Vai trò của triết học với đời sống con người và xã hội được thể hiện rõ nhất qua vai trò thế giới quan và phương pháp luận.. Trong triết học, thế giới quan được hiểu là toàn bộ những qua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA/ VIỆN: NGAN HÀNG TÀI CHÍNH
wil «x
BAI TAP LON
Môn: Triết học Mác — Lênin
Dé bài: Phân tích vai trò của triết học với đời sống con người và xã hội Lựa chọn một tác phẩm văn học nghệ thuật và phân tích thế giới quan của tác phẩm đó dưới góc độ triết học
Họ và tên: Hoàng Thanh Ngọc Lớp: THMLN_ 33
Mã SV:11218892
Hà Nội - 2021
Trang 2L Lý luận: W2 rò của triết học với đời sống con người và xã hội
Vai trò của triết học với đời sống con người và xã hội được thể hiện rõ nhất qua vai trò thế giới quan và phương pháp luận
a Vai trò thế giới quan
Triết học được xem là hạt nhân lý luận chi phối mọi thế giới quan, bởi lẽ bản
thân triết học chính là thế giới quan Thế giới quan triết học bao giờ cũng có ảnh hưởng, tác động chi phối lên những loại thế giới quan khác vì vốn dĩ tri thức triết
học là tri thức chung nhất, mang tính khái quát nhất Là hạt nhân lý luận của thế
giới quan, vì thế, những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những vẫn đề thuộc thế giới quan:
- Câu hỏi về bản thể luận: Bản chất của thế giới là gì? Thế giới được hình thành và
tạo ra như thế nào? Thế giới đang vận động ra sao? Các thành phân và hình thức tồn tại của thế giới la gi? Cac van dé gi dang diễn ra trên thế giới? Vật chất và ý
thức liên hệ như thế nào? Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau?
- Câu hỏi về nguồn gốc: Vì sao thế giới lại vận hành theo cách này mà không phải theo cách khác? Thế giới và con người tuân theo các nguyên lý nào?
- Câu hỏi về nhận thức luận: Chân lý là gì? Kiến thức là gì? Nhận thức và cảm xúc
của con người về thế giới như thế nào? Con người xây dựng hình ảnh về thế giới ra sao? Lý tưởng của con người là gì? Chúng ta có thể nhận thức chính xác thế giới khách quan hay không? Ta biết những gì? Vì sao những niềm tin chính đáng lại chính đáng? Làm sao ta biết là ta biết?
- Câu hỏi về luân lý: bao gồm các câu hỏi về nguyên tắc, giá trị sống, các định
hướng mục tiêu, các chuẩn mực đạo đức, thâm mỹ và quy định của pháp luật Thế
nào là thiện — ác, đúng — sai? Mục đích của việc theo đuôi giá trị sống là gì? Vai trò của con người trong xã hội là gì? Bản chất con người là thiện hay ác? Thế nào là
Trang 3khô đau? Thế nào là hạnh phúc? Con người chân chính liệu có vượt qua được xung
đột nhân cách và ràng buộc lợi ích trước cám dỗ của cuộc đời hay không?
- Câu hỏi về hành động: Con người phải hành động như thế nào dé dat được mục
tiêu? Con người có thể làm gì để thay đổi thế giới theo hướng tích cực? Trên cơ sở lý luận của mình, triết học lý giải tất cả những vấn đề trên trên phương diện khoa học, đạo đức học (cái thiện) và thắm mỹ học (cái đẹp) để từ đó có được
nhận thức và cách hành xử đúng đắn
Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ, gia tri trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Trong triết học, thế giới quan được hiểu là toàn bộ
những quan niệm của con người về thế giới và vị trí của con người trong thế giới
đó Có thể xem thế giới quan như một lăng kính triết học thể hiện cách nhìn của con người về thế giới bởi lẽ thế giới quan không chỉ bao gồm yếu tổ tri thức mà là
cả hệ thống tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác định về thế giới
của con người Tuy nhiên, trong tất cả những yếu tố nêu trên thì tri thức vẫn là yếu
tố có vai trò quyết định bởi tri thức là cơ sở để có niềm tin và lí tưởng Tri thức là
sự hiểu biết của con người trên một lĩnh vực xác định của thế giới, là kết quả quá trình nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan trong não người Niềm tin nếu không xây dựng trên tri thức thì chỉ là niềm tin mù quáng, lý tưởng mà không có tri thức thì chỉ là sự cuồng tín Tuy nhiên nếu thế giới quan chỉ có mỗi tri
