LỜI MỞ ĐẦU Đất nước Việt nam đã và đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và xu hướng hội nhập nền kinh tế đã tạo ra những yếu tố khách quan đòi hỏi các ngân hàng Việt nam phải đổi mới hoạt động, mở rộng phạm vi đối tượng phục vụ cũng như tích cực đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng, phong phú của nền kinh tế. Và thẻmột phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt kết hợp hài hòa giữa công nghệ hiện đại và công nghệ thông tin đang trở thành khuynh hướng sử dụng ngày càng phổ biến. Với các tiện ích của mình thẻ mang lại lợi ích không chỉ cho người sử dụng, người phát hành mà cả nền kinh tế. Thẻ là một công cụ thanh toán hiện đại, văn minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Việc tham gia vào lĩnh vực thẻ không những sẽ mang lại lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng, góp phần giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh mà thẻ còn là một phương tiện quảng cáo tạo lập lòng tin của khách hàng với ngân hàng, góp phần nâng cao vị thế hình ảnh của ngân hàng trên thị trường. Vì vậy thẻ đang là một đối tượng có sức hấp dẫn lớn đối với các ngân hàng Việt nam. Nhận thức được điều này, NH Đông Á đã không bỏ qua cơ hội. Tuy tham gia sau nhưng Đông Á đã nhanh chóng đạt đựoc nhiều thành tích. Với sự cạnh tranh mạnh mẽ và dự báo sẽ bùng nổ thị trường thẻ trong những năm gần đây, NH Đông Á đã không ngừng đổi mới sáng tạo nghiên cứu và đưa vào triển khai những phương thức chính sách mới nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, phấn đấu đưa thương hiệu Đông Á lên vị trí hàng đầu trên thị trường thẻ Việt nam. Xuất phát từ thực tế này, em quyết định chọn cho mình đề tài “Giải pháp nhằm thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Đông Á”. Đề tài được nghiên cứu với mục đích là từ những lý luận chung về nghiệp vụ thẻ và thực tiễn hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại NH Đông Á từ đó đề xuất biện pháp nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại NH Đông Á. Chuyên đề được nghiên cứu bằng phương pháp thống kê, thu thập tài liệu phân tích tổng hợp đối chiếu so sánh.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt nam đã và đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của nhà nước Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và xuhướng hội nhập nền kinh tế đã tạo ra những yếu tố khách quan đòi hỏi các ngânhàng Việt nam phải đổi mới hoạt động, mở rộng phạm vi đối tượng phục vụcũng như tích cực đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đạinhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng, phong phú của nền kinh tế Và thẻ-một phươngtiện thanh toán không dùng tiền mặt kết hợp hài hòa giữa công nghệ hiện đại vàcông nghệ thông tin đang trở thành khuynh hướng sử dụng ngày càng phổ biến.Với các tiện ích của mình thẻ mang lại lợi ích không chỉ cho người sử dụng,người phát hành mà cả nền kinh tế Thẻ là một công cụ thanh toán hiện đại, vănminh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Việc tham gia vào lĩnh vực thẻkhông những sẽ mang lại lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng, góp phần giảm thiểurủi ro trong kinh doanh mà thẻ còn là một phương tiện quảng cáo tạo lập lòng tincủa khách hàng với ngân hàng, góp phần nâng cao vị thế hình ảnh của ngânhàng trên thị trường Vì vậy thẻ đang là một đối tượng có sức hấp dẫn lớn đốivới các ngân hàng Việt nam
Nhận thức được điều này, NH Đông Á đã không bỏ qua cơ hội Tuy thamgia sau nhưng Đông Á đã nhanh chóng đạt đựoc nhiều thành tích Với sự cạnhtranh mạnh mẽ và dự báo sẽ bùng nổ thị trường thẻ trong những năm gần đây,
NH Đông Á đã không ngừng đổi mới sáng tạo nghiên cứu và đưa vào triển khainhững phương thức chính sách mới nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển hoạt độngphát hành và thanh toán thẻ, phấn đấu đưa thương hiệu Đông Á lên vị trí hàngđầu trên thị trường thẻ Việt nam Xuất phát từ thực tế này, em quyết định chọn
cho mình đề tài “Giải pháp nhằm thúc đẩy nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Đông Á”.
Đề tài được nghiên cứu với mục đích là từ những lý luận chung về nghiệp
vụ thẻ và thực tiễn hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại NH Đông Á từ đó
đề xuất biện pháp nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thờigian tới
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại NHĐông Á Chuyên đề được nghiên cứu bằng phương pháp thống kê, thu thập tàiliệu phân tích tổng hợp đối chiếu so sánh
Trang 2Về kết cấu bố cục ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệutham khảo thì chuyên đề được chia thành 3 chương.
Chương I: Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ
phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng.
Chương II: Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại NH
Đông Á.
Chương III: Giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển hoạt động phát hành
và thanh toán thẻ tại NH Đông Á.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các anh chị tại NHĐông Á đã hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thực hiện chuyên
đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ NGÂN
Theo luật NH và TCTD 1997, NHTM được định nghĩa:
“NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu vàthường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm phải hoàn trả và
sử dụng số tiền vay đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán”
Từ khái niệm đó, có thể thấy NHTM là loại hình NH hoạt động vì mụcđích lợi nhuận thông qua việc thu hút, kinh doanh các khoản vốn ngắn hạntrong xã hội cho nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau làm cho đồng tiềnluôn ở trạng thái vận động mang lại lợi nhuận thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởnggóp phần điều hoà vốn cho toàn bộ nền kinh tế
1.1.2 Các hoạt động của NHTM
NHTM là một loại hình kinh doanh đặc biệt - kinh doanh tiền tệ Hoạtđộng NH tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay Khi thịtrường tiền tệ ngày càng phát triển, các NHTM hoạt động theo mô hình NHTM
đa năng tập trung vào 3 nghiệp vụ chính: Nghiệp vụ sử dụng vốn, nghiệp vụ huyđộng vốn và cung cấp dịch vụ NH-tài chính
1.1.2.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Nhóm nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt độngkinh doanh của NHTM bao gồm:
- Nghiệp vụ tiền gửi: phản ánh các khoản tiền gửi của cá nhân, tổ chức vào
NH để thanh toán, bảo quản, hưởng lãi Đây là nghiệp vụ chủ yếu, chiếmkhoảng 80% nguồn vốn NH
- Nghiệp vụ phát hành GTCG: nhằm thu hút các nguồn vốn dài hạn để đảm
bảo khả năng đầu tư dài hạn của nền kinh tế
- Nghiệp vụ đi vay: bằng việc đi vay các TCTD khác trên thị trường tiền tệ
hoặc vay NHTW dưới hình thức chiết khấu hoặc vay có bảo đảm, cácNHTM tạo thêm nguồn vốn bổ sung, nhất là những thời điểm NH gặp khókhăn trong thanh toán, chi trả
Trang 4- Nghiệp vụ huy động vốn khác: NHTM nhận làm đại lý uỷ thác vốn cho
các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
- Vốn tự có của NH: Vốn thuộc sở hữu riêng của NH Tuy chỉ chiếm 1 tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn NH nhưng vốn tự có lại có ý nghĩa rấtquan trọng Vốn tự có được coi là tài sản đảm bảo thực lực, quy mô của
NH, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, tạo uy tín cho NH
1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
Nhóm nghiệp vụ này phản ánh quá trình sử lý vốn của NHTM nhằm mụcđích đảm bảo an toàn và tìm kiếm lợi nhuận, bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quỹ: phản ánh các khoản vốn của NH dùng để đảm bảo
khả năng thanh toán và thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định củaNHTW nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản, tạo nền tảng vững chắc cho khảnăng sinh lời của NH
- Nghiệp vụ cho vay: là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt
động kinh doanh của các NHTM Nó chiếm khoảng 60-70% tổng Tài sản
có của NHTM và 80-90% trong tổng sinh lời Thông qua việc cho vayngắn, trung-dài hạn đối với các chủ thể của nền kinh tế, NHTM đã cungứng vốn trực tiếp cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
- Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Thông qua các hình thức như hùn vốn, góp
vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường vốn ( chủ yếu là đầu tưchứng khoán) NHTM đã thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình
1.1.2.3 Cung cấp dịch vụ Ngân hàng-Tài chính
NHTM tiến hành cung ứng các dịch vụ cho khách hàng và nhận mộtkhoản thu nhập dưới dạng hoa hồng, bao gồm:
- Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.
