an Ministry of Agriculture & Rural Development Chương trình hợp tác nông nghiệp và phát triển nông thôn Project 033/05 VIE Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên t
Trang 1an
Ministry of Agriculture & Rural Development
Chương trình hợp tác nông nghiệp và phát triển nông thôn
Project 033/05 VIE
Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển các
rừng trồng Thông caribê và Thông lai có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam
Mốc 7:
Đầu ra 2.3: Vườn vật liệu và vườn ươm trình diễn
Tên báo cáo:
Quá trình xây dựng vườn vật liệu và vườn ươm thông ở 3 vùng tại
Việt Nam Tháng 3, năm 2008
Trang 2Mục lục
1.0 Giới thiệu chung……….……… 3
2.0 Xây dựng vườn vật liệu………3
2.1 Ba Vì (Cẩm Qùy) ……… 4
2.2 Phù Ninh (FRC) ………6
2.3 Đà Lạt (Cam Ly) ……… 7
3.0 Xây dựng vườn ươm, thu chồi, giâm hom… ……… 7
3.1 Vườn ươm Ba Vì……… 7
3.2 Vườn ươm Phù Ninh……… ……… 9
3.3 Vườn ươm Đà Lạt………10
4.0 Kết luận… ……….10
5.0 Liên lạc.……… 10
Danh sách các bảng biểu
1 Mô tả các vườn vật liệu được xây dựng tại Việt nam thuộc dự án CARD 033/05
VIE
3
2 Các xuất xứ được sử dụng để xây dựng vườn vật liệu đầu tiên ở 3 lập địa tại
Việt nam
4
3 Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Ba Vì sau 2 và 3 lần thu chồi 5
4 Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Phù Ninh cho đến tháng 10 năm 2007 6
5 Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt chồi đến tỷ lệ sống của hom sau 6 tháng giâm hom
tại Ba Vì
8
6 Ảnh hưởng của các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của hom sau 6 tháng
giâm hom tại Ba Vì
8
7 Thu hoạch chồi và giâm hom ở Phù Ninh đối với các xuất xứ thông khác nhau 9
8 Lịch sử của thu hoạch chồi và giâm hom ở Cam ly , Đà Lạt 10
9 Tỷ lệ ra rễ sau 5 tháng giâm hom của các loại hỗn hợp ruột bầu khác nhau 10
Danh sách các phụ lục
Tên
A Khu vực vườn vật liệu tại Ba Vì
B Khu vực vườn vật liệu tại Phù Ninh
C Khu vực vườn vật liệu tại Đà Lạt
D Thu chồi và giâm hom tại Ba Vì
E Thu chồi và giâm hom tại Phù Ninh
F Thu chồi và giâm hom tại Đà Lạt
Trang 31.0 Giới thiệu
Dự án CARD 033/05 VIE nhằm xem xét đánh giá lại các khảo nghiệm hiện có và sinh trưởng
của một số loài cây lá kim nhiệt đới ở Việt Nam, đặc biệt là thông caribê và xây dựng thêm các
khảo nghiệm mới, sử dụng các vật liệu đã được cải thiện di truyền, bao gồm giống Thông lai
Dự án cũng sẽ tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu lâm nghiệp Việt nam những vấn
đề liên quan đến cải thiện giống Thông và hệ thống nhân giống sinh dưỡng thông qua các khoá
đào tạo tại Queensland và Việt Nam, xây dựng các vườn vật liệu và vườm ươm trình diễn quy
mô nhỏ, và một chuyến tham quan học tập ở Australia cho các nhà quản lý/nghiên cứu lâm
nghiệp ở Việt Nam
Cuối cùng, dự án sẽ tạo dựng mối quan tâm cho các nhà trồng rừng quy mô lớn và nhỏ bao gồm
các cộng đồng dân tộc thiểu số, thông qua việc xây dựng các điểm trồng rừng trình diễn cộng tác
ở các vùng ưu tiên cho việc mở rộng diện tích rừng trồng Thông dưới sự giúp đỡ kỹ thuật của