thức thì không đủ bởi tri thức chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã được chứng
minh qua thực tế và trở thành niềm tin, cao hơn nữa là lí tưởng, bởi khi đó tri thức mới trở nên bền vững và thành cơ sở cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người Niềm tin là một trạng thái tinh thần thể hiện ý chí quyết tâm cao trong hoạt
động của con người nhằm đạt được mục tiêu nhất định nào đó Về lý tưởng, nhà
văn vĩ đại của nước Nga Lép Tôn-xtôi từng viết: “Lý tưởng là ngọn đèn sáng chỉ đường Không có lý tưởng thì không có phương hướng xác định; không có phương
hướng thì không có cuộc sống” Có thê thấy, tri thức chỉ khi phát triển thành niềm
Trang 4tin, lý tưởng thì mới có thể dẫn lối và định hướng cho hoạt động của con người Bên cạnh đó, trong thế giới quan còn bao hàm yếu tố tình cảm Tình cảm là một hình thức phản ánh đặc biệt mối quan hệ giữa con người với nhau và mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan Hiểu biết về tri thức làm nảy sinh tình
cảm; tri thie va tình cảm hòa quyện với nhau tạo lên tính bền vững của niềm tin, lý
tưởng, thôi thúc con người vươn lên trong mọi hoàn cảnh Như vậy có thé thay thé giới quan là một kết câu thông nhất, trong đó các yếu tố không thể tách rời nhau mà
hòa quyện vào nhau trên cơ sở tr1 thức, qua đó định hướng cho nhận thức và hoạt
động của con người
Thế giới quan đúng đăn là tiền đề để xác lập một nhân sinh quan tích cực, thể hiện bằng thái độ sống tích cực trong khám phá và chinh phục thế giới Nhân sinh
quan là hệ thống quan niệm về cuộc đời, ý nghĩa và mục đích sống của con người Hay nói một cách đơn giản hơn, nhân sinh quan là cách con người nhìn nhận cuộc đời và đạo làm người Nhân sinh quan bao gồm nhiều ý niệm về cuộc sống của con người như lẽ sống, mục đích sống, giá trị của cuộc sống và cả nhân tính con người Trên cơ sở nhân sinh quan, triết học góp phân truy tìm lời giải cho hệ vấn đề về đời
người, vé su song — cdi chét, vé hanh phúc — khổ đau số mệnh, quan hệ nhân quả
cuộc đời Nhân sinh quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nguồn gốc của mọi suy nghĩ, chi phối hành vi và các hoạt động của con người trong đời sống bởi nói đến
“nhân sinh” tức là nói đến sinh mệnh con người, đến cuộc sống con người và cả nhân tính của con người trong xã hội Sinh mệnh là yếu tố cơ bản duy tri sự sinh tồn của con người Cuộc sống ở đây là cả hai mặt đời sống tỉnh thần và đời sống vật chất Nhân tính giúp con người chỉ ra phương hướng hay mục đích sống của
mình, hướng về một mục tiêu nhất định Nghiên cứu về vẫn đề nhân sinh tức là đi nghiên cứu về bản chất con người thể hiện như thế nào trong cuộc song, muc dich, thái độ hành vi của đời sống COn nØƯỜI Về bản chất, vẫn dé nhân sinh là cốt lõi
nội tại của triết học Mọi hoạt động triết đều phản ánh một khát vọng chung nhất
Trang 5của con người là mưu cầu một cuộc sống hoàn thiện hơn, tốt hơn, hạnh phúc hơn (chân thiện, mỹ) trên cơ sở hiểu biết sâu sắc hơn về mục đích, giá trị, ý nghĩa cuộc
sống cũng như phương thức sống (về tư duy và hành động) của chính bản thân họ
Nhân sinh quan là hệ thống những tư tưởng, quan niệm, cách nhìn nhận của con
người về ý nghĩa, mục đích của cuộc đời, về thế giới xung quanh con người; từ đó
định hướng suy nghĩ, thái độ, hoạt động, hành vi của con người nhằm tác động lại cuộc sống và thực tiễn xã hội Nhân sinh quan tiến bộ chính là kim chỉ nam dẫn dắt
con người đến lẽ sống đúng đãn
Nhân sinh quan phản ánh tôn tại xã hội của con người Sự khác nhau về nhân sinh quan của con người được biểu hiện thông qua các thời kì lịch sử, hiện hữu rõ
nét nhất trong các hình thái kinh tế xã hội Nội dung của nó biểu hiện ở quan điểm,