- Hoạt động mua bán chuyển đổi ngoại tệ.
- Hoạt động bảo lãnh.
- Bảo quản vật có giá, cho thuê két sắt.
- Kinh doanh vàng bạc, đá quý.
- Dịch vụ tư vấn.
Các hoạt động này giúp NHTM thu được những khoản lợi đáng kể.Peter.S.Rose đã khẳng định: NH là loại hình tổ chức tín dụng cung cấp một danhmục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất Đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụthanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kì một tổ chức kinhdoanh nào trong nền kinh tế
1.1.3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường
- Thứ nhất, NH là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Thực hiện chức năng
làm trung gian tín dụng, NHTM đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh
tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất, cảitiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinhtế
Trang 5- Thứ hai, NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường: Để có
thể đạt hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốnđầu tư lớn, chất lượng các dịch vụ phải tốt Qua cầu nối hoạt động tíndụng, các NHTM đưa doanh nghiệp đến và có thể đứng vững trên thịtrường luôn sôi động và cạnh tranh ngày càng khốc liệt
- Thứ ba, NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bằng
hoạt động tín dụng và hoạt động giữa các NHTM trong hệ thống, cácNHTM đã góp phần mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền cung ứng tronglưu thông để ổn định giá trị đồng tiền cả về đối nội và đối ngoại
- Thứ tư, NHTM là cầu nối nền kinh tế quốc gia với nền tài chính quốc tế.
Qua các nghiệp vụ như tài trợ ngoại thương, thanh toán quốc tế, cácnghiệp vụ tín dụng, ngoại hối, hệ thống NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩyngoại thương không ngừng mở rộng đưa các tập quán, luật pháp, trình độkinh doanh xích lại gần nhau theo kịp xu hướng thời đại
Như vậy, có thể nói rằng với chức năng, vai trò của mình thì sự ra đời vàphát triển của NHTM là một tất yếu khách quan cho sự phát triển vững mạnhcủa nền tài chính quốc gia nói riêng và nền kinh tế nói chung Trong quá trìnhtồn tại, các NHTM không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đểhình thành nên những trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế, thể hiệnbản chất đi vay để cho vay Vì thế không một quốc gia nào có thể phủ nhậnnhững đóng góp của NHTM đối với nền kinh tế của họ
1.2 THẺ NGÂN HÀNG –VAI TRÒ CỦA THẺ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm Thẻ NH
1.2.1.1 Khái niệm
Việc sử dụng thẻ trong thanh toán ở một số lĩnh vực kinh doanh đã đượcbiết đến từ năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu California, nay là công tyMobile cấp thẻ cho nhân viên và khách hàng vì họ thấy được sự tiện dụng của
nó trong thanh toán Đến năm 1949, thẻ mới xuất hiện trong lĩnh vực NH vàthực sự phát triển trong mấy thập kỷ qua, đặc biệt là ở những nước công nghiệpphát triển Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về thẻ nhưng tạmthời ta có thể hiểu về thẻ qua khái niệm sau:
“Thẻ là công cụ thanh toán hiện đại do NHPH cấp cho khách hàng sửdụng thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư củamình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng kí kếtgiữa NHPH thẻ và chủ thẻ tại NH đại lý hoặc các máy trả tiền tự động Hoá đơnthanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ Cơ
sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thôngqua NHTT và NHPH thẻ”
Nói cách khác, thẻ NH là một sản phẩm mới của NH dựa trên công nghệthông tin hiện đại nhằm mang đến lợi ích cao nhất, sự đảm bảo an toàn nhất chongười sử dụng
1.2.1.2 Chức năng của thẻ NH
Trang 6Thẻ NH là một loại tiền đặc biệt – tiền điện tử mà chỉ duy nhất chủ thẻ sửdụng được Thẻ NH ra đời đã thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiềnmặt trong nền kinh tế.
Thẻ là công cụ để quản lý tài khoản cá nhân, có thể thực hiện được tất cảcác chức năng cơ bản của tài khoản
- Rút tiền mặt: Đây là chức năng thông dụng nhất của thẻ NH mà người sử
dụng có thể thực hiện mọi lúc tại các điểm rút tiền trên toàn quốc
- Vấn tin tài khoản, vấn tin giao dịch: Chủ thẻ có thể kiểm tra số dư trong
tài khoản thẻ và các giao dịch gần nhất từ đó quản lý việc chi tiêu mộtcách hiệu quả
- Nạp tiền: chủ thẻ có thể nạp tiền vào tài khoản trực tiếp tại NH, nạp tại
máy ATM, chuyển từ NH khác..
- Chuyển khoản: qua các tài khoản tại bất kỳ NH nào, thanh toán các giao
dịch kinh doanh, các hóa đơn dịch vụ (điện, nước, điện thoại )
- Nhận chuyển khoản: từ các NH trong và ngoài nước, nhận lương, nhận
thưởng
Nhưng tính chất chính của thẻ là sự linh hoạt và khả năng mở rộng rấtnhiều ứng dụng Hiện nay, hầu hết các loại thẻ trên thị trường đã đưa vào một sốtiện ích mở rộng như sau:
- Thanh toán hàng hóa - dịch vụ: tại các cửa hàng, trung tâm thương mại,
siêu thị, nhà sách, nhà hàng - khách sạn…
- Thanh toán trực tiếp hoặc tự động các dịch vụ điện, nước, điện thoại,
Internet, phí bảo hiểm
- Mua các loại thẻ trả trước, thanh toán phí dịch vụ trực tiếp trên máy
ATM.
