Thông tin về các cơ quan tham gia dự án Tên dự án Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm tra chất lượng, quản lý sau thu hoạc
Trang 1Chương trình CARD
B¸O C¸O TIÕN §é
004/04VIE:
Nghiªn cøu x©y dùng m« h×nh s¶n xuÊt rau an toµn d¹ng c«ng nghÖ cao vµ t¨ng c−êng n¨ng lùc vÒ kiÓm tra chÊt l−îng, qu¶n lý
sau thu ho¹ch cho ngµnh s¶n xuÊt Rau cña ViÖt Nam
Ms2: b¸O C¸O 6 TH¸NG LÇN THø NHÊT
Ngµy 30 th¸ng 1 n¨m 2006
Trang 21 Thông tin về các cơ quan tham gia dự án
Tên dự án Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn
dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm tra chất lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành sản xuất Rau của Việt Nam
Phía Việt Nam Viện Nghiên cứu Rau quả (RIFAV) Trâu Quỳ - Gia Lâm -
Hà Nội Chủ trì dự án phía Việt Nam PGS.TS Trần Khắc Thi
Tổ chức phía Australia Bộ Nông nghiệp NSW DPI - Viện nghiên cứu Rau hoa
quả GOSFORD - NCGH Chủ trì dự án phía Australia Dr Nguyễn Quốc Vọng
Thời gian phê duyệt 30 tháng 9 năm 2005
Thời gian kết thúc (dự kiến
lúc đầu)
30 tháng 9 năm 2007
Thời gian kết thúc 30 tháng 9 năm 2007 (do chậm trễ khi ký hợp đồng)
Báo cáo tiến độ Báo cáo 6 tháng lần thứ nhất
Các quan chức liên quan
Phía Australia: trưởng nhóm
Tên Dr Nguyễn Quốc Vọng Điện thoại 02 4348 1927
Chức vụ Chuyên gia nghiên cứu
Rau quả
Fax: 02 4348 1910
ov.au
Phía Australia : cơ quan hành chính
Tên Graham Denney Điện thoại 02 4348 1927
Chức vụ Cán bộ quản lý hành
chính
Fax: 02 4348 1910
w.gov.au
Phía Việt Nam
Tên PGS.TS Trần Khắc Thi Điện thoại 84 4 8276 316
Chức vụ Phó viện trưởng Fax: 84 4 8276 148
Cơ quan Viện Nghiên cứu Rau
quả - Trâu quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
Email Tkthi@vnn.vn
Trang 32 tóm tắt dự án
Tồn dư thuốc BVTV là nguyên nhân chính gây ô nhiễm rau ở Việt Nam Đã có nhiều phương pháp phát triển rau an toàn được Bộ NSW - DPI đưa ra trong dự án CARD-0016, 2001-2003 nhưng điều này chỉ có thể thực hiện khi có sự kết hợp giữa Nghiên cứu và phát triển Dự án này sẽ giải quyết vấn đề thực phẩm an toàn và chất lượng cao từ sản xuất đến thị trường để khuyến khích phát triển kinh tế và phát triển bền vững ngành rau Việt Nam Mục tiêu của dự án là:
1 Tăng cường khuyến khích phát triển sản xuất rau theo công nghệ từ thấp đến trung bình hạn chế sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật thông qua hoạt động nghiên cứu và khuyến nông
2 Kiểm tra những khó khăn của dây chuyền cung ứng và sử dụng nguyên tắc bảo đảm chất lượng
Tăng cường năng lực nghiên cứu, giảng dạy và khuyến nông cho Việt Nam để sản xuất rau trong nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và hệ thống bảo đảm chất lượng
3 Tóm tắt thực hiện dự án
Dự án CARD-004/04Vietnam :"Nâng cao chất lượng và an toàn cho rau ở Việt Nam" được bắt đầu thực hiện từ tháng 9/2005 Mục tiêu chính của dự án này là cung cấp cho các nhà khoa học, cán bộ khuyến nông Việt Nam những kiến thức cũng như công
cụ thực hiện và áp dụng trong điều kiện sản xuất rau của Việt Nam và dây chuyền cung
ứng Chủ trì dự án phía Việt Nam là Viện Nghiên cứu Rau quả có sự phối hợp của Trường Đại học Nông lâm Huế và Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam NSW DPI là cơ quan chủ trì phía Australia Dự án được bắt đầu chậm trễ là do có sự trục trặc trong việc ký hợp đồng cho đến tận tháng 9 năm 2005