các khoá đào tạo
Báo cáo này liên quan đến sản phẩm 3.2 của dự án về việc xây dựng và vận hành 3 vườn vật liệu
và vườn ươm quy mô trình diễn để sản xuất cây hom thông
2.0 Xây dựng vườn vật liệu
Sau khoá đào tạo ở Queensland vào tháng 5 năm 2006, các đối tác của dự án đã xây dựng được 3
vườn vật liệu trình diễn (Bảng1) sử dụng vật liệu là hạt từ các xuất xứ thông khác nhau của
Queensland và Việt Nam như ở bảng2 Một vài luống của vườn vật liệu sử dụng tấm “weed mat”
màu đen do Queensland cung cấp, số còn lại sử dụng tấm weed mat màu xanh hoặc có thể dùng
rơm che phủ (vật liệu đơn giản, dễ kiếm ở Việt Nam) Nhìn chung, thiết kế các khu vực vườn
vật liệu này đều dựa trên thiết kế của Queensland, tuy nhiên trồng với mật độ dày hơn do sự hạn
chế về không gian và giới hạn về thời gian của dự án, nên cố gắng tạo ra được lượng chồi nhiều
nhất có thể
Bảng 1: Mô tả các vườn vật liệu được xây dựng tại Việt nam thuộc dự án CARD 033/05 VIE
Địa điểm 1 Địa điểm 2 Địa điểm 3
Vị trí Cẩm Quỳ, Ba Vì Phù Ninh Cam Ly, Đà Lạt
Cơ quan Trung tâm nghiên cứu
giống cây rừng Viện nguyên liệu giấy, một đơn vị của Vinapaco Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm
Đồng, FSIV
Kinh độ 21° 07’N 21° 29’ 46’’N 11° 38’ 15’’N
Vĩ độ 105° 26’E 105° 27’ 5’’E 108° 15’53’’E
Độ cao so với
mặt nước biển
50 75 1,500
Lượng mưa
trung bình hàng
năm
Loại đất Đất nghèo, xám màu, sâu
50 cm
Đất nâu xám, trung bình Tầng đất sâu, đất đỏ, thoát
nước tốt
Thời gian xây
dựng
Tháng 8, 2006 Tháng 12, 2006 Tháng 6, 2006
Trang 4Table 2: Các xuất xứ được sử dụng để xây dựng 3 vườn vật liệu đầu tiên trên 3 lập địa tại Việt
nam
Địa điểm 1 Địa điểm 2 Địa điểm 3
Ba Vì FRC, Phù Ninh Cam Ly, Đà Lạt Loài và nguồn hạt Số lượng cây trồng trong vườn vật liệu
P caribaea var hondurensis (PCH) – không chọn – Đại
Lải
591 454 665
P caribaea var hondurensis (PCH) – chọn lọc hạt tốt
nhất của 11 cây trội, Rừng giống tại Đại Lải
522 280 672
P caribaea var hondurensis (PCH) – không chọn –
P elliottii var elliottii x PCH = PEE x PCH F2 hybrid -
PCH x P caribaea var caribaea (PCH x PCC) –
Queensland
186 142 218
Chi tiết về từng vườn vật liệu như sau:
2.1 Ba Vì (Cẩm Qùy)
Attachment A là các hình ảnh về vườn vật liệu tại Ba Vì ở các giai đoạn khác nhau
Hơn 2000 cây hạt được trồng trong vườn vật liệu từ 5 loài khác nhau như đã trình bày trong bảng
2 Vườn vật liệu gồm 14 luống, trong đó, 7 luống sử dụng tấm phủ màu đen của Queensland và 7
luống sử dụng tấm phủ bằng nhựa màu xanh
Ảnh A1 đến A4 (Tháng 11, năm 2006, 3 tháng sau khi trồng) cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng
của vườn vật liệu khá tốt, chỉ một số ít cây bị chết Khi khoá học về xây dựng và quảnlý vườn
vật liệu và vườn ươm diễn ra vào tháng 5 năm 2007 (khoảng 9 tháng tuổi), cây trong vườn vật
liệu còn rất khoẻ mạnh, có thể sẵn sàng cho việc thu hoạch chồi, thể hiện ở ảnh A5 đến A7
Trong suốt tháng 7 năm 2007 (11 tháng sau khi trồng), một loạt cây trong vườn vật liệu đã chết