Với công nghệ hiện đại được áp dụng sẽ có nhiều tiện ích hơn trên chiếcthẻ nhỏ bé này Xu hướng là chiếc thẻ đa năng trở thành vật duy nhất để quản lý
và giao dịch tất cả các dịch vụ NH:
Về mặt tài chính: Thẻ đa năng sẽ quản lý tất cả các tài khoản tại NH (tài
khoản tiết kiệm, tiền gửi, tiền vay ), kể cả tài khoản ngoại tệ
Về mặt xã hội: Thẻ đa năng sẽ phát triển thành thẻ từ có gắn chip để lưu
trữ những thông tin cá nhân quan trọng khác như: sổ lao động, bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế, nhóm máu, các tiền sử bệnh
Về mặt tiện ích cá nhân: Thẻ đa năng là thẻ ghi nợ được cấp thêm hạn
mức tín dụng - gọi là thấu chi, chủ thẻ có thể ngồi tại nhà sử dụng các dịch vụInternet banking, phone banking để thanh toán các loại phí dịch vụ, mua hàngtrực tuyến
Trang 7- Thẻ băng từ (magnetic stripe): Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính
với một băng từ ở mặt sau của thẻ lưu giữ những thông tin cơ bản về chủthẻ và thẻ Thẻ này trước kia được sử dụng rộng rãi nhưng do tiến bộ tinhọc đã khiến cho việc làm giả thẻ, giải mã thẻ dễ dàng hơn
- Thẻ điện tử (Smart card): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, có sự
thông minh và tính bảo mật hơn hẳn so với thẻ từ Trên mặt trước thẻđược gắn một con chip điện tử, nó có khả năng lưu trữ nhiều thông tinhơn và khó làm thẻ giả hơn Thẻ còn được sử dụng để thanh toán qua
Internet, qua các NH điện tử nhờ một thiết bị ngoại vi đặc biệt.
* Theo chủ thể phát hành thẻ
- Bank card: do NH phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh hoạt tài
khoản của mình tại NH hoặc sử dụng một số tiền do NH cấp tín dụng Thẻnày được sử dụng phổ biến, không chỉ lưu hành trong một số quốc gia màcòn có thể lưu hành trên toàn cầu
- Thẻ do tổ chức phi NH phát hành: Thẻ do các tập đoàn lớn như công ty
xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành: thẻ du lịch, thẻ giải trí
* Theo tính chất
- Thẻ tín dụng (credit card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất.
Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sởkinh doanh, khách sạn, sân bay hay rút tiền mặt trong một hạn mức tíndụng được NH phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng Hàng tháng hoặcđịng kỳ NH sẽ gửi bản liệt kê những khoản tiền đã sử dụng và yêu cầuchủ thẻ thanh toán lại cho NH
- Thẻ thanh toán (debit card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với
tài khoản tiền gửi của chủ thẻ Khi sử dụng loại thẻ này mua hàng hoá,dịch vụ giá trị giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản củachủ thẻ đồng thời ghi có vào tài khoản của cửa hàng thông qua các thiết bịđiện tử được đặt ngay tại quầy Ngoài ra chủ thẻ có thể sử dụng các hìnhthức thấu chi hoặc rút tiền tại các máy ATM Thẻ ghi nợ có 2 loại cơ bản:
Thẻ online: giá trị giao dịch được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ
thẻ
Thẻ offline: giá trị giao dịch được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ
sau đó vài ngày
- Thẻ rút tiền mặt (cash card): là loại thẻ chỉ được dùng với chức năng
chuyên biệt là rút tiền từ các máy rút tiền tự động(ATM) Mỗi lần thựchiện giao dịch, giá trị giao dịch sẽ được trừ dần vào số tiền ký quỹ Thẻrút tiền gồm 2 loại:
Loại 1: Chỉ dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động của
NHPH thẻ
Loại 2: Không chỉ sử dụng để rút tiền ở NHPH mà còn sử dụng để rút
tiền từ các NH tham gia tổ hợp với NHPH thẻ
* Theo hạn mức tín dụng
Trang 8- Thẻ vàng (gold card): được phát hành cho những đối tượng có uy tín, khả
năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn Tuỳ thuộc vào tập quán,trình độ phát triển mỗi vùng loại thẻ này có thể có những điểm khác nhaunhưng chung nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng (trên 5000USD) caohơn thẻ thường Ở Việt nam hạn mức thẻ này từ 50 triệu -> 100 triệu
- Thẻ chuẩn (standard card): là loại thẻ căn bản nhất, phổ biến, được hơn
150 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày Hạn mức tối thiểu tuỳtheo NHPH quy định (thường khoảng 1000USD) Ở Việt nam hạn mứcthẻ này từ 10 triệu -> dưới 50 triệu vnd
* Theo phạm vi sử dụng
- Thẻ nội địa: chỉ được sử dụng trong phạm vi quốc gia, đồng tiền giao dịch
phải là đồng bản tệ của nước đó Hoạt động của những thẻ này đơn giản
vì nó do một tổ chức hay một NH điều hành từ việc tổ chức phát hành đến
xử lý trung gian, thanh toán Thẻ nội địa chia làm 2 loại:
(local use only card): là loại thẻ do tổ chức tài chính hoặc NH trong
nước phát hành chỉ được dùng trong nội bộ mà thôi
(domestu use only card): là thẻ thanh toán mang thương hiệu của tổ
chức thẻ quốc tế được phát hành để sử dụng trong nước
- Thẻ quốc tế (International card): là thẻ do NHPH thẻ của một nước phát
hành nhưng có thể sử dụng thanh toán trong và ngoài nước đó Thẻ đượcthanh toán bằng đồng ngoại tệ mạnh Thẻ này là được chấp nhận rộng rãitrên toàn cầu nên được khách du lịch ưa chuộng Tuy nhiên do hoạt độngtrải khắp vậy nên qui trình hoạt động của loại thẻ này rất phức tạp, việckiểm soát tín dụng và các yêu cầu thủ tục thanh toán cũng rắc rối hơn.Loại thẻ này được hỗ trợ và quản lý bởi các tổ chức tài chính lớn nhưMaster card
Các loại thẻ quốc tế được chấp nhận tại Việt nam như Visa card, Mastercard và mới chỉ có một số ít NHPH thẻ quốc tế như: Eximbank, ACB, VCB
Như vậy dù có nhiều tiêu thức để phân loại thẻ thì các loại thẻ vẫn chungmột mục đích sử dụng để thanh toán, chi trả hàng hoá dịch vụ đem lại lợi íchcho khách hàng và nguồn lợi nhuận quan trọng cho NH
1.2.2 Lợi ích của thẻ NH.
Thẻ NH là một sản phẩm NH hiện đại đa lợi ích Ưu điểm lớn nhất màsản phẩm thẻ NH mang lại cho nền kinh tế, cho xã hội là nó cung cấp mộtphương tiện giao dịch thanh toán an toàn, văn minh và hiện đại
a.Đối với xã hội
Sử dụng thẻ sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó giảm chiphí xã hội như chi phí in ấn, chi phí bảo quản, chi phí nhân công, hạn chế rủi ronhư mất cắp, tiền giả, tiền xấu, hầu hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốcgia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến, mọi thông tin giaodịch thẻ được xử lý qua hệ thống máy tính điện tử thuận tiện, nhanh chóng,chính xác, tốc độ thanh toán nhanh góp phần tăng tốc độ chu chuyển vốn Với
Trang 9công nghệ hiện đại, mọi giao dịch đều nằm trong tầm kiểm soát của NH, tạo nềntảng cho công tác quản lý vĩ mô của nhà nước, thực hiện chính sách tiền tệ quốcgia.