Những kết quả chính đạt được trong 6 tháng thực hiện dự án bao gồm:
1 Quản lý dự án:
- Hợp đồng CARD ký với NSW DPI ngày 15 tháng 8 năm 2006 Các thành viên của nhóm nghiên cứu sẽ làm việc đến khi kết thúc dự án
- Kế hoạch sẽ tổ chức các lớp tập huấn và hội thảo vào tháng 2 năm 2006
2 Tăng cường năng lực: Tháng 10-11 năm 2005, 3 nhà khoa học Việt Nam đã học tập
ở Australia 4 tuần về hệ thống sản xuất nông nghiệp ở Gosford và Viện Nông nghiệp Yanco Khoá học tập cũng đã thảo luận các kế hoạch triển khai mô hình nghiên cứu và hội thảo tập huấn ở Việt Nam
3 Mô hình nghiên cứu: Hai mô hình nghiên cứu được thực hiện tại IAS và RIFAV Mục đích của hai mô hình nghiên cứu này là đánh giá sự sinh trưởng của cây trồng trên nền các giá thể, khả năng cho năng suất và chất lượng của cà chua, dưa chuột trồng trên nền các giá thể đó trong nhà lưới
4 Các ấn phẩm: 3 bài báo tiếng Việt nam về sản xuất rau an toàn, quy trình nông
nghiệp tiên tiến (GAP) và Việt Nam gia nhập WTO đã được đăng trên báo ở Việt Nam
4 Giới thiệu và tổng quan
Trang 4Mục tiêu chung của dự án:
Dự án trước đây AusAID-CARD0016 (2001-2003) đã cho thấy rằng trồng cây trong nhà lưới là phù hợp cho sản xuất rau an toàn chất lượng cao tại việt Nam Các mô hình trình diễn sử dụng mụn xơ dừa (Cocopeat) làm giá thể cho cây sinh trưởng, phù hợp với vùng sản xuất rau chuyên canh ở ngoại ô với việc giảm thuốc bảo vệ thực vật Với việc sử dụng mụn xơ dừa như vậy sẽ làm giảm việc sử dụng đất ô nhiễm và góp phần làm giảm
sự lãng phí các chất thải từ cây dừa Tuy nhiên, thực hiện việc thực hiện một quy trình sản xuất tốt nhất cho sản xuất rau an toàn chất lượng cao trong một hệ thống canh tác mới vẫn còn là một quãng đường xa để dự án thành công, có rất nhiều cách tiếp cận nhằm tăng hiệu quả của sản xuất rau; giảm thuốc hoá học bảo vệ thực vật, giảm mất mát sau thu hoach và sử dụng nguyên tắc quản lý chất lượng
Mục tiêu cụ thể của dự án này là:
1 áp dụng các công nghệ sản xuất rau từ thấp đến trung bình trong nhà lưới có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với một lượng nhỏ thông qua mục tiêu nghiên cứu và hoạt
động khuyến nông
2 Nghiên cứu các dây chuyền cung ứng phổ biến và sử dụng nguyên tắc quản lý chất lượng để thực hiện mục tiêu tăng cường;
3 Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển của người Việt Nam tại những vùng sản xuất rau trong nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và hệ thống bảo đảm chất lượng Sáu nhà khoa học từ RIFAV, IAS, HUAF học tập được kinh nghiệm ở Australia sẽ trợ giúp thiết lập các mô hình khảo nghiệm tại những vùng của họ ở Việt Nam Khoảng
300 cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật, người buôn bán rau và nông dân sản xuất rau từ 64 tỉnh thành trong cả nước sẽ tham gia trong các buổi tập huấn, hội thảo do 4 nhà khoa học của Australia - thành viên tham gia dự án Những cán bộ, nông dân Việt Nam được tập huấn sẽ có tác động mạnh mẽ đến ngành rau của Việt Nam nhằm tăng cường sản xuất và chất lượng cho rau an toàn đem lại lợi ích cho tất cả người tiêu
dùng
4 Thiết lập mối liên kết giữa các nhà nghiên cứu, làm dịch vụ, sản xuất, và người trồng trọt để nâng cao năng suất và cạnh tranh của nông dân Việt Nam và liên quan đến