một cách nhanh chóng, bắt đầu từ những luống có sử dụng tấm phủ mầu xanh Tham khảo ảnh
A8 đến A13
Bảng 3 cho thấy số lượng và tỷ lệ cây còn sống của từng xuất xứ cụ thể sau lần thu chồi thứ 2
(tháng 9 năm 2007) và lần thu chồi thứ 3 (tháng 11 năm 2007)
Chỉ có 6% cây còn sống sau lần thu chồi thứ 2 và tỷ lệ này giảm xuống còn 4% sau lần thu chồi
thứ 3 vào tháng 11 năm 2007 Chỉ có cây lai giữa PEE và PCH đời F2 có nguồn gốc từ
Queensland là có tỷ lệ sống cao nhất với 42% sau lần thu chồi thứ 3 Ảnh A14 đến A17 cho thấy
tình trạng vườn vật liệu vào tháng 10 năm 2007, trong đó đã có một số lượng cây đã được trồng
lại
Trang 5Bảng 3: Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Ba Vì sau 2 và 3 lần thu chồi
Nhóm Số lượng cây
ban đầu
Số lượng cây còn sống sau khi thu chồi lần 2 (tháng 9/07)
Tỷ lệ sống (tháng 9/07)
Số lượng cây còn sống sau khi thu chồi lần 3 (tháng 11/07)
Tỷ lệ sống (tháng 11/07)
PEE x PCH
PCH x PCC
PCH (Qld)
PCH – Dai
PCH – Dai
Lai (không
chọn)
Tổng số 2,049 117 6% 73 4%
Hiện tượng vườn vật liệu chết hàng loạt và nhanh chóng ở Ba Vì chưa từng thấy ở Queensland
Việc này là một điều gây ngạc nhiên và thất vọng cho tất cả những người đã tham gia vào xây
dựng vườn vật liệu này Vườn vật liệu đã sinh trưởng khá tốt chỉ trước đó một vài tháng
Sau khi trao đổi với cán bộ địa phương được biết, nhiệt độ tại đây rất cao vào hồi tháng 6 và
tháng 7 năm 2007 Như vậy, có thể cho rằng, với nhiệt độ rất cao (có lúc lên đến 41oC khi theo
dõi dưới tấm phủ mầu xanh, tấm này mỏng hơn tấm phủ màu đen) có thể là nguyên nhân đầu
tiên dẫn đến hiện tượng nói trên Hệ thống rễ của cây trong điều kiện đất sét ẩm, có thể đã bị
nung nóng, chính là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cây chết đồng loạt nhanh chóng
Trước tình trạng như vậy, việc quản lý vườn vật liệu tại Ba Vì trong thời gian tới cần phải chú ý
những vấn đề sau đây:
Những gợi ý đối với vườn vật liệu tại Ba Vì
1 Tháo bỏ (chứ không di chuyển) các tấm phủ trước khi xây dựng lại vườn vật
liệu
2 Trộn thêm phân hữu cơ và cát vào các luống của vườn vật liệu để giảm thành
phần đất sét và cải thiện tình hình thoát nước trước khi xây dựng lại vườn vật
liệu
3 Xây dựng thêm mái che cho khu vực vườn vật liệu để đảm bảo vườn vật liệu
được che mát trong giai đoạn nóng nắng
4 Xây dựng lại vườn vật liệu (bao gồm P caribaea var bahamensis – PCB và có
thể PCH x PCB) càng sớm càng tốt
5 Tránh cắt tỉa vệ sinh vườn vật liệu và thu chồi vào thời điểm quá nắng nóng và
những tháng ẩm ướt mùa hè để giảm nguy cơ sâu bệnh tấn công
Trang 62.2 Phu Ninh (FRC)
Attachment B là các hình ảnh về khu vực vườn vật liệu tại Phù Ninh ở các giai đoạn khác nhau
1559 cây hạt từ 6 nhóm khác nhau được trồng trong vườn vật liệu như ở bảng2 Vườn vật liệu gồm có 28 luống, 14 luống có sử dụng tấm phủ màu đen từ Queensland và 14 luống được phủ bằng rơm
Ảnh B1 đến B9 (tháng 5 năm 2007) cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng ban đầu của các cây
