Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của các dòng cá chép HP3, VNW và LOC trong 10 tháng nuôi tại mỗi một trang trại ở hai tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên.. Tốc độ tăng trưởng ngày của dòng cá chép
Trang 1Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Chương trình Hợp tác phát triển nông nghiệp và nông thôn
(CARD)
Dự án 002/004VIE
Tạo giống cá chép (Cyprinus carpio L.) chất lượng cao
phục vụ nuôi cá quy mô nhỏ
MS4: Thí nghiệm ở các nông hộ và nhu cầu nâng cao cá
chép chọn giống
Christopher M Austin 1 , Phạm Anh Tuấn 2 , Thái Thanh Bình 2 , Lê Quang Hưng 2
1Khoa Công nghệ sơ cấp và khoa học, Trường Đại học tổng hợp Charles Darwin, Darwin Northern Territory 0909, Australia
2Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1, Đình Bảng- Từ Sơn- Bắc Ninh
Tháng 10, 2007
Trang 2Mục lục
1 Lời giới thiệu 6
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 8
2.1 Thiết kế thí nghiệm 8
2.2 Chọn lọc những dòng cá chép 9
2.3 Ương nuôi cá chép và các bước thí nghiệm 10
2.4 Thu thập và phân tích số liệu 12
3 Kết quả 15
3.1 Tỷ lệ tăng trưởng của cá giống 15
3.2 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của các dòng HP3 và LOC và ảnh hưởng của chế độ cho ăn 15
3.3 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của các dòng cá HP3, H3B và LOC 17
3.4 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của các dòng HP3, VNW và LOC 19
3.5 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của các dòng các chép HP3, H3B, VNW và LOC ở các trang trại ít đầu tư thức ăn có kiểm soát biến động trong các ao nuôi 21
3.6 Năng suất của ba dòng cá chép (HP3, H3B, LOC) nuôi trong các trang trại 23
3.7 Năng suất của hai dòng cá chép (HP3 và LOC) nuôi trong các trang trại 25
3.8 Nhu cầu giống cá chép chất lượng cao 27
4 Kết luận và đề xuất 29
Lời cảm ơn 31 Phụ lục Error! Bookmark not defined Tài liệu tham khảo Error! Bookmark not defined.
Trang 3Danh sách hình
Hình 2.1 Ruộng lúa được sử dụng cho nuôi thí nghiệm tại tỉnh Yên Bái 9 Hình 2.2 Ao của người dân được dùng để nuôi thí nghiệm tại tỉnh Thái Nguyên 9 Hình 2.3 Đo cá chép 12 Hình 2.4 Người dân tộc thiểu số thu hoạch cá chép trong ruộng lúa tại tỉnh Yên Bái 13Hình 2.5 Thu hoạch cá chép trong ao tại tỉnh Thái Nguyên 13 Hình 2.6 Nông dân hài lòng với sự tăng trưởng của cá 14 Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng ngày của dòng cá chép HP3 và LOC ở 18 trang trại 16 Hình 3.2 Ví dụ về tăng trưởng của 3 dòng cá chép trong ruộng lúa Yên Bái sau 6 tháng
nuôi 19 Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của 3 dòng cá HP3, H3B và LOC tại 11 trang
trại ở Yên Bái và Thái Nguyên 19 Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của các dòng cá chép HP3, VNW và LOC trong
10 tháng nuôi tại mỗi một trang trại ở hai tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên 20 Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của các dòng cá chép HP3, H3B, VNW và LOC
tại 3 trang trại 22 Hình 3.6 Cá chép từ dòng HP3 sau 7 tháng nuôi trong trang trại đầu tư nhiều thức ăn tại
tỉnh Thái Nguyên 23 Hình 3.7 Tỷ lệ cá chép hương và giống nâng cao chất lượng di truyền tại Vĩnh Phúc,
Thái Nguyên và Yên Bái trong giai đoạn 2004-2006 29
Trang 4Danh sách bảng