b.Đối với người sử dụng
Với tư cách là một phương tiện thanh toán, thẻ NH cho phép chủ thẻ mua
hàng hoá, dịch vụ ở bất cứ một CSCNT nào hay rút tiền mặt tại các quầy thanhtoán của NH hay tại máy rút tiền tự động được trang bị khắp mọi nơi
Ngoài ra thẻ NH (Thẻ tín dụng) là một dạng cho vay thanh toán, NH ứngtrước tiền cho các giao dịch của khách hàng, cung cấp cho khách hàng một khảnăng mở rộng các giao dịch tài chính Khi sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hoá
và dịch vụ nghĩa là chủ thẻ đang sử dụng một dịch vụ thanh toán không dùng tiềnmặt qua NH Đồng thời, NH cho khách hàng vay tiền trên tài khoản cho vay pháthành thẻ tín dụng Số dư phát sinh sẽ được ghi vào bên nợ tài khoản cho vay pháthành thẻ tín dụng của khách hàng Khách hàng tiến hành thanh toán theo sao kêkhi đến hạn thanh toán Giống như một tài khoản tín dụng tuần hoàn, chỉ cầnkhách hàng tuân thủ đúng các quy định về thanh toán và chi tiêu như hợp đồng sử
dụng thẻ thì anh ta luôn có quyền vay NH trong phạm vi hạn mức cho phép.
c.Đối với CSCNT
Trong mạng lưới thanh toán thẻ thì các CSCNT cũng có lợi không ít.Chấp nhận thanh toán thẻ là một yếu tố cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của các CSCNT: thanh toán chậm trả, bán hàng ghi sổ để thu hút kháchhàng, giữ chân khách hàng Vì vậy, các CSCNT xuất hiện ngày càng nhiều CácCSCNT là khách hàng của NH, sử dụng dịch vụ bán hàng qua NH, còn NH cungcấp khách hàng cho các CSCNT Thẻ tín dụng cho phép khách hàng chi tiêuvượt khả năng chi trả ngắn hạn của mình đã kích thích việc mua sắm và như vậythì lợi ích cho các CSCNT chính là đó là khả năng mở rộng thị trường và doanhthu từ chính sách khách hàng của NH Chấp nhận thanh toán thẻ cũng giúp cácCSCNT tránh được hiện tượng khách hàng sử dụng tiền giả, giảm các chi phíkiểm đếm
d.Đối với NH
Sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của thẻ không chỉ đem lại cho NHnguồn thu đáng kể mà còn tác động nhiều đến hoạt động kinhdoanh của NH
- Nghiệp vụ thẻ mang lại nguồn vốn huy động rẻ chỉ phải trả lãi rất thấp đó
là khoản tiền gửi giao dịch của KH Nguồn vốn này khá lớn Chức năngtạo tiền của NH cũng được thực hiện bằng cách tạo tiền ghi sổ trên tàikhoản tiền gửi giao dịch của khách hàng Việc cấp thẻ tín dụng đã giúp
NH mở rộng tín dụng và mở rộng thị trường
- Với nghiệp vụ thẻ, NH đã đa dạng hoá hoạt động của mình NH không chỉ
tăng tiện ích của thẻ nói riêng mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ NH đikèm nhằm duy trì khách hàng cũ, thu hút thêm khách hàng mới và tạođiều kiện cho khách hàng tiếp xúc với các sản phẩm dịch vụ khác của NH.Ngoài ra việc tạo thêm sản phẩm dịch vụ còn giúp cho NH phân tán rủi
ro, tăng tính cạnh tranh, và đem lại cho NH nhhiều khoản thu khác
Trang 10Thu nhập từ việc cung cấp sản phẩm thẻ tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trongtổng thu nhập nhưng tương lai đây sẽ là nguồn thu đáng kể cho NH
- Bên cạnh đó việc gia nhập tổ chức thẻ thế giới đã tạo cho NH những mối
quan hệ vững chắc với các NH và tổ chức kinh doanh lớn, học hỏi kinhnghiệm củng cố uy tín của mình Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong điều kiện hội nhập toàn cầu như hiện nay
1.2.3 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ
1.2.3.1 Các chủ thể tham gia phát hành và thanh toán thẻ
- Tổ chức thẻ quốc tế: Tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên, đặt qui
định bắt buộc các thành viên phải áp dụng, thống nhất thành một hệ thốngtoàn cầu
- HNPH thẻ: là thành viên của tổ chức thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ
xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, chịutrách nhiệm thanh toán và cung cấp các dịch vụ liên quan
- NHTT thẻ: là NH được NHPH uỷ quyền thực hiện thanh toán thẻ theo
hợp đồng hoặc cung cấp các hỗ trợ hướng dẫn cho các CSCNT NHTT làthành viên chính thức hoặc là thành viên liên kết của TCTQT Trong một
số trường hợp thì NHPH chính là NHTT
- Chủ thẻ: Chủ thẻ chính là cá nhân đứng tên xin cấp thẻ và được NH cấp
thẻ để sử dụng theo hạn mức tín dụng được cấp
Chủ thẻ phụ là cá nhân được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính
- CSCNT: là các tổ chức cá nhân cung ứng hàng hoá dịch vụ chấp nhận thẻ
làm phương tiện thanh toán theo hợp đồng ký kết với NHPH hoặc NHTTthẻ được NH trang bị máy thanh toán và đơn vị này cũng phải nộp một lệphí cho các NH liên quan
1.2.3.2.Quy trình phát hành và thanh toán thẻ
* Quy trình phát hành thẻ
(1) KH nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ bao gồm đơn yêu cầu phát hànhthẻ, các giấy tờ tuỳ thân như CMTND, tình hình tài chính thu nhập với kháchhàng cá nhân hoặc giấy phép thành lập hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính,chữ ký của giám đốc nếu là tổ chức hoặc công ty
(2)- NH thẩm định hồ sơ, thẩm định thông tin khách hàng, hoàn thành cácthủ tục liên quan đến cầm cố thể chấp ký quỹ NH sẽ phân loại khách hàng để
Khách hàng
CSCNT
(7) (6)
Trang 11quyết định cấp loại thẻ nào, hạn mức tín dụng bao nhiêu là hợp lý Sau đó sẽtrình giám đốc chi nhánh phê duyệt hồ sơ hoàn chỉnh.
- Nếu khách hàng đủ điều kiện, NH sẽ tiến hành in và phát thẻ cho KH.