trong vườn vật liệu tương đối tốt, chỉ có một số ít cây bị chết, mặc dù vào thời điểm trồng, một
số cây đã cao hơn yêu hơn
Ảnh B10 (tháng 8 năm 2007) cho thấy một số ít cây vật liệu đã chết và có rất nhiều cây đã bị ngả màu vàng Hiện tượng này diễn ra vào cùng thời điểm cây tại Ba Vì chết đồng loạt
Ảnh B11 đến B19 (tháng 11 năm 2007), 11 tháng sau khi xây dựng vườn vật liệu cho thấy
nhóm cây lai PEE x PCH F2 (từ Queensland) và thông Masson đã bị chết hàng loạt Đã tiến hành trồng dặm bổ sung trên những diện tích sử dụng tấm phủ màu đen và trên 14 luống phủ bằng trấu
đã thay thế bằng cây bạch đàn Có đến 454 cây được trồng bổ sung vào tháng 10 năm 2007, bao gồm 31% cây lai PEE x PCH F2 Có rất nhiều cây đã bị vàng lá, có thể liên quan đến một loại bệnh nào đó mà các cán bộ địa phương không thể xác định chính xác được
Bảng 4 cho biết số lượng và tỷ lệ phần trăm số cây còn sống vào tháng 10 năm 2007 Trung bình, chỉ có 9% số cây còn sống vào tháng 10 năm 2007 Cũng như ở Ba Vì, cây lai PEE x PCH F2 từ Queensland (42%) có tỷ lệ sống cao hơn nhiều so với các xuất xứ khác Tỷ lệ sống của thông đuôi ngựa (24%) là có thể chấp nhận được và vẫn cao hơn nhiều so với xuất xứ PCH (2 – 3%)
Bảng 4: Tóm tắt các thông tin về vườn vật liệu tại Phù Ninh cho đến tháng 10 năm 2007
Xuất xứ Số cây vật
liệu trồng ban đầu
Số cây còn sống (tháng 11/07)
Tỷ lệ sống (tháng 11/07)
PCH (Qld) không
PCH – Dai Lai (không
Một điều trùng hợp là cây trong vườn vật liệu tại Phù Ninh chết do cùng nguyên nhân với vườn vật liệu tại Ba Vì, ở những luống sử dụng rơm để phủ lên luống cây (không sử dụng tấm phủ màu đen) cũng vẫn bị chết rất nhiều Thời tiết nóng ẩm trong suốt mùa hè có thể là tạo điều kiện cho sâu và bệnh tấn công, đặc biệt là vào thời điểm ngày sau khi thu hái chồi
Những gợi ý cho vườn vật liệu tại Ba Vì cũng tương tự có thể được áp dụng cho vườn tại Phù Ninh, tuy nhiên, không nên xây dựng vườn vật liệu cho PCB ở Phù Ninh
Trang 72.3 Dalat (Cam Ly)
Attachment C là những hình ảnh về vườc vật liệu tại Đà Lạt ở các giai đoạn khác nhau
2,745 cây con từ hạt đã được trồng trong vườn vật liệu bao gồm 5 nhóm loài khác nhau như trong bảng 2 Vườn vật liệu cũng có sử dụng tấm phủ màu đen từ Queensland và tấm phủ màu xanh từ địa phương Không giống như 2 địa điểm trên, (3 hàng trên mỗi luống, luống được đắp nổi), tại Đà Lạt, trồng 5 hàng mỗi luống , luống không đắp nổi) Trong mỗi vòng tròn có đường kính khoảng 20 cm có sử dụng một ống lon có chứa đầy than, cây được trồng ở trong đó Điều này giúp giảm sức nóng cho phần gốc cây vật liệu
Đà lạt là nơi có độ cao 1,500 m so với mặt nước biển, đất ở đây thoát nước tốt, thêm vào đó có khí hậu mát mẻ Đây chính là những điểm thuận lợi giúp cho vườn vật liệu tại Đà Lạt phát triển hơn hẳn Ba Vì và Phù Ninh
Ảnh C1 đến C3 (tháng 11 năm 2006, 4 tháng sau khi trồng) đã cho thấy tỉ lệ sống rất cao và khả năng sinh trưởng tốt, chỉ có một số rất ít cây bị chết