Bảng 2.1 Trang trại, loại ao nuôi, số lượng cá mỗi dòng được thả (một số trang trại
không có số liệu cho vào bảng do bị thất thoát cá do mưa lũ) 11 Bảng 2.2 Phân tích số liệu nuôi thử nghiệm cá chép 14 Bảng 3.1 Trung bình chiều dài cơ thể và trọng lượng cá giống cá chép sau 60 ngày ương
15Bảng 3.2 Bảng ANOVA phân tích sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng ngày của các dòng
cá chép (HP3 and LOC) và sự liên quan đến chế độ cho ăn 16 Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng ngày của dòng cá chép HP3 và LOC trong 10 tháng tại 18
trang trại với 2 chế độ cho ăn khác nhau ở tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên Chữ viết bên trên chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm dựa vào phân tích Turkey 16 Bảng 3.4 Bảng ANOVA kiểm tra ảnh hưởng của dòng cá chép (HP3 and LOC) và chế
độ cho ăn đến sự khác biệt về tỷ lệ sống của cá 17 Bảng 3.5 Tỷ lệ sống của các dòng cá chép HP3 và LOC trong giai đoạn 10 tháng tại 18
trang trại cho ăn 2 loại thức ăn khác nhau tại Yên Bái và Thái Nguyên Chữ viết bên trên chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm dựa vào thử nghiệm Turkey 17 Bảng 3.6 Bảng ANOVA kiểm tra ảnh hưởng của dòng cá chép (HP3, H3B và LOC) và
chế độ cho ăn đến sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng ngày của cá 18 Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng của cá chép HP3, H3B và LOC trong 10 tháng tại 11 trang
trại ở Yên Bái và Thái Nguyên Chữ viết bên trên chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm dựa vào thử nghiệm Turkey 18 Bảng 3.8 Bảng phân tích ANOVA sự khác nhau về tỷ lệ sống của các dòng cá chép
(HP3, H3B và LOC) 19 Bảng 3.9 Bảng phân tích ANOVA cho sinh truởng theo ngày của các dòng cá chép
(HP3, VNW và LOC) 20 Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của các dòng cá chép HP3, H3B và LOC trong
10 tháng tại 5 trang trại ở tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên Chữ viết bên trên chỉ ra
sự khác biệt có ý nghĩa giữa các dòng dựa vào phân tích Turkey 20
Trang 5Bảng 3.11 Bảng phân tích ANOVA sự khác biệt về tỷ lệ sống của các dòng cá chép
(HP3, VNW và LOC) 21 Bảng 3.12 Bảng phân ANOVA về tốc độ tăng trưởng ngày của các dòng cá chép (HP3,
H3B, VNW và LOC) 21 Bảng 3.13 Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của các dòng cá chép HP3, H3B, VNW và
LOC trong 10 tháng nuôi tại 3 trang trại ở hai tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên Chữ viết bên trên chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các dòng dựa vào phân tích Turkey 22 Bảng 3.14 Bảng phân tích ANOVA sự khác biệt tỷ lệ sống của dòng cá chép (HP3,
VNW và LOC) và loại hình nuôi (ít đầu thư thức ăn và đầu tư nhiều thức ăn) 23 Bảng 3.15 Năng suất của ba dòng cá chép (HP3, H3B and LOC) nuôi 300 ngày trong
11 trang trại tại hai tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên 24 HF: Đầu tư nhiều thức ăn ; HL: Đầu tư ít thức ăn.Bảng 3.16 Phân tích ANOVA năng
suất của các dòng cá chép HP3, H3B, và LOC 24 Bảng 3.16 Phân tích ANOVA năng suất của các dòng cá chép HP3, H3B, và LOC 25Bảng 3.17 Phân tích ANOVA năng suất của hai dòng cá HP3, và LOC 25 Bảng 3.18 Năng suất của hai dòng chép (HP3 and LOC) trong 18 trang trại với 300