phát triển nông thôn
Dự kiến kết quả đạt được
1 Sáu nhà khoa học của Việt Nam đến Australia để mở rộng kiến thức về hệ thống sản xuất nông nghiệp bao gồm sản xuất trong nhà lưới, thực hiện hệ thống quản lý chất lượng, quản lý sâu bệnh hại và cải tiến dây chuyền cung ứng
2 Nghiên cứu và xây dựng mô hình " đánh giá giá thể (bao gồm mụn xơ dừa) và dung dịch dinh dưỡng cho sản xuất rau trong nhà lưới" sẽ được thực hiện tại mỗi cơ quan Viện nghiên cứu Rau quả - Hà Nội, HUAF - Huế, IAS- thành phố Hồ Chí Minh Chiến lược quản lý dây chuyền cung ứng cũng sẽ được sáp nhập Điều này sẽ cho phép cả nhà khoa học Việt Nam và Australia hợp tác nghiên cứu xây dựng mô hình Kết quả của nghiên cứu này sẽ bao gồm phát triển hệ thống thuỷ canh cho vùng nhiệt đới, xác định dung dịch dinh dưỡng phù hợp và đánh giá mụn xơ dừa của Việt Nam Tăng thêm sự hiểu biết về các yếu tố trở ngại cho việc sản xuất rau trong nhà lưới ở vùng nhiệt ddới cũng là một trong những thành tựu
Trang 53 Các nhà khoa học úc đến Việt Nam (cán bộ quản lý chất lượng - QA, cán bộ sau thu hoạch, chuyên gia nhà lưới) để trình bày với các nhà khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT trong chương trình hội thảo về sản xuất rau, quản lý chất lượng, quản lý sau thu hoạch và trong nhà lướicho cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật, thương gia và nông dân điển hình Một cuộc họp cũng sẽ được tổ chức với chính phủ Việt Nam để thảo luận hệ thống quản lý chất lượng có thể được tiến hành cho ngành Rau của Việt Nam như thế nào
4 Tăng cường năng lực trong dự án này là các nhà nghiên cứu từ các cơ quan sẽ làm việc cùng nhau để tăng hiểu biết của họ trong sản xuất rau, hệ thống quản lý chất lượng và sau thu hoạch
5 Nông dân tiếp nhận các công nghệ mới sẽ tăng được chất lượng sản phẩm của họ và tăng đầu ra cũng như tăng thu nhập Mức sống của gia đình nông dân tốt hơn (bao gồm cả phụ nữ) sẽ là kết quả
6 Khái niệm hệ thống giá thể phù hợp là toàn bộ của dự án này Giảm phun thuốc hoá học và sử dụng các phế thải như mụn xơ dừa giảm ô nhiễm môi trường và tăng cường hệ thống sản xuất bền vững
Tiếp cận và chiến lược
Dự án này sử dụng cách tiếp cận là có nhiều bên tham gia để hình thành nên các mối quan hệ giữa các Viện nghiên cứu và các thành phần chủ chốt khác như nông dân, khuyến nông, các dây chuyền cung ứng) Có 3 cách tiếp cận chủ yếu là: Tăng cường huấn luyện cho các nhà khoa học Việt Nam
Thiết lập các mô hình nghiên cứu và thực hiện các hội thảo để các thành phần chủ chốt của dự án và lợi ích của dự án được phân phối đều
Sản phẩm Rau "xanh" "sạch" trong nhà lưới có hệ thống thuỷ canh - tổ hợp nghiên cứu chính của dự án này nên tạo điều kiện cho Việt Nam để đạt được mục tiêu của họ sản xuất rau an toàn chất lượng cao trong tương lai Dụ án tập trung vào việc giảm sử dụng hoá chất trong hệ thống sản xuất và làm cho môi trường thêm bền vững
Phương pháp
Dự án này sẽ tập trung nghiên cứu và khuyến nông với cách tiếp cận là bảo đảm chất lượng, quản lý sau thu hoạch và công nghệ sản xuất rau an toàn chất lượng cao Dự án chia 3 phần:
Phần 1 Tập huấn các nhà khoa học Việt Nam tại Australia
Phần 2 Mô hình nghiên cứu
Phần 3 Tập huấn khuyến nông tại các miền của Việt Nam