Ảnh C4 đến C11 (tháng 5 năm 2007, 10 tháng sau khi trồng) cho thấy tỷ lệ sống cũng như sinh trưởng của vườn là rất tốt Những hình ảnh này cũng cho thấy tấm phủ màu xanh mua tại địa phương chất lượng đã giảm đi nhanh chóng
Ảnh C12 đến C15 (tháng 12 năm 2007, 17 tháng sau khi xây dựng), vào thời điểm này, vườn vật liệu mới được cắt tỉa vệ sinh, một số cây bị chết nhưng tỷ lệ sống vẫn rất cao
3.0 Vườn ươm trình diễn, thu chồi và giâm hom
Trong phần này của báo cáo, những kết quả và thí nghiệm về cắt chồi, giâm hom được trình bày lần lượt sau đây
3.1 Vườn ươm Ba Vì
Attachment D là những hình ảnh khác nhau liên quan đến vườn ươm tại Ba Vì bao gồm cấu trúc
vườn ươm, thu chồi từ vườn vật liệu, giâm hom và quá trình lớn lên của cây con
Ảnh D1 và D2 (tháng 11 năm 2006) là hình ảnh nhà che bóng để giâm hom (là một phần của dự
án CARD)
Ảnh D3 đến D11, được chụp trong thời gian diễn ra khoá đào tạo vào tháng 5 năm 2007, là những hình ảnh về cắt chồi, giâm hom, vệ sinh, tỉa lại cây vật liệu sau khi thu chồi và sự phát triển của hệ thống rễ của cây con đã giâm hom trước đó
Ảnh D12 đến D16 cho thấy sự phát triển của chồi vào tháng 11 năm 2007
Biện pháp xử lý để làm tăng tỷ lệ ra rễ của hom đã được xem xét đánh giá kỹ tại Ba Vì Việc thử nhân giống hom thông đã từng được tiến hành nhưng không đạt hiệu quả cao Một thí nghiệm đã được thiết lập để so sánh phương pháp cắt hom của Việt Nam và Queensland Bảng 5 là kết quả của các kỹ thuật cắt hom khác nhau cho các xuất xứ thông khác nhau
Trang 8Table 5: Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt hom đến tỷ lệ ra rễ sau 6 tháng tại Ba Vì
Tỷ lệ phần trăm số cây hom vẫn sống của
mỗi kỹ thuật cắt
Xuất xứ Số lượng chồi của
mỗi kỹ thuật cắt
Kỹ thuật cắt của Việt Nam
Kỹ thuật cắt của Queensland
PCH (Qld) – không
chọn
150 25 52
PCH Dai Lai – không
chọn
Kết quả trên cho thấy rằng kỹ thuật cắt hom của Queensland hiệu quả gấp 3 lần số với của Việt nam (trung bình 32% so với 11%)
Khi đem so sánh kết quả của các xuất xứ khác nhau, cho thấy các xuất xứ của Queensladn (PEE
x PCH, PCH x PCC và PCH – Qld) có tỷ lệ trung bình là 60% so với 2 xuất xứ PCH của Đại Lải (13%)
Nếu đem gộp cả tỷ lệ sống của vườn vật liệu (bảng 3) và tỷ lệ sống của chồi với nhau, thì nhận thấy, nhóm cây lai PEE x PCH F2 của Queensland nếu được cắt chồi với kỹ thuật của Queensland thì sẽ cho kết quả tốt nhất Mô hình thông lai PEE x PCH F2 10 tuổi ở gần Ba Vì (đã
có trong báo cáo mốc 8 của dự án CARD) cũng đã nhấn mạnh việc so sánh giữa các xuất xứ khác nhau, đưa ra những nhận định lạc quan về cây lai PEE x PCH đời F2 rất thích hợp với lập địa tại miền bắc Việt Nam
Ở một thí nghiệm khác về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của cây hom đã được thử nghiệm cho 2 loại thông khác nhau Kết quả (ở bảng 6) cho thấy không có sự khác nhau về tỷ lệ sống giữa 2 công thức: có chất kích thích và không có chất kích thích Như vậy, có thể thấy, không cần phải sử dụng chất kích thích trong giâm hom thông Kết quả này cũng giống như kết quả thí nghiệm đã được tiến hành ở Queensland cho loài thông lai Cũng trong thí nghiệm tại Queensland, hom của cây lai PEE x PCH F2 cũng tốt hơn nhiều so với PCH địa phương