Trước khi giao thẻ NH yêu cầu khách hàng ký tên và đăng ký mẫu chữ ký
ở NH Sau đó bằng kỹ thuật riêng, từng NH tiến hành mã hoá nhữngthông tin cần thiết về chủ thẻ lên thẻ, đồng thời ấn định mã cá nhân chochủ thẻ, nhập dữ liệu vào tệp tin để quản lý
NH giao thẻ sẽ giao luôn mã số Pin cho chủ thẻ và yêu cầu giữ bí mật,chủ thẻ có thể tự đổi lại mã số PIN ngay tại quầy để đảm bảo bí mật Nếu mấttiền do để lộ số Pin thì chủ thẻ hoàn toàn chịu trách nhiệm Trách nhiệm pháthành thẻ của NH đến đây là kết thúc Thời gian từ khi khách hàng đến đề nghịmua thẻ đến khi nhận thẻ không quá 6 ngày
* Quy trình thanh toán thẻ
Nguyên tắc của quy trình thanh toán thẻ là ghi Nợ trước và ghi Có sau.(3) Chủ thẻ dùng thẻ để mua hàng hoá, trả dịch vụ tại các CSCNT hoặcrút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động
(4) CSCNT kiểm tra tính chân thực, hạn mức của thẻ vàcung ứng hànghoá, dịch vụ
(5) CSCNT lập hoá đơn thanh toán thành 4 liên và yêu cầu khách hàng kívào 1 liên sẽ giao cho khách hàng kèm hoá đơn, 1 liên do CSCNT giữ, hoá đơncùng giấy đòi tiền sẽ được gửi đến NHTT
(6) NHTT sẽ kiểm tra hoá đơn và thanh toán tạm ứng cho CSCNT NếuNHTT và CSCNT không có quan hệ đại lý với nhau thì bước (5) và (6) sẽ đượcthực hiện thông qua NH đại lý
(7) NHTT tổng hợp dữ liệu rồi gửi giấy báo nợ tới TCTQT
(8) TCTQT xử lý dữ liệu và báo Có cho NHTT
(9) TCTQT báo Nợ cho NHPH
(10) NHPH sẽ báo Có cho TCTQT
(11)Hàng tháng NHPH sẽ gửi bản sao kê tới chủ thẻ để làm căn cứ trảnợ.bản sao kê là bảng kê chi tiết các khoản chi tiêu và trả nợ của chủ thẻ cùng lãi
và phí phát sinh trong mộtchu kỳ sử dụng thẻ
(12)Đầu kỳ khách hàng sẽ thanh toán sao kê cho NH
1.2.4 Rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ
- Thẻ giả: Được làm căn cứ vào các thông tin có được từ các chứng từ giao
dịch thẻ, từ các thẻ bị mất cắp, thất lạc Đây là loại rủi ro rất nguy hiểm
mà các tổ chức thẻ rất quan tâm, gây tổn thất cho NHPH thẻ vì NHPH thẻphải chịu trách nhiệm với mọi giao dịch mang mã số NHPH
- Thẻ mất cắp, thất lạc: Chủ thẻ chưa kịp thông báo cho NHPH để tạm
ngừng sử dụng thẻ Rủi ro xảy ra nếu thẻ bị người khác sử dụng NHPHkhông phải chịu trách nhiệm
Trang 12- Thẻ phát hành dựa trên các đơn xin phát hành giả mạo: NH có thể phát
hành thẻ cho KH có đơn xin phát hành thẻ với các thông tin giả mạo hoặckhông đầy đủ do NHPH không thẩm định kỹ thông tin khách hàng Điềunày dẫn tới các rủi ro tổn thất tín dụng cho NH khi chủ thẻ sử dụng thẻ màkhông thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán
- Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng : Đến kỳ phát hành lại thẻ, NH nhận
được thông báo thay địa chỉ của chủ thẻ và được yêu cầu gửi thẻ về địachỉ mới Do không kiểm tra tính xác thực của thông báo nên NHPH đãgửi thẻ theo địa chỉ yêu cầu Rủi ro xảy ra khi thẻ bị sử dụng trong khichủ thẻ thực sự không biết và không nhận được thẻ đã phát hành
- Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ in nhiều hoá đơn thanh toán của một thẻ:
Khi thực hiện giao dịch nhân viên CSCNT cố tình in nhiều hoá đơn củacùng một giao dịch nhưng chỉ đưa cho KH ký vào một hoá đơn Sau đónhân viên này giả mạo chữ ký của chủ thẻ và gửi tới NHTT yêu cầu thanhtoán
- Giao dịch giả mạo: CSCNT cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của
chủ thẻ qua thư, điện thoại hoặc Internet Dựa trên các thông tin giả mạonhư loại thẻ, số thẻ, tênchủ thẻ, ngày hiệu lực
Ngoài ra còn có các rủi ro như máy móc trục trặc ảnh hưởng đến việc sửdụng phát hành và thanh toán thẻ, CSCNT cố ý hoặc vô tình chấp nhận thẻ giả,CSCNT phối hợp với tổ chức tội phạm lấy cắp thông tin trên băng từ thẻ thật đểtạo ra các thẻ giả, lộ số Pin Rủi ro tín dụng xảy ra khi thẻ được sử dụng nhưngkhông thực hiện thanh toán
Theo thống kê của TCTQT, doanh số thanh toán thẻ toàn cầu năm 2000đạt 3500 tỷ USD, năm 2003 đạt 4800 tỷ USD trong đó mỗi năm các TCTQT vàcác thành viên chỉ phải chi không dưới 1% doanh số cho rủi ro và phòng ngừarủi ro Điều này chứng tỏ việc quản lý và phòng ngừa rủi ro trong phát hành vàthanh toán thẻ là vô cùng quan trọng
1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát hành và thanh toán thẻ
1.2.5.1.Nhân tố khách quan
* Khách hàng
- Thói quen tiêu dùng tiền mặt của người dân Việt nam ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển thẻ đó là vì nó không tạo môi trường cho thanh toán thẻ
Để lĩnh vực thẻ phát triển rộng rãi thì việc đầu tiên phải là thay đổi thóiquen đó Chỉ khi mà việc thanh toán chủ yếu thực hiện qua NH thì thẻthanh toán mới phát huy hết hiệu quả sử dụng của nó
- Thu nhập của người dân cũng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động thanh
toán thẻ Khi thu nhập của người dân cao, nhu cầu mua sắm chi tiêunhiều, họ cần một phương tiện thanh toán nhanh chóng, an toàn, hiệu quả
và thẻ thanh toán đã đáp ứng được nhu cầu của họ
- Trình độ dân trí thể hiện thông qua nhận thức của người dân về thẻ Trình
độ dân trí cao đồng nghĩa với việc dễ dàng tiếp cận và áp dụng các thànhtựu khoa học kỹ thuật phục vụ con người
Trang 13* Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sựhình thành và phát triển của thẻ Môi trường pháp lý gồm các pháp chế, qui định