lẽ sống, khát vọng, nhu cầu của con người trong từng hoàn cảnh cụ thể Nó không thé tách rời sự phát triển của thời đại do ảnh hưởng của những yếu tổ khác nhau Mỗi thời đại khác nhau thì nhân sinh quan của con người cũng có sự khác biệt vì nhân sinh quan luôn song hành với sự phát triển của xã hội Nhân sinh quan phản
ánh nhu cầu, lợi ích, khát vọng của con người trong một bối cảnh xã hội nhất định
Nếu sự phản ánh này là đúng theo khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó sẽ
là sức mạnh thúc đây cải tạo xã hội một cách mạnh mẽ và ngược lại, nếu phản ánh
không đúng nó sẽ cản trở xã hội tiến lên Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về các
quy luật phát triển trong lịch sử có tác dụng cải tạo xã hội và thúc đây sự tiễn bộ của xã hội Đó chính là nhân sinh quan cách mạng, khoa hoc cua giai cấp vo san,
của con người mới trong chế độ chủ nghĩa xã hội, mang tính phản ánh tích cực đây
xã hội phát triển đi lên
Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân hay rộng hơn là sự trưởng thành của một cộng đồng xã hội nhất định bởi một cộng đồng là tập hợp chứa nhiều cá nhân Lịch sử phát triển của
tư duy loài người luôn đi kèm với sự phát triển trong thế giới quan Tư duy con
Trang 6người qua các giai đoạn phát triển từ tư duy tôn giáo nguyên thủy, đến tư duy thần thoại, tư duy triết học và cuối cùng là tư duy khoa học găn liền với sự phát triển trong thế giới quan: thế giới quan tôn giáo, thế giới quan huyền thoại, thế giới quan triết học và thế giới quan khoa học Thế giới quan đã phát triển từ trình độ nhận
thức còn kém, phi logic của xã hội lên trình độ logic, giàu tư duy trí tuệ Do đó, có
thể thấy trình độ phát triển của thế giới quan gắn liền với sự trưởng thành của cá
nhân và xã hội
Các khoa học đều giúp con người hình thành thế giới quan đúng đắn, trong đó thế giới quan triết học với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đã làm cho
thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác, từ trình độ tự phát nặng về cảm tính, phi logic lên trình độ tự giác, có cơ sở khoa học, giàu lý tính và trí tuệ Điều
đó tạo cơ sở để con người có được nhận thức đúng dan, tir dé tao dựng thái độ sống
và hành động tích cực, nâng trình độ phát triển của xã hội lên một tầm cao mới
b Vai trò phương pháp luận
Thế giới quan để ra cho con người nguyên tắc trong nhận thức và hành xử, và những nguyên tắc này được gọi là phương pháp luận Phương pháp luận không phải một phương pháp cụ thể, ma nó là những nguyên tắc chung nhất, phổ biến nhất cho hoạt động và thực tiễn Từ phương pháp luận, trong những tình huống cụ
thể, với từng lĩnh vực cụ thể, ta có thể rút ra những cách thức phù hợp Thực tiễn cho thấy, những kết luận chung của triết học có giá trị định hướng vô cùng phong
phú và đa dạng, bởi nó mang trong mình tính khái quát cao chứ không phải là lời giái đáp cụ thể cho từng tình huống Do đó, có thể thấy phương pháp luận triết học
có vai trò vô cùng lớn trong việc giải quyết những vẫn đề từ khái quát đến rất cụ thể của cuộc sống Những vấn đề đó không chỉ đơn thuần là những vẫn đề mang tính cá nhân mà còn là những vấn đề mang tính vĩ mô Đó là những vẫn đề toàn cầu như vấn đề nảy sinh giữa các quốc gia, vấn đề hòa bình và giải trừ quân sự hay những vấn đề mang tính xã hội như van dé tôn giáo, phân phối thu nhập giàu
Trang 7nghèo Thực tế cũng cho thay rang từ trước đến nay, mọi cuộc cách mạng xã hội muốn thành công đều phải dựa trên cơ sở lý luận triết học
Nguyên tắc thì vẫn vậy nhưng việc giải quyết cụ thể vẫn đẻ như thế nảo còn phụ thuộc vào nhận thức về thế giới quan và năng lực tư duy, năng lực sáng tạo của con người Xuất phát từ một lập trường đúng đắn về thế giới quan, con người có thể có được những cách giải quyết đúng đắn Ngược lại, nếu xuất phát từ một lập trường
triết học sai lâm, chúng ta không thể tránh khỏi hành động sai lầm, thiếu định