ngày nuôi Chữ viết bên trên chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm dựa vào phân tích Turkey 26 HF: Đầu tư nhiều thức ăn ; HL: Đầu tư ít thức ăn 26 Bảng 3.19 Năng suất hai dòng HP3 và LOC trong 10 tháng tại 18 trang trại với 2 chế độ
cho ăn ở hai tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên 26 Bảng 3.20 Số lượng các trại sản xuất giống và cơ sở ương giống tại 3 tỉnh 27 Bảng 3.21 Số lượng cá chép hương được sản xuất ở 5 trại sản xuất giống tại ba tỉnh Thái
Nguyên, Yên Bái và Vĩnh Phúc trong năm 2006 27 Bảng 3.22 Tỷ lệ cá hương được sản xuất từ dòng cá chép nâng cao chất lượng di truyền
trong 5 trại giống ở Thái Nguyên, Yên Bái và Vĩnh Phúc trong năm 2006 28
Trang 61 Lời giới thiệu
ở Việt Nam nuôi trồng thuỷ sản đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh
tế và đảm bảo an ninh thực phẩm cho những hộ nuôi quy mô nhỏ và đóng góp tới 35% lượng tiêu thụ protein của người Việt Nam Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm tăng trưởng 10% và đóng góp đáng kể cho thu nhập từ nguồn xuất khẩu của cả nước (Bộ Thuỷ sản, 2007)
Cá chép là một trong những loài nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt phổ biến nhất ở Việt Nam, chúng được nuôi trong ao, lồng, hồ chứa và ruộng lúa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cũng như tạo thu nhập cho nông hộ Qua điều tra 133 hộ nuôi cá chép gần đây cho thấy nuôi cá ao và nuôi ruộng lúa là loại hình được ưa chuộng hơn cả (chiếm tới 98%) trong đó nuôi ao là thông dụng nhất (Austin et al., 2007a) Hầu hết người dân nuôi cá chép nuôi kết hợp với 8 loài cá khác, bao gồm những loài cá bản địa (cá mè trắng, cá trắm đen) và những cá nhập nội (cá Trắm cỏ, cá Mè hoa, Rôhu, Mrigal, Chim trắng, Rô phi) Theo điều tra gần đây, cá Chép là loài nuôi chiếm ưu thế, chiếm 30,1% số lượng cá trong những ao nuôi ghép (Austin và ctv., 2007a)
Cá chép được nuôi khá đa dạng từ nuôi thả quảng canh quy mô nhỏ, thức ăn cho cá hoàn toàn dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên, đến nuôi bán thâm canh sử dụng phân bón và bổ sung thức ăn là cám, phụ phẩm nông nghiệp và cao hơn là hình thức nuôi thâm canh mật
độ cao, cho ăn thức ăn công nghiệp, đầu tư lớn Nuôi bán thâm canh cá chép là hình thức nuôi phổ biến nhất ở nước ta hiện nay, sử dụng các ao nuôi hoặc kết hợp giữa nuôi ao và nuôi trong ruộng lúa (Austin và ctv, 2007a)
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng các loài cá nuôi, bao gồm chất lượng giống (cá hương và cá giống), loại thức ăn và mức cho ăn, bón phân và quản lý ao, bao gồm hệ thống cung cấp nước Trong các vấn đề trên thì chất lượng con giống được xác định là mối quan tâm chủ yếu đối với các nhà nghiên cứu do nó có liên quan trực tiếp tới chất lượng di truyền của cá bố mẹ được dùng để sản xuất cá hương và cá giống (Thái
Trang 7và ctv, 2006 - 2007), nhưng những người nuôi cá lại thường không hiểu rằng đó là một nguyên nhân có thể ảnh hưởng tới sản lượng nuôi (Austin và ctv 2007a)
Ở Việt Nam có nhiều loài cá Chép bản địa khác nhau được nuôi nhưng chúng thường có kích cỡ nhỏ và tỷ lệ tăng trưởng chậm (Trần, 1983) Trong thời gian gần đây, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 (RIA1) đã sản xuất giống cá chép nâng cao chất lượng