về chủ thể tham gia, lĩnh vực hoạt động và điều chỉnh các mối quan hệ pháp lýphát sinh Nếu môi trườngpháp lý đầy đủ đồng bộ thì sẽ khuyến khích sự pháttriển của thị trường thẻ, còn quá chặt chẽ hoặc quá lỏng lẻo cũng sẽ tạo ra nhữngkhó khăn phiền hà thậm chí kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng Thanh toán thẻ ở Việtnam còn chưa thực sự phổ biến một trong những nguyên nhân có lẽ là do nhữnghạn chế trong quy định về thẻ
* Môi trường công nghệ
Môi trường công nghệ quốc gia ảnh hưởng đến tới chất lượng phát hành
và thanh toán thẻ Việc ứng dụng những tiến bộ vượt bậc của khoa học côngnghệ đã đem lại thêm những tính năng mới cho chiếc thẻ, làm tăng thêm sự antoàn thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả cho chủ thẻ, giảm chi phí, giảm thiểurủi ro cho cả NH và khách hàng từ đó làm tăng tính hấp dẫn và khả năng cạnhtranh các sản phẩm dịch vụ của NH, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng
* Đối thủ cạnh tranh
Thẻ là thị trường còn nhiều mới mẻ và tiềm năng Nếu trên thị trường chỉ
có một NH cung cấp dịch vụ thẻ thì NH đó sẽ có lợi thế độc quyền nhưng giáphí có thể rất cao nên ít người sử dụng và thị trường khó sôi động Khi nhiều
NH cùng tham gia vào thị trường cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt, các NH để nângcao thế mạnh cạnh tranh sẽ không ngừng tìm cách đa dạng hoá dịch vụ, cải tiếnsản phẩm, giảm chi phí Các NH mới tham gia có thể tận dụng được lợi thế củangười đi sau, học tập kinh nghiệm, khắc phục nhược điểm của người đi trướctuy nhiên là thị trường lại bị chia sẻ Vì vậy các NH cần tính toán thời điểm pháthành thẻ sao cho vừa đảm bảo cạnh tranh vừa mang lại lợi nhuận cho NH
1.2.5.2 Nhân tố chủ quan
Nhóm nhân tố chủ quan gồm những nhân tố tác động trực tiếp tới pháthành và thanh toán thẻ NH
* Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ: thẻ thanh toán là một loạithẻ được chuẩn hoá cao ứng dụng nhiều kỹ thuật hiện đại nên NH cần phải cóđội ngũ nhân viên có năng lực, năng động có nhiều kinh nghiệm, có khả năngtiếp cận vận hành máy móc thiết bị hiện đại, thực hiện quy trình nghiệp vụ NHcần có sự quan tâm, có chính sách đào tạo thích hợp nguồn nhân lực không chỉchuyên môn nghiệp vụ mà còn cả kỹ năng giao tiếp để có thể thu hút duy trì mốiquan hệ với khách hàng bởi vì thẻ là một sản phẩm dịch vụ, sự tồn taị phát triểncủa nó cũng phụ thuộc vào mối quan hệ giữa NH và khách hàng
* Tiềm lực kinh tế và trình độ kỹ thuật công nghệ của NH: để có thể trởthành thành viên của hiệp hội thẻ và có thể cung ứng dịch vụ thẻ thì NH cầnphải tiềm lực tài chính đủ mạnh để trang trải các loại chi phí và theo kịp sự đổimới không ngừng của kỹ thuật công nghệ
Trang 14* Quy mô và phạm vi hoạt động: NH có quy mô lớn phạm vi hoạt độngrộng có uy tín là điều kiện tốt để quảng bá phát triển sản phẩm mới, trang bịcông nghệ mới tiếp cận với các sản phẩm của NH hiện đại.
* Định hướng phát triển của NH: NH có định hướng phát triển thẻ sẽ xâycho mình các kế hoạch phát triển phù hợp trên cơ sở nghiên cứu điều tra khảosát đối tượng khách hàng, đối thủ cạnh tranh
1.2.6 Kinh nghiệm quốc tế trong phát hành và thanh toán thẻ
Ở Việt nam, hoạt động thẻ vẫn còn khá mới mẻ nhưng các nước phát triểntrên thế giới thì đã có thâm niên trong lĩnh vực này Có thể tham khảo phươngpháp của một số nước đi trước trong công nghệ thẻ sau:
* Đức: Việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trước hết cần pháttriển hệ thống tài khoản và các dịch vụ có liên quan đến tài khoản đó
Từ năm 1960 việc trả lương qua tài khoản cá nhân đã làm cho thanh toánkhông dùng tiền mặt ở nước này phát triển nhanh chóng Chủ tài khoản đượcphép thấu chi tài khoản tiền gửi không kỳ hạn đối với cá nhân tối đa bằng 3tháng lương, với doanh nghiệp tối đa bằng hạn mức tín dụng NH đưa ra các lãisuất khác biệt dựa trên những khoản mua bằng thẻ tín dụng để khuyến khíchkhách hàng có những tín dụng thấu chi tốt Chính sách lãi suất này phải linhhoạt để đảm bảo lợi nhuận và thị phần của NH Người sử dụng thẻ tín dụng cóthể vay trả một lần hoặc trả dần Các công ty phát hành thẻ tín dụng nhận ra rằngnhững người sử dụng thẻ tín dụng trả dần mang lại lợi nhuận cho NH cao hơn sovới những người trả một lần Tuy vậy việc giám sát thẻ tín dụng là rất quantrọng vì đã có một lượng lớn thẻ tín dụng mất cắp hoặc sử dụng gian lận Bêncạnh đó chính sách marketing cũng có vai trò lớn chiếm khoảng 20% nguồnnhân lực trong ngân hàng Để kích thích tiêu dùng thẻ thì NH nước này triểnkhai một hệ thống cộng dồn tính điểm NHPH sẽ cung cấp cho chủ thẻ một sốđiểm ban đầu tuỳ thuộc vào thông tin về thu nhập của khách hàng Số điểm nàyđược điều chỉnh tuỳ theo số giao dịch và lượng giaodịch, số lần vi phạm nguyêntắc NH có thể mở rộng hay thu hẹp giao dịch, hạn mức tín dụng, sự ưu đãi theo
số điểm này Phương thức này sẽ khuyến khích KH ở thứ hạng cao tăng tiêudùng, trung thành với NH từ đó làm tăng thu nhập cho NH
Đây là phương pháp quản lý rủi ro năng động mang tính chủ động choNH
Mỹ: Việc tổ chức quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
của thanh toán thẻ.