hướng Đó chính là biểu hiện cụ thể của phương pháp luận triết học trong việc định hướng con người Việc giải quyết vẫn để dựa trên phương pháp luận triết học có vai trò phát triển năng lực sáng tạo của con người trong giải quyết vẫn đề, từ đó giúp cải tạo và thúc đấy xã hội phát triển
Trong thời đại hiện nay, vai trò phương pháp luận của triết học vẫn giữ nguyên giá trị Một ví dụ thực tế là các quan điểm đường lối của đảng - đó chỉ là những phương pháp luận chỉ ra về mặt nguyên tắc Việc áp dụng như thế nảo còn tùy vào đặc thù từng lĩnh vực và thực tiễn từng địa phương Cùng một quan điểm chỉ đạo song ngành y tế có cách áp dụng riêng, ngành giao thông vận tải có cách riêng, địa phương A có thể làm thế này, địa phương B làm thé kia, song tat cả đều phải dựa trên nguyên tắc chung Đảng đặt ra Hay trong Phật Giáo, Đức phật chỉ ra rằng
muốn thoát khỏi bể khổ thì con người phải thoát bỏ vô minh, tu tập theo bát chính
đạo, từ bỏ tham - sân - si Song đó chỉ là nguyên tắc, phương hướng, còn việc có rũ
bỏ được không, có hiểu không, có chấp nhận không, có tu tap khong, tu tap như thé
nào là tùy thuộc vào ban thân mỗi người Sự đa dạng phương thức áp dụng, cụ thể hóa là nguyên nhân hình thành nên nhiều trường phái khác nhau trong Phật Giáo, song tất cả đều dựa trên phương pháp luận Đức Phật chỉ ra
Ph.Ăngghen từng nói: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” Triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận của thê giới quan, thông qua các vân đê về nhận thức luận và bản thê luận đê rút ra
Trang 8nhận thức đúng đăn trên quan điểm thấm mỹ học, đạo đức học, từ đó hình thành phương pháp luận định hướng cho hoạt động của con người, ø1úp con người giải quyết những vấn để từ khái quát đến cụ thể trong cuộc sống Điều nảy có ý nghĩa
hết sức to lớn không chỉ với cá nhân mà còn đối với tiễn bộ xã hội
Triết học mặc dù có vai trò to lớn nhưng không phải chỉ cần năm được một mình
triết học là giải quyết được mọi vấn đề Trong thực tiễn, để giải quyết van dé cu thé
thì ngoài phương pháp luận triết học còn cần áp dụng thêm kiến thức của nhiều
khoa học khác, đi kèm với việc tổ chức có hiệu quả Cần tránh những khuynh hướng xem nhẹ vai trò của triết học để rồi rơi vào trạng thái mò mẫm kém sáng tạo
hoặc tuyệt đối hóa vai trò của nó, rơi vào vào tình trạng áp dụng các nguyên tắc
một cách máy móc, phức tap, rap khuan
II Vận dụng: Phân tích thế giới quan tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao dưới
góc độ triết học
Truyện ngăn xoay quanh cuộc đời nhân vật Chí Phèo - đứa trẻ mô côi bị bỏ rơi trong chiếc lò gạch cũ Chí lớn lên nhờ tình thương của người dân làng Vũ Đại, từ
bà góa mù đến bác phó cối Khi trưởng thành, Chí đến nhà Bá Kiến làm canh điền,
bị Bá Kiến ghen tuông, đây vào tù Nhà tù thực dân đã biến Chí thành một kẻ lưu
manh với bộ dạng gớm ghiếc Sau khi ra tù Chí đã đến nhà Bá Kiến để trả thù nhưng lại bị Bá Kiến thuyết phục và trở thành tay sai của hăn và trở thành con quỷ
dữ của làng Vũ Đại Cuộc sống của Chí là những lần đòi nợ thuê, là tiếng chửi là những cơn say từ ngày này qua ngày khác Sau đó, Chí Phèo gặp Thị Nở Tình thương của Thị đã đánh thức lương tri trong Chí, Chí khát khao lương thiện Bi
kịch thay bà cô Thị Nở không chấp nhận mối quan hệ giữa Chí và Thị, không thể
trở về cuộc sống của người lương thiện, Chí đã mang dao đến nhà Bá Kiến giết
chết hăn và tự kết liễu mình để giải thoát mọi đau khô
a.Quan niệm về con người
Trang 9Trong tác phẩm, theo quan điểm của nhà văn, bản chất con người vốn là thiện, song lại bị hoàn cảnh xô đây mà nảy sinh ra cái ác Điều này thể hiện rất rõ qua quá
trình ác hóa của các nhân vật như Năm Thọ, Binh Chức mà rõ nhất là qua quá trình
ác hóa của Chí Phèo - kẻ được mệnh danh là con quỷ dữ của làng Vũ Đại Trước khi trở thành kẻ đâm thuê chém mướn, Chí cũng từng là một anh canh điền lành