IV Tập huấn chuyên gia Việt Nam tại úc
3 nhà khoa học của Việt Nam đươc sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tập huấn tại Australia từ ngày 31 tháng 10 đến 27 tháng 11 năm 2005 Trong thời gian 4 tuần với trọng tâm tập huấn kỹ năng quy trình sản xuất rau tốt nhất, quản lý sau thu hoạch, quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP) và hệ thống bảo đảm chất lượng (QA) (phụ lục 1 và 2) Các nhà khoa học đó là:
1 Ths Ngô Thị Hạnh - Nghiên cứu viên - Viện nghiên cứu Rau quả - Hà Nội
Trang 62 Vũ Tuấn Minh - Giảng viên trường đại học Nông lâm Huế
3 Ngô Xuân Chinh - Nghiên cứu viên - viện KHKTNN Miền Nam
Cuối khoá học các nhà khoa học Việt Nam đã được cấp chứng chỉ về công nghệ sản xuất rau thuỷ canh trong nhà lưới, công nghệ sau thu hoạch, quy trình Nông nghiệp tiên tiến và bảo đảm chất lượng từ Bộ Nông nghiệp NSW - DPI
Trong suốt khoá học, các mô hình nghiên cứu ở Việt Nam và các nhà khoa học của Bộ NSW - DPI thăm Việt Nam đã thảo luận và có một số đề nghị sau:
- Tiến hành các mô hình nghiên cứu trong nhà lưới để sản xuất rau an toàn chất lượng cao có tên là:" đánh giá hệ thống thuỷ canh và giá thể cho sản xuất cà chua và dưa chuột trong nhà lưới" sẽ tổ chức tại IAS, Hồ Chí Minh (Đơn Dương - Lâm Đồng) và RIFAV,
Hà Nội sử dụng kiểu nhà lưới Australia và công nghệ thuỷ canh tháng 11 và 12 năm
2005 (phụ lục 3) Mục đích của thí nghiệm này trong năm thứ nhất là đánh giá mụn xơ dừa Việt Nam và các giá thể khác sử dụng trong nhà lưới Tình hình sinh trưởng của cây
và năng suất sẽ được theo dõi Những mô hình nghiên cứu này cũng là những giáo cụ quan trọng dùng trong hội thảo tổ chức vào tháng 2 năm 2006
- Các nhà khoa học từ NSW - DPI sang Việt Nam tổ chức hội thảo: Các nhà khoa học NSW-DPI bao gồm cán bộ QA (bảo đảm chất lượng rau), Joseph Ekman; cán bộ công nghệ sau thu hoạch, Dr Suzie Newman, nhà sinh lý cây trồng trong nhà lưới, Dr Sophie Park và giám đốc dự án, Dr Nguyễn Quốc Vọng sẽ đến Việt Nam từ ngày 8 tháng 2 năm 2006
a Giúp chính phủ Việt Nam phát triển hệ thống quản lý Rau an toàn cho ngành trồng rau
b Tổ chức hội thảo ở hai vùng (Hà Nội và Hồ Chí Minh) của Việt Nam cho gần
100 cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật và khoảng 50 nhà kinh doanh Rau và các nông dân điển hình của 34 tỉnh thành ở miền Bắc và miền Nam với nội dung
là bảo đảm chất lượng, công nghệ sau thu hoạch và quy trình nông nghiệp tiên tiến cho sản xuất rau trong nhà lưới
c Thăm quan mô hình nghiên cứu ở Viện nghiên cứu Rau quả (RIFAV) và Viện khoa học Nông nghiệp miền Nam (IAS) và tỉnh Lâm Đồng
Vì dự án chính thức được bắt đầu vào tháng 9 năm 2005, kế hoạch lúc đầu là hội thảo tại Việt Nam tháng 11 năm 2005 nay được thay vào tháng 2 năm 2006 (Phụ lục 4)
Bảng 2 Kế hoạch lúc đầu đến Việt Nam trong năm thứ nhất và thứ hai
Nguyễn, Newman,
Parks, Ekman 11/2005
14 ngày Năm 1: tham gia tập huấn hội thảo tại Hà
Nội, TP Hồ Chí Minh và đánh giá kết quả thực hiện dự án năm thứ 1
Nguyễn 04/2006 21 ngày Đánh giá, xây dựng kế hoạch và phát triển
dự án Thực hiện hội thảo tại Cần Thơ và Huế
Nguyễn, Newman,
Parks, Ekman 09/2006
14 ngày Năm 2: Tập huấn tại Huế và Cần Thơ và
chuẩn bị báo cáo tổng kết
Trang 7Bảng 3 Sau khi ký hợp đồng kế hoạch đến VN trong năm thứ nhất và thứ hai