Nơi đây thanh toán thẻ cực kỳ phát triển Việc quản lý được chia thànhcác môđun Đó là hệ thống tài chính, hệ thống mở tài khoản, hệ thống quản lýgiao dịch, hệ thống phục vụ khách hàng Mô hình tổ chức mạng lưới cho phépcác NH thanh toán và phục vụ lẫn nhau Với hệ thống ATM ngày nay, kháchhàng sử dụng thẻ tín dụng hay thẻ nợ của một NH trong mạng lưới phát hành cóthể giao dịch tại bất kỳ máy ATM nào thuộc cùng mạng lưới
Tuy vậy cũng đã có những hành vi gian lận trên máy hoặc trục trặc máykhông hoạt động xảy ra khiến khách hàng không hài lòng và tìm ngay đến NH
Trang 15khác Vì vậy không nên chỉ đặt một máy tại một điểm và cần thiết lắp cameratheo dõi bảo vệ, cũng nên quan tâm thay thế những máy lạc hậu quá đồng thờikhuyến cáo khách hàng có ý thức bảo vệ thiết bị khi sử dụng Ở các nước côngnghiệp phát triển thì vấn đề này được thực hiện khá tốt.
Trung quốc: Điều khác biệt cơ bản ở các nước phương Đông so vớiphương Tây là tâm lý tiêu dùng Người phương Đông thích dùng tiền mặt hơnngười phương Tây, lại thêm tập quán tiết kiệm vì thế nên thẻ chưa được ưachuộng Trung quốc bắt đầu phát triển nghành thẻ từ năm 1993 và phát triểnnhanh chóng từ khi thực hiện dự án thẻ vàng, đa dạng hoá các loại thẻ, cải thiệncấu trúc thẻ, tăng số lượng các CSCNT mở rộng lĩnh vực ra toàn nền kinhh tế.Đến nay nghành kinh doanh thẻ đã được xử lý bằng máy tính một cách căn bảnnhưng hầu hết các thiết bị cũ, phù hợp với tổ chức lao động thủ công nên máykhông đồng bộ, tốc độ xử lý chậm, nhiều sai sót Việc quảng cáo không đượcxúc tiến đầy đủ, không chú trọng nâng cấp máy móc, người dân chưa biết hếtnhững tiện ích của thẻ Sự phát triển thẻ thanh toán ở Trung quốc chỉ ra rằng thẻcần đáp ứng nhu cầu và thu hút khách hàng bằng cách thêm vào các phươngthức giao dịch mới, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm và một chính sách quảng
bá thích hợp
Pass card của Merchant B là một ví dụ Nó không chỉ cung cấp dịch vụ rúttiền tự động mà còn có thể chuyển khoản, công bố số lượng giao dịch cổ phiếu,mua hàng qua mạng đem lại lợi thế cạnh tranh tương đối Sự phát triển củaMarchants B là vì nó luôn đặt mục tiêu khuyếch trương thị trường và dịch vụđem lại sản phẩm hỗn hợp
Thực tế cho thấy khách hàng thường có xu hướng sử dụng một nhóm dịch
vụ của NH như một giải pháp tài chính tổng thể Tại MALAIXIA thì tài khoảntiền gửi tiết kiệm cũng có thể rút qua ATM Ngoài ra NH cần có sự phối hợp vớicác tổ chức khác trong một số lĩnh vực như trả lương hay phân phối sản phẩmbảo hiểm để tập cho người dân thói quen sử dụng thẻ, vừa tiện lợi cho người dânvừa mang lại nguồn thu đáng kể cho NH và các tổ chức liên quan Ở các nướcChâu Á như Hồng Kông, Singapo, kênh phân phối qua NH mang lại 20%-25%doanh thu bảo hiểm
Việt nam là một nước đi sau trong lĩnh vực thẻ, tuy gặp không ít khó khănnhưng cũng có một thuận lợi lớn đó là bài học kinh nghiệm quý từ thực tiễnphát triển thanh toán thẻ của các bậc đàn anh trên giới :
Về giải pháp kỹ thuật, các NH phải không ngừng xúc tiến việc tìm hiểunhu cầu thông tin từ phía khách hàng và xu hướng từ đối thủ cạnh tranh để cóbiện pháp đa dạng hoá các loại thẻ, cải thiện cấu trúc thẻ, tăng tính bảo mật,thêm các tiện ích mới đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ thoả mãn tốt nhấtnhu cầu của khách hàng và gợi mở ra những nhu cầu mới
Bên cạnh đó NH cần có chính sách lãi suất linh hoạt, chính sách đãi ngộthích hợp để khuyến khích chủ thẻ tiêu dùng Các biện pháp Marketing cũng cầnđược quan tâm đầu tư đúng mức như quảng cáo trên các phương tiện thông tinđại chúng, tài trợ cho các hoạt động, giúp khách hàng có thể tiếp cận và hiểu và
sử dụng các sản phẩm hiện đại của NH
Trang 16Để tránh sự phân tán trong hoạt động và làm tăng hiệu quả của sản phẩmcác NH có thể hợp tác với nhau trong một số khâu dể phát huy cao nhất hiệu quả
và hạn chế rủi ro Máy móc phục vụ cho việc phát hành vận hành cũng cần phảiđược đầu tư bố trí hợp lý đảm bảo việc thanh toán an toàn nhanh chóng thuậntiện
Ngoài ra hệ thống pháp lý cũng cần hoàn thiện để vừa bảo vệ quyền lợicủa các chủ thẻ tham gia vừa thúc đẩy thanh toán thẻ phát triển
Trên đây ta đã tìm hiểu những lý luận cơ bản nhất về nghiệp vụ phát hành
và thanh toán thẻ Có thể khẳng định thẻ có ý nghĩa kinh tế lớn không chỉ vớimột đất nước nói riêng mà là với toàn cầu nói chung là con đường nhanh nhất đểthực hiện phi tiền mặt hoá hệ thống thanh toán xã hội Phát triển thẻ là một xuthế tất yếu thể hiện sự văn minh cũng như sự phát triển của quốc gia Tuy manglại nhiều lợi ích nhưng thanh toán thẻ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Vấn đề đặt ra làphải tìm cách để phát huy tối đa lợi ích và hạn chế tối thiểu, quản lý được rủi ro
để thẻ thực sự trở thành công cụ không thể thiếu của xã hội văn minh hiện đại
Trang 17CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN
THẺ TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG Á
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐÔNG Á(EAB)
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng Đông Á
2.1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển
Tiền thân là cửa hàng vàng bạc đá quý quận Phú Nhuận, NHTMCP Đông
Á chính thức đi vào hoạt động ngày 01/07/1992 theo giấy phép thành lập số135/GP-UB do ủy ban nhân dân thành phố HCM cấp ngày 06/04/1992 và giấyphép hoạt động số 0009/NH-CP do ngân hàng nhà nước cấp ngày 08/04/1992,ngày 01/07/1992 Trụ sở đầu tiên tại 60-62 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận PhúNhuận Nguồn vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng do các cổ đông chính đóng gópnhư:
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận
Công ty kinh doanh phát triển nhà quận Phú Nhuận
Ban tài chính quản trị thành ủy thành phố HCM
Tổng số cán bộ nhân viên NH mới chỉ dừng lại ở con số 56 người
Theo đà phát triển của nền kinh tế, NHTMCP Đông Á đã không ngừng
mở rộng quy mô hoạt động của mình Đến nay NHTMCP Đông Á đã có mộtHội sở chính với 37 chi nhánh, 6 phòng giao dịch và một điểm giao dịch trải dài
từ Nam ra Bắc Hai công ty trực thuộc là công ty kiều hối Đông Á, thành lập01/01/2001 với 8 chi nhánh và công ty chứng khoán Đông Á Vốn điều lệ của
NH cũng không ngừng tăng qua các năm Đến 09/12/2005 đã là 500 tỷ đồngtăng gấp 25 lần so với khi mới thành lập Trong đó 38% là vốn sở hữu nhà nước,62% là vốn sở hữu của các tổ chức công đoàn và tư nhân Dự kiến năm 2006, sốvốn điều lệ của EAB sẽ đạt mức 800 tỷ đồng Các dịch vụ của EAB cũng ngàycàng tăng cả về chất lượng và số lượng
Biểu 1:Tình hình vốn điều lệ của EAB (đv: tỷ đồng)
Do sự mở rộng về quy mô hoạt động, số lượng cán bộ viên chức cũngtăng lên đến thời điểm này là khoảng 900 người NH đã dành ra gần 2 tỷ đồng
để tiến hành nhiều khóa đào tạo chuyên môn cho cán bộ nhân viên Ngoài ra
Trang 18EAB còn có các tổ chức chính trị như chi bộ đảng, công đoàn và đoàn thanhniên phối hợp với ban giám đốc thực hiện tốt các chính sách dành cho người laođộng.