di truyền nhằm tăng sản lượng cho mô hình nuôi cá quy mô nhỏ có sử dụng chính loài cá này Chương trình này đã sử dụng các phương pháp nhân giống, chọn lọc gia đình và chọn lọc hàng loạt để cho ra dòng cá có chất lượng di truyền cao, đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 5% trên mỗi một thế hệ (Trần và Nguyễn, 1992) Tuy nhiên, tất cả những thử nghiệm về tăng trưởng và chọn lọc đều được thực hiện trong những ao nghiên cứu, nơi thường không có những dòng không chọn lọc như là quần đàn kiểm soát phục vụ cho những nghiên cứu so sánh
Kết quả là, những thử nghiệm thực địa về tăng trưởng của các dòng khác nhau được tiến hành cho phép có một phân tích hiệu quả hơn về sự tăng trưởng của cá Chép trong điều kiện môi trường nuôi của những trang trại nuôi và hình thành chiến lược nhằm khuyến khích, thu hút sự chú ý của người dân nuôi cá đối với dòng cá nâng cao chất lượng di truyền này Báo cáo này, thứ nhất sẽ báo cáo kết quả phân tích thông kê về sự tăng trưởng và sản lượng của những dòng cá Chép khác nhau trong những ao nuôi quy mô nhỏ
ở 2 tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên Những người nuôi cá tham gia trong dự án nghiên cứu này đều sử dụng hình thức nuôi ao và nuôi trong ruộng lúa trong điều kiện môi trường vùng miền núi Tất cả những người nuôi đều đã được phỏng vấn trong các cuộc điều tra kinh tế xã hội và tham gia 1 trong 2 cuộc hội thảo về nâng cao chất lượng di truyền và nhân giống cá Chép nằm trong khuôn khổ của dự án Thứ hai, báo cáo sẽ trình bày kết quả khảo sát các nhà sản xuất về nâng cao chất giống cá chép
Trang 82 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế thí nghiệm
Mục tiêu ban đầu của thí nghiệm thực địa là để so sánh giữa dòng cá chép nâng cao chất lượng di truyền và dòng cá địa phương được nuôi chung trong 6 ao của những hộ nuôi cá khác nhau Được sự hỗ trợ từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 (RIA 1), số hộ nuôi
và số dòng cá thí nghiệm đã được nâng lên thành 37 hộ nuôi và 4 dòng cá Phần lớn những hộ nuôi (34 hộ) sử dụng hình thức nuôi ao và 6 hộ còn lại là sử dụng hệ thống nuôi trong ruộng lúa, điều này phản ánh tỷ lệ của các hệ thống nuôi khác nhau ở những tỉnh này dựa trên bản điều tra về kinh tế xã hội (Austin và ctv 2007a) (Hình 2.1 và 2.2) Những trại nuôi cá được phân loại theo những mức độ đầu tư thức ăn nhiều hay ít để quyết định liệu vấn đề quản lý quan trọng này có ảnh hưởng tới sự phát triển của các dòng cá khác nhau Những hộ nuôi không cung cấp thức ăn cho cá hơn một lần một tháng được xếp vào những hệ thống ao đầu tư ít thức ăn và những hộ nuôi cho ăn ít nhất một tuần một lần hoặc thường xuyên hơn được coi là những hệ thống nuôi đầu tư nhiều thức
ăn Thí nghiệm đã được thực hiện trong khoảng thời gian là 12 tháng, từ tháng 3 năm
2006 đến tháng 3 năm 2007, bao gồm việc cho đẻ và ương cá hương từ tháng 3 đến tháng
5 năm 2006 và nuôi cá giống lên cá thịt từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007, điều này trùng với chu trình nuôi cá thông thường Những thí nghiệm được thực hiện trong những hệ thống ao nuôi của 20 hộ gia đình ở 2 tỉnh Thái Nguyên và Yên Bái Đại diện của những hộ gia đình này đã được phỏng vấn trong điều tra kinh tế xã hội và đã được tham gia vào một trong những cuộc hội thảo về nhân giống và chọn lọc giống cá Chép nằm trong khuôn khổ của dự án
