pháp điều tra thực địa
Xem xét hiện trạng quản lý, thu gom và xử lý chất thải của trang trại, lấy mẫu phân tích
- Phương pháp đánh giá ô nhiễm môi trường
+ Bằng cách khảo sát lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu: pH, COD, BOD5, Ntổng,
Ptổng, SS trong phòng thí nghiệm tại trường ĐH Kỷ Thuật Cộng Nghệ TPHCM+ So sánh kết quả phân tích với tiêu chuẩn xả thải Việt Nam TC VN5945 – 1995
+ Tính toán tải lượng ô nhiễm thải ra môi trường
Dựa vào khối lượng đầu vào như: lượng thức ăn trong ngày, lượng nước sử dụng trong ngày, lượng điện tiêu hao… Để xác định tải lượng ô nhiễm dựa vào phương pháp cân bằng vật chất và năng lượng đầu vào và đầu ra
* Phương pháp phân tích các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng nước
+ COD: phương pháp Bicromat hoàn lưu
+ BOD5: Phương pháp cấy và pha loãng
+ pH: điện cực thuỷ tinh, máy đo Corning pH meter 445
+ NKjeldahl: phương pháp Nitơ Kjeldahl
+ Ptổng: phương pháp so màu, bước sóng 880nm
+ SS: phương pháp khối lượng
Trang 29- Phương pháp phân tích hệ thống
- Phương pháp xử lý số liệu bằng excel
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Giới thiệu chung về trang trại chăn nuôi Văn Lợi
Trang 304.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi Văn Lợi là trang chăn nuôi tư nhân nằm ở xã Gia Tân
2 - huyện Thống Nhất – tỉnh Đồng Nai
4.1.2 Cơ sở hạ tầng
Bảng 4.1 Bảng sử dụng đất trong trang trại Văn Lợi
Vườn cỏ và cây xanh 35200 Trồng cây va cỏ cho dê
nhân
Đường đi, khu đất
trống
1250 Để đi lại trong trang trại
SVTH: NGUYỄN VĂN THẾ
Trang 31Hình 4.1: Mô phỏng sơ đồ mặt bằng trang trại chăn nuôi Văn Lợi
4.1.3 Quy mô chăn nuôi và số lượng đàn gia súc
- Quy mô chăn nuôi
Quy mô trang trại chăn nuôi Văn Lợi thuộc loại trang trại chăn nuôi vừa và
chăn nuôi theo loại hình chăn nuôi tư nhân
Trang 32- Đàn gia súc
Trang trại Văn Lợi hoạt động chính là chăn nuôi heo
Hiện tại trang trại còn nuôi 1060 con heo
Trong đó:
Bảng 4.2: Số lượng đàn gia súc
Thời điểm nuôi nhiêu nhất
4.1.4 Quy trình chăn nuôi và phòng ngừa dịch bệnh
- Quy trình chăn nuôi
* Nguồn giống:
Heo nái nhập từ trại giống quốc gia Bình Thắng về lai tạo từ đời F2 để tạo ra con giống giống là đời F3
Trang 33+ Heo thịt
Lấy giống từ heo nái đẻ ra nếu thiếu thì mua từ các trang trại khác, thường thì heo nái đẻ không cung cấp đủ giống cho heo thịt nên chủ trang trại phải mùa heo giống từ các trang trại xung quanh
* Quy trình:
Thức ăn gia súc tự mua nguyên liệu về trộn cho heo
+ Thức ăn
Bảng 4.3: Số giờ ăn của heo trong ngày
+ Thành phần dinh dưỡng
- Heo từ 10kg – 30kg thức ăn độ đạm là 18%
- Heo từ 30kg – 70kg thức ăn độ đạm là 16%
- Heo từ 70kg – xuất chuồng thức ăn độ đạm là 15%
Thức ăn của heo là cám khô và nước uống cho heo được thiết kế bằng hệ thống van tự động ,trung bình mỗi ngày một con heo ăn hết 2 - 3kg thức ăn
- Tiêm phòng dịch bệnh
Trang 34Bảng 4.4: Chương trình vaccin đang được sử dụng đối với heo
Loại heo Loại vaccin Thời gian tiêm