Biểu 2a:Tình hình tăng trưởng nguồn
nhân lực của EAB (đv:người)
Biểu 2b:Trình độ cán bộ nhân viên
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của NH Đông Á
- Đại hội Cổ Đông: có nhiệm vụ bầu ra Hội Đồng quản trị với nhiệm kỳ từ
2-5 năm theo cách bầu trực tiếp bằng phiếu kín
- Hội Đồng quản trị : Là bộ máy quyền lực cao nhất của NH, mọi hoạt động
của NH đều đặt dưới quyền của Hội đồng quản trị
- Ban kiểm soát: có nhiệm vụ kiểm tra các hoạt động tài chính, giám sát
việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểmtoán nội bộ của NH
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức EAB
- Ban Tổng giám đốc: gồm có 1 tổng giám đốc và các phó tổng giám đốc
do HĐQT bổ nhiệm và được thống đốc NHNN chuẩn y Tổng giám đốc là
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN TỔNG GIÁM ĐỐC BAN TƯ VẤN
CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG CHI NHÁNH
CÔNG TY TRỰC THUỘC
CỘNG TÁC VIÊN ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT
Trang 19người chịu trách nhiệm trước HĐQT để điều hành mọi hoạt động hàngngày của NH phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn của mình, phù hợp vớiquy định của pháp luật.
HĐQT, Ban kiểm soát và Ban Tổng giám đốc có vị trí đặc biệt quantrọng, sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của NH phụ thuộcrất lớn vào đội ngũ thành viên HĐQT, Ban kiểm soát cũng như Ban Tổng giámđốc
- Ban tư vấn và Cộng tác viên: hỗ trợ ban Tổng giám đốc về đường lối
chiến lược kinh doanh, đề xuất các ý tưởng để hoàn thiện và phát triển
NH ngày một tốt hơn
- Các phòng ban chức năng, các chi nhánh và công ty trực thuộc: trực tiếp
thực hiện các hoạt động nghiệp vụ theo qui định cũng như chức năng cụthể mỗi đơn vị
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động của EAB trong những năm gần đây
2.1.2.1 Huy động vốn
Công tác huy động vốn luôn là nghiệp vụ quan trọng của NHTMCP Đông
Á, giải quyết khâu đầu vào tức là vốn hoạt động của NH Công tác huy độngvốn của NH ngày càng tăng cả về chất lượng và số lượng, đa dạng về cách thức:Tiết kiệm Đông Á-đa dạng về loại tiền, kỳ hạn,…Tiết kiệm tích lũy An cư Đông
Á, tiền gửi thanh toán cá nhân có nhiều kỳ hạn Việc điều hành quản trị lãi suấtđược thực hiện một cách năng động theo tín hiệu thị trường Công tác quản trịthanh toán nâng cao và quán triệt trong cả hệ thống Nhờ đó mà công tác huyđộng vốn đã đạt được những kết quả khả quan: Số dư các loại tiền gửi( kể cảtiền gửi của tổ chức tín dụng và ký quỹ thanh toán) đạt 6.881 tỷ đồng, tăng 40%
so với cùng kỳ Số dư huy động bình quân theo tháng đạt 4.703 tỷ đồng tăng41,4% so với cùng kỳ năm 2003 và tăng 100,2% so với chỉ tiêu đặt ra TăngVTC tại thời điểm 31/12/2004 là 397,6 tỷ đồng tăng 39% so với cùng kỳ nămtrước (chủ yếu tăng nguồn vốn huy động tiền gửi của khách hàng), vốn huyđộng chiếm 85,8% cơ cấu nguồn vốn 6 tháng đầu năm 2005, EAB huy độngvốn bình quân đạt 6400 tỷ đồng( đạt 99% kế hoạch)
Trang 20Biểu 3:
Biểu 4: Tình hình tăng trưởng vốn tự có của EAB (đv: tỷ đồng)
Kết quả huy động vốn trong những năm gần đây đã giúp cho EAB có đủnguồn vốn mở rộng tín dụng phục vụ nhu cầu của cá nhân, tổ chức kinh tếdoanh nghiệp đến giao dịch với NH
2.1.2.2 Sử dụng vốn
Điểm nổi bật và khác biệt so với các NH khác là EAB cho vay chủ yếuđối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nên rủi ro trong hoạt động kinh doanhcủa NH là rất lớn Tuy nhiên với phương châm “an toàn-hiệu quả” EAB đã đạtnhững kết quả khả quan Các hình thức tín dụng EAB cung cấp khá đa dạng: chovay sản xuất trong cùng địa bàn EAB, cho vay tiêu dùng chỉ áp dụng với côngdân từ 18 tuổi trở nên, hay tín dụng an cư- một hình thức khác của cho vay tiêudùng nhưng thời hạn 10 năm
Hoạt động tín dụng của EAB trong những năm qua có mức tăng trưởngtrong phạm vi giới hạn do NHTW đề ra (25%) NH đã tập trung một phần nguồnvốn tài trợ cho các họat động sản xuất của các khách hàng Dư nợ tính đến ngày31/12/2004 đạt 4,562 tỷ đồng Dư nợ bình quân hàng tháng đạt 3.880 tỷ đồng,tăng 24,6% và đạt 103% so với mục tiêu đề ra 6 tháng đầu năm 2005 dư nợ chovay bình quân đạt 4900 tỷ đồng (đạt 98% kế hoạch đầu năm) Do kiềm chế tốc
độ tăng dư nợ nên NH đã ưu tiên cấp tín dụng cho các khách hàng có uy tíntrong thanh toán Đồng thời tỷ lệ nợ xấu luôn được kiểm soát nên chỉ chiếm0,49% tổng dư nợ tại thời điểm cuối năm