Nguyễn (02/2006)
Newman, Parks, Ekman
02/2006
21 ngày
14 ngày
Năm 1: tham gia tập huấn hội thảo tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và đánh giá kết quả thực hiện dự án năm thứ 1
Nguyễn 05/2006 14 ngày Đánh giá, xây dựng kế hoạch và phát triển
dự án Thực hiện hội thảo tại Cần Thơ và Huế
Nguyễn, Newman,
Parks, Ekman 03/2007
14 ngày Năm 2: Tập huấn tại Huế và Cần Thơ và
chuẩn bị báo cáo tổng kết
v Mô hình nghiên cứu tại Việt Nam
Mô hình nghiên cứu của dự án có tên là:" Đánh giá giá thể (bao gồm mụn xơ dừa) và dung dịch dinh dưỡng cho trồng rau trong nhà lưới" được thực hiện tại Viện nghiên cứu Rau quả - Hà Nội và Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam - Hồ Chí Minh Mục đích của thí nghiệm này trong năm thứ nhất là đánh giá mụn xơ dừa của Việt Nam trong nhà lưới
• Thí nghiệm nghiên cứu ở IAS - Hồ Chí Minh
Thí nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại
được thực hiện tại Đơn Dương, Lâm Đồng - nơi mà cà chua là cây trồng chủ yếu Cà chua (giống Manila và 386) và dưa chuột gieo vào ngày 1 tháng 11 năm 2005 trên 4 giá thể khác nhau: giá thể của IAS (mụn xơ dừa + trấu hun + và phân hữu cơ hoai mục), xơ dừa Cầu Vồng, Hiệu Giang ( vỏ hạt cà phê hun + phân hữu cơ) và Đơn Dương (thann bùn + phân bò + phân NPK tổng hợp) Theo dõi sinh trưởng và năng suất của các công thức thí nghiệm
• Thí nghiệm nghiên cứu tại RIFAV - Hà Nội
Thí nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 5 lần nhắc lại
được thực hiện tại RIFAV với giống cà chua địa phương - trồng phổ biến trong sản xuất của các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và dưa chuột (giống STATUS) gieo ngày 25/11 và 20/12/2005 với 4 công thức giá thể gồm: CT1 bã mía + vỏ lạc + đậu tương nghiền, CT2 Bã mía + vỏ lạc nghiền + than bùn), CT3 Bã mía + than bùn) và CT4 Mụn xơ dừa Theo dõi sinh trưởng và năng suất của các công thức thí nghiệm
5.2 Lợi ích của người sản xuất
Cà chua được bán ở chợ của thành phố Hồ Chí Minh là cà chua được đưa đến từ Đơn Dương thuộc cao nguyên Đà Lạt Nó cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km Đây
là vùng rau bị nhiễm bệnh rất nặng đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn Trong năm 2002-2003 - Viện khoa học Nông nghiệp miền Nam - một thành viên của dự án CARD
0016 đã phổ biến công nghệ ghép cà chua Cà chua ghép chống được bệnh héo xanh vi khuẩn Diện tích trồng cà chua ăn tươi của Đơn Dương cho đến nay là 4000-5000 ha, tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn người dân đặc biệt là phụ nữ
Nhà nylon có sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt đã được xây vào tháng 11 năm 2005 là một hợp phần của dự án để cung cấp công nghệ mới nữa mang lại lợi ích cho nông dân vùng trồng cà chua Nó cũng cho thấy rằng cà chua trong nhà lưới là công nghệ mới cho ngành sản xuất rau ở Đơn Dương
Trang 85.3 Tăng cường năng lực
Ba cán bộ nghiên cứu Việt Nam đã học tập ở Australia vào tháng 10 -11/2005 để học tập, tham quan mô hình tại Australia trong 4 tuần, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu
và phát triển nông thôn cho ngành rau của họ
5.4 Các ấn phẩm:
3 bài báo tiếng Việt nam về sản xuất rau an toàn, quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP)