Theo như miêu tả chi tiết hơn dưới đây, việc thiết kế thí nghiệm không thể hoàn tất do sự khác nhau về quá trình sinh sản và tỷ lệ sống của cá hương Do vậy, những trại nuôi cá khác nhau được thả số lượng các dòng cá khác nhau và kết hợp các loài khác nhau Hơn nữa ở một vài khu nuôi không thể thu hoạch cá do ngập lụt và những vấn đề quản lý khác Trong phần Phụ lục 1 liệt kê ra những khu nuôi đã tham gia trong dự án này, trình bày chi tiết những hệ thống nuôi của họ và loại cá đã được thả và số liệu thu hoạch
Trang 92.2 Chọn lọc những dòng cá chép
Bốn dòng cá chép đã được sử dụng cho những đợt thí nghiệm này, bao gồm một dòng (HP3) được sinh sản gần đây bằng cách lai giữa dòng cá Chép Hung 3 máu và dòng thuần chủng cá Chép Hung được nhập nội gần đây, dòng Hung 3 máu (H3B), một dòng Việt không chọn lọc (VNW) và một dòng địa phương (LOC) được sinh sản từ cá bố mẹ của một trại ương giống cấp tỉnh ở Yên Bái Những phân tích gen của dòng này (Thái và ctv, 2006; 2007) chỉ ra rằng đó là sự trộn lẫn 3 dòng: dòng Inđônêxia, dòng Hung và dòng Việt, trong đó dòng Việt chiếm ưu thế
Hình 2.1 Ruộng lúa được sử dụng cho nuôi thí nghiệm tại tỉnh Yên Bái
Hình 2.2 Ao của người dân được dùng để nuôi thí nghiệm tại tỉnh Thái Nguyên
Trang 102.3 Ương nuôi cá chép và các bước thí nghiệm
Việc nhân giống cá Chép đã được tiến hành tại Trung tâm Quốc gia giống thuỷ sản nước ngọt miền Bắc (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1) ở Hải Dương Cá bố mẹ của mỗi dòng thí nghiệm được kích thích cho đẻ trong cùng một ngày, sử dụng phương pháp chuẩn trong thụ tinh nhân tạo (Thái và Ngô, 2004) Khoảng 10 - 12 gia đình cá được lấy
từ mỗi dòng Trứng thu được từ các gia đình khác nhau của mỗi dòng sau khi được thụ tinh sẽ được chia ra và ấp trong bình ấp trứng 200L Sau 4 - 5 ngày khi cá bột đã đạt khoảng 8 - 12mm, chúng được chuyển ra 4 ao và được thả với tỷ lệ 100 cá bột/m2 và được nuôi lớn trong khoảng thời gian là 2 tháng Cá giống của mỗi dòng được nuôi trong những điều kiện giống nhau, đăc biệt là mật độ thả và chế độ cho ăn Khi cá giống đạt 3 - 5g, chúng đã được đánh dấu bằng máy đánh dấu (CWT) Những giống cá Chép của các dòng khác nhau được đánh dấu ở các vị trí khác nhau Cá giống đã được đánh dấu, được thả vào 40 ao nuôi hoặc những hệ thống nuôi ao và ruộng lúa kết hợp Việc thả cá hoàn tất trong 2 ngày Nhìn chung cá được thả với tỷ lệ cân bằng nhau ngoại trừ 3 ao Chi tiết
về cá thả được diễn giải trong Bảng 2.1
Trang 11Bảng 2.1 Trang trại, loại ao nuôi, số lượng cá mỗi dòng được thả (một số trang trại không có số liệu cho vào bảng do bị thất thoát cá do mưa lũ)
Trang
trại Tỉnh Hệ thống
Diện tích Đầu tư Các dòng và số lượng cá thả
HF: Cho ăn nhiều LF: Cho ăn ít
Mỗi một ao nuôi hoặc ruộng lúa được thả với tỷ lệ 0,3 cá/m2 và được phân loại hoặc là “ít cho ăn” hoặc “cho ăn nhiều” dựa vào mức thức ăn được cho ăn vào các ao Hệ thống nuôi ruộng lúa cho ăn ít hơn một lần một tuần được xem như là hệ thống cho ăn ít và hơn một lần một tuần là cho ăn nhiều
Tất cả những ao và ruộng lúa nuôi cá thí nghiệm đều được do người dân nuôi cá quản lý
Cá trong các ao và ruộng lúa đã được nuôi bằng những thức ăn có sẵn cám như gạo, ngô