Heo nái
Parvovirus Trước khi phối 2 tuần
Phó thương hàn Sau khi sanh 3 tuần Lở mồm long móng Sau khi sanh 4 tuần Tụ huyết trùng Sau khi sanh 4 tuần
Heo thịt
Heo cai sữa
Phó thương hàn 26 ngày tuổi Lở mồm long móng 42 ngày tuổi Tụ huyết trùng 56 ngày tuổi Lở mồm long móng - tụ
huyết trùng
10 tuần tuổi
Trong những năm qua nước ta và cả thế giới đang lo lắng đối mặt với dịch cúm ở người mà nguyên nhân do lây lan từ gia cầm Chúng là vi rút lây lan trong không khí, nếu không có giải pháp ngăn chặn và đề phòng đúng cách thì rất nguyhiểm Trước dịch hoạ này gây tổn thất rất nhiều tiền của và công sức cho các nước, tạo ra thị trường cung cấp thịt biến động mạnh Đối mặt với những vấn đề nhạy cảm, rộng lớn, mới mẻ này Vì vậy trang trại đã thường xuyên kiểm tra và
Trang 35Sơ đồ 4.2: Sơ đồ tổ chức chăn nuôi heo của trang trại
4.1.5 Các hoạt động khác
Để tiết kiệm tiền thu mua nguyên liệu và thức ăn đồng thời thêm thu nhập trang trại Văn Lợi còn tham gia các hoạt động:
- Trộn cám cho nuôi heo và trộn cám để bán cho các trang trại khác
- Nhập cám về bán
Ngoài ra còn chăn nuôi một số loại gia súc khác như:
Trang 36+ Heo rừng: 70 con
Trong đó cừu và dê thả rông trong khuôn viên trang trại với mục đích đầu tiên là tăng cường nguồn thu nhập, bên cạnh đó chủ trang trại còn muốn tận dùng cỏ trong trang trại làm thức ăn cho chúng để hạn chế việc phun thuôc diệt cỏ vì vậy mà dê và cừu ở đây không cho ăn mà nó tự kiếm ăn ở trong trại
4.1.6 Nguyên liệu đầu vào và đầu ra của trang trại
- Nguyên liệu đầu vào:
+Thức ăn gia súc
Thức ăn gia súc thì mùa các phụ phẩm ( bắp, bánh, hèm bia từ các nhà máy rượu bia và cám từ lúa gạo ) và các một số thành phần nguyên liệu khác ( dầu cá basa, cá tra, các chế phẩm enzim tiêu hóa, vi sinh và các axit hửu cơ) với mục đích là tăng thêm dinh dưỡng và giúp khả năng tiêu hoa thức ăn cho heo.Việc thêm các chế phẩm enzim tiêu hóa và các chủng vi sinh ngoài việc giúp khảnăng tiêu hóa thức ăn nó còn làm giảm mui hôi thối do phân hủy thức ăn hoàn toàn
Bảng 4.5: Thành phần thức ăn gia cho heo
Kinh ĐôPhụ phẩm của bánh tráng CN chế biến bánh tráng Củ Chi
Phụ phẩm của hèm bia CN chế biến rượu bia (nhà máy bia
Việt Nam)
Trang 37Cám từ lúa gạo Xay xát lúa
+Nước
Nước lấy từ nguồn nước ngầm tầng trên 10 mét với ưu điểm là hạn chế được sự lan truyên dịch bệnh qua nguồn nước từ nơi khác và từ các trang trại khácmang đến Nước được sử dụng cho chăn nuôi và sinh hoạt hàng ngày
+ Năng lượng điện
Dùng dầu diezen và khí biogas để phát điện, hiện có hai máy phát điện bằng biogas và một máy phát điện bằng dầu diezen Nhưng trong đó chỉ có một máy phát điện bằng biogas hoạt động vì khí biogas không đủ
Khí biogas chỉ cung cấp đựơc 50% cho phát điện và nấu ăn do hệ thống hố biogas bị xuống cấp, thời gian lưu nước để phân hủy tạo ra khí không đủ dài Để đảm bảo sự phân hủy các chất ô nhiễm trong nước thải thời gian lưu nước tối thiểu phải 20 ngày
- Nguyên liệu đầu ra ( sản phẩm )