và Việt Nam gia nhập WTO đã được đăng trên báo ở Việt Nam, đó là:
1 Nguyễn Quốc Vọng, 2005 Làm gì để có một tấm hộ chiếu cho rau quả Việt Nam? - báo Khoa học và Đời sống số 59 ra ngày 25 tháng 7 năm 2005 trang 6
2 Nguyễn Quốc Vọng, 2005 Những thách thức mới của Nông nghiệp Việt Nam - Thời báo kinh tế Sài Gòn Trang 37-38 số ra ngày 22/9/2005
3 Nguyễn Quốc Vọng, 2005 Rau quả Đà lạt cần có tấm "VISA" GAP để gia nhập WTO Báo Lâm Đồng cuối tuần, số ra ngày 23/12/2005 trang 3, 7
5.5 Quản lý dự án:
- Hợp đồng CARD được ký với NSW - DPI ngày 15 tháng 8 năm 2005
- Hình thành nhóm nghiên cứu của dự án
- Ba nhà khoa học Việt Nam đến Australia tháng 10-11/2005 trong 4 tuần để tham quan
và học tập về Hệ thống sản xuất rau
- Hai mô hình nghiên cứu được thực hiện tại RIFAV và IAS Mục đích của hai mô hình nghiên cứu là đánh giá sinh trưởng phát triển của cà chua dưa chuột trên các giá thể trong nhà lưới
- Lập kế hoạch tập huấn hội thảo tại Việt Nam vào tháng 2 năm 2006
6 Báo cáo các vấn đề liên quan
6.1 Môi trường: Mô hình nghiên cứu ở Hà Nội và Hồ Chí Minh với 4-5 giá thể sạch
mang lại thực phẩm an toàn cho Nông nghiệp Việt Nam Có được rau an toàn ở Việt Nam vì không có tồn dư hoá chất BVTV, kim loại nặng cũng như các vi sinh vật gây hại
6.2 Vấn đề giới và xã hội có liên quan
Chuyển giao công nghệ ghép, công nghệ trồng trong nhà lưới, giá thể sạch và hệthống tưới nhỏ giọt đến các vùng trồng rau Hà Nội và Đơn Dương, tạo công ăn việc làm cho nhiều vùng nông thôn đặc biệt là phụ nữ
7 Tiến hành
7.1 Khó khăn: Hợp đồng của dự án ký chậm làm tiến độ của dự án cũng bị chậm Nên một vài hoạt động của dự án cũng bị chậm trễ
7.2 Lựa chọn: Không có
7 Những bước thực hiện tiếp theo
Trang 9Hoạt động của dự án trong 6 tháng tiếp theo:
1 Hai hội thảo về bảo đảm chất lượng, công nghệ sau thu hoạch và quy trình Nông nghiệp tiên tiến GAP cho sản xuất rau trong nhà lưới được tổ chức vào tháng 2 năm
2006
2 Đánh giá xơ dừa Việt Nam ở Viện Nghiên cứu Rau hoa quả GOSFORD - Australia
3 Mô hình nghiên cứu cà chua, dưa chuột thực hiện ở Hà Nội và Huế
4 Giám đốc dự án phía Australia đến Việt Nam để đánh giá dự án năm 1 và chuẩn bị hội thảo ở Huế và Cần Thơ
8 Kết luận:
Dự án bắt đầu thực hiện từ tháng 9 năm 2005 - 8 tháng sau so với kế hoạch ban đầu từ tháng 1 năm 2005 nếu như không có vấn đề trục trặc Thành tựu chính đã đạt được trong
6 tháng thực hiện dự án là:
1 Quản lý dự án
- Dự án CARD đã ký hợp đồng với NSW - DPI vào ngày 15/8/2005 Việt Nam và Australia hình thành nhóm nghiên cứu
- Tiến hành hội thảo tại Việt Nam tháng 2 năm 2006
2 Tăng cường năng lực: Tháng 10-11 năm 2005, 3 nhà khoa học Việt Nam đã học tập
ở úc 4 tuần miệt mài về hệ thống sản xuất nông nghiệp ở Gosford và Viện Nông nghiệp Yanco Khoá học tập cũng đã thảo luận các kế hoạch triển khai mô hình nghiên cứu và hội thảo tập huấn ở Việt Nam
3 Mô hình nghiên cứu
Hai mô hình nghiên cứu được thực hiện tại IAS và RIFAV Mục đích của hai mô hình nghiên cứu này là đánh giá sự sinh trưởng của cây trồng trên nền các giá thể, năng suất và chất lượng của cà chua, dưa chuột trong nhà lưới
4 Các ấn phẩm: 3 bài báo tiếng Việt Nam về sản xuất rau an toàn, quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP) và Việt Nam gia nhập WTO đã được đăng trên báo ở Việt Nam