Trang 12và sắn Nhật ký ghi chộp đó được cung cấp cho từng người nuụi để ghi chộp lịch cho ăn đối với cỏc ao thớ nghiệm của họ và những thụng tin cú liờn quan, những thụng tin này sau đú được dựng để phõn loại những ao cho ăn ớt hay nhiều Hàng thỏng, đội ngũ cỏn bộ của dự ỏn tới làm việc với những hộ nuụi cỏ để giỳp đỡ duy trỡ việc ghi chộp (Hỡnh 2.3)
Những ao thí nghiệm đã được quản lý 300 - 330 ngày Cá được thu hoạch bằng cách tháo cạn nước ao và dùng lưới vét Số liệu về trọng lượng cá được thu có độ chính xác 0,1g và chiều dài thân cá được tính từ mõm đến cuống đuôi với độ chính xác 1 mm (Hình 2.4, 2.5
và 2.6) Cá được xác định dòng dựa vào việc nhận dạng vị trí của các dấu CWT bằng cách
sử dụng máy đọc dấu (North West Marine technology, Shaw Island, WA, American) Để
so sánh sự phát triển giữa các dòng, cân nặng của cá được quy đổi thành tỷ lệ tăng trưởng theo ngày (DGR) sau khi trừ đi lần đầu trọng lượng cá giống trung bình của dòng đó
Trang 13Phương pháp thống kê thích hợp cho thiết kế thí nghiệm để phân tích sự khác nhau trong tốc độ tăng trưởng là phương pháp ANOVA ba nhân tố với nesting Bước đầu tiên của đợt phân tích cho phép phân chia tỷ lệ của biến động do mức độ dầu tư thức ăn nhiều hay ít; bước thứ 2 là hộ nuôi, bước này sẽ được lồng ghép với bước thứ nhất và bước thứ 3 đó là dòng cá Do số lượng cá bột mỗi dòng trong 4 dòng cá chép không đồng đều, việc thả cá kết hợp với các loài khác nhau vào các hệ thống nuôi và không có dữ liệu của một số trại nuôi nên phải sử dụng một vài phương pháp ANOVA Số trại nuôi có sự kết hợp khác nhau các dòng được thả nuôi khác nhau được thể hiện trong Bảng 2.2 cùng với phương pháp ANOVA được sử dụng
Hình 2.4 Người dân tộc thiểu số thu hoạch cá chép trong ruộng lúa tại tỉnh Yên Bái
Hình 2.5 Thu hoạch cá chép trong ao tại tỉnh Thái Nguyên
Trang 14H×nh 2.6 N«ng d©n hµi lßng víi sù t¨ng tr−ëng cña c¸
B¶ng 2.2 Ph©n tÝch sè liÖu nu«i thö nghiÖm c¸ chÐp
Trang 153 Kết quả
3.1 Tỷ lệ tăng trưởng của cá giống
Trọng lượng trung bình của cá chép sau 60 ngày ương là 3,18g Trọng lượng trung bình của mỗi dòng cá chép được trình bày ở Bảng 3.1 Tuy nhiên, sự sai khác về trọng lượng của các dòng là không đáng kể (P > 0,05)
Bảng 3.1 Trung bình chiều dài cơ thể và trọng lượng cá giống cá chép sau 60 ngày ương
Trang 16Bảng 3.2 Bảng ANOVA phân tích sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng ngày của các dòng cá chép
(HP3 and LOC) và sự liên quan đến chế độ cho ăn
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng ngày của dòng cá chép HP3 và LOC trong 10 tháng tại 18 trang
trại với 2 chế độ cho ăn khác nhau ở tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên Chữ viết bên trên chỉ ra sự
khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm dựa vào phân tích Turkey
Chế độ cho ăn Dòng
ít Nhiều HP3 0.22 ± 0.02a 1.13 ± 0.03c
Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng ngày của dòng cá chép HP3 và LOC ở 18 trang trại
Kết quả cuối cùng rất quan trọng vì nó chỉ ra rằng trong khi có sự khác biệt có ý nghĩa
giữa các dòng, sự khác biệt này đã giảm tương đối trong ao nuôi đầu tư thức ăn thấp Bảng
3.3 đã đưa ra tốc độ tăng trưởng bình quân hàng ngày cho 2 dòng cá trong mỗi hệ thống