như đất với ước mơ bình dị như bao người: “Chồng cuốc mướn cay thuê, vợ dệt vải, chúng bỏ lại một con lợn nuôi để làm vốn liéng Kha gia thi mua dam ba sao
ruộng làm” Hăn cũng từng có tự trọng cao, có ý thức về tự tôn và nhân phẩm: khi
bà Ba bắt hắn bóp đùi, hăn cảm thấy “nhục hơn là thích” Thế nhưng sau những
năm tháng tù đày, Chí đã bị xã hội cự tuyệt quyền làm người và trượt đài trên
đường ray của sự tha hóa Tha hóa là trạng thái con người bị mất gốc, bị cắt đứt những giá trị người, tách rời với những chuẩn mực đạo đức xã hội, xa rời cộng đồng Họ biến đối theo chiều hướng ngày càng xấu đi, thành những cái khác đối
nghịch lại cái ban đầu, đối nghịch với những giá trị người Đó là sự tha hóa nhân hình và cả nhân tính: “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hon, cai mat thi den
ma rat cong cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quân áo nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh đầy những nét cham trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết!” ; “Cái mặt hắn
vàng vàng mà lại muốn xạm màu Ø1O; nÓ văn dọc văn ngang không thứ tự, biết bao
nhiêu là vết sẹo” ;“hăn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tác quái cho bao nhiêu dân làng.( ) hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đồ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”
Chí Phèo đã lún sâu vào vũng bùn của sự tha hóa Chính Bá Kiến, nhà tù thực dân
hay chính xã hội cũ với bao bất công cùng sự chèn ép của tầng lớp thống trị đã đây một con người thiện lương vào bước đường cùng, khiến họ đánh mất đi bản thân mình Khi ấy, Chí chỉ “tồn tại”, chứ không còn “sống” nữa Tuy nhiên, sau thăm trong con người tưởng chừng lưu manh ấy, thì bản tính hướng thiện vẫn không hề
Trang 10bị mất đi Giây phút ăn bát Cháo hành của Thị Nở, chính tình thương, sự quan tâm
của Thị đã làm trỗi dậy trong hắn lương tri cùng khát khao được yêu thương, được quan tâm, được chan hòa sống trong thế giới con người và được làm người Ấy
chính là khi tính hướng thiện trỗi dậy Có thể thấy, bản tính con người vốn là hướng thiện cái thiện ấy có thể bị xã hội xô đấy, bị hoàn cảnh dồn nén thành cái ác
song cái thiện ấy không hề mất đi mà vẫn còn chút gì đó le lói trong tâm hồn con người, chỉ đợi thời cơ và bừng tỉnh Vậy nhân vật Bá Kiến thì sao? Cái ác của hắn
thực ra cũng là do hoàn cảnh Trong xã hội xâu xé quyền lực, không thủ đoạn, không nham hiểm không tàn bạo thì không thể tồn tại được Cái ác của Bá Kiến
như một điều tất yếu đại diện cho tầng lớp cường hào thống trị
b Quan niệm về nhân sinh
Theo quan điểm duy tâm, số mệnh là những điều may - rủi, họa - phúc đã được định sẵn cho cuộc đời mỗi người Trong tác phẩm, có thể thấy mỗi nhân vật đều chịu sự ràng buộc của số mệnh Khô - sướng, phúc - họa đời người ít nhiều cũng có
liên kết với số mệnh Nhân vật Chí Phèo vốn là đứa trẻ không cha không mẹ, bị bỏ rơi ở lò gạch hoang, được một người câu lươn nhặt mang về cho bà goa mu, roi sau
đó bán cho bác phó cối Ngày hôm đó, nếu không may mắn được người câu lươn nhặt về, có lẽ Chí đã chết đói chết rét trong cái lò gạch cũ; nếu không được bác phó
côi nhận nuôi thì cuộc đời Chí liệu sẽ đi về đâu? Có thể nói đây là cái “may” trong cái “rủi” bị bỏ rơi của Chí Xuất thân trẻ mô côi không gia đình, không nhà cửa,
không có lấy một mảnh đất căm dùi, cuộc đời Chí vốn không có điểm tựa Ngay từ
lúc mới sinh ra, cuộc đời Chí Phèo như một con số 0 tròn trĩnh Xét đến nhân vật Thi No, trong truyện Thị được mô tả với vẻ bề ngoài xấu đến mức ma chê quy hon:
“Cai mat cua thị đích thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người
ta có thể tưởng bề ngang lớn hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là
tai hại, nễu má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ
mat von nhiêu hơn người ta tưởng trên cô người Cái mũi thì vừa ngăn, vừa to, vừa