Trang 9Table 6: Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của hom sau 6 tháng tại Ba Vì
Số lượng/ tỷ lệ sống Xuất xứ Số lượng chồi đem
giâm hom
Trong lần đánh giá vườn ươm Ba Vì vào tháng 10 năm 2007 (ảnh 13 đến ảnh 17) nhận thấy rằng thành phần ruột bầu quá ẩm ướt và luôn giữ quá nhiều nước ở bên trong bầu Nên giảm lượng
nước tưới và nếu có thể, cần cải tiến thay thế loại thành phần ruột bầu khác, ít giữ nước hơn Và khi cây con đã ra rễ, cần được đưa ngay ra nơi có đủ ánh sáng
3.2 Vườn ươm FRC và các thí nghiệm về giâm hom ở Phù Ninh
Attachment E là những hình ảnh khác nhau về cắt hom, giâm hom tại Phù Ninh
Ảnh E1 đến E9 được chụp vào tháng 5 năm 2007, 1 năm sau khoá đào tạo tại Queensland và trước khoá đào tạo tại Việt Nam Nhìn chung, cây hom phát triển tốt, tuy nhiên, sau khi cây ra rễ, cần được đưa ra nơi có đủ ánh sáng để cây có thể phát triển tốt
Sau những gợi ý này, cán bộ của FRC đã xây dựng một diện tích nhỏ có đủ ánh sáng, đặt ngay bên cạnh nhà có mái che để đảm bảo sự phát triển của cây hom sau khi chúng bắt đầu ra rễ
Ảnh E10 đến E17 (tháng 11 năm 2007) là hình ảnh về khu vực có đủ ánh sáng cho cây hom
Cho đến nay, đã tiến hành thu chồi được 3 lần, bảng 7 là kết quả tóm tắt số lượng chồi trung bình thu được ở mỗi cây, và tổng số chồi đem giâm hom, tỷ lệ sống tính đến tháng 10 năm 2007 Tỷ
lệ sống của 2 nhóm cây lai và PCH (Đại lải, có chọn lọc) khá cao Mặt khác, khó có thể giải
thích được sự khác biệt khá rõ rệt giữa tỷ lệ sống của xuất xứ PCH (Đại Lải, có chọn lọc) là 62%
so với 2 xuất xứ PCH còn lại (trung bình là 18%)
Table 7: Cắt chồi và giâm hom ở FRC cho các xuất xứ thông khác nhau
Xuất xứ Số lượng chồi
từ mỗi cây
Số lượng chồi cắt được và giâm hom
Số lượng cây hom còn sống
Tỷ lệ sống
Trang 103.3 Vườn ươm tại Đà Lạt
Attachment F cho thấy những hình ảnh khác nhau về quá trình giâm hom và cây con lớn lên tại
Đà Lạt
Hình ảnh F1 đến F4 (tháng 10 năm 2006) cho thấy kết quả của lần giâm hom đầu tiên Cũng
giống như tại các vườn ươm khác, cây hom được tứơi quá đẫm và không được đưa ra nơi có đủ
anh sáng sau khi hệ rễ đã hình thành Không nên đặt cây con trực tiếp lên mặt đất vì sự thoáng
khí quanh hệ rễ là một yếu tố quan trọng để cây con phát triển
Ảnh F5 đến F8 (tháng 5 năm 2007) là những hình ảnh nổi bật về việc thu hái chồi và giâm hom
từ vườn vật liệu ở Cam Ly (trong khoá đào tạo diễn ra tại Đà Lạt)
Ảnh F9 đến F12 (tháng 12 năm 2007) thể hiện quá trình phát triển của cây hom cho đến bây giờ
Cho đến bay giờ, phần lớn cây trong vườn vật liệu vẫn sống Đã thu chồi và giâm hom 3 lần như
trong bảng 8 Bốn loại thành phần ruột bầu khác nhau cũng đã được thử để đánh giá hiệu quả
của chúng đến tỷ lệ ra rễ Bảng 9 cho thấy tỷ lệ ra rễ của cây con sau 5 tháng tuổi
Bảng 8: Lịch sử của thu hoạch chồi và giâm hom ở Cam ly , Đà Lạt
Ngày thu chồi và giâm hom Số lượng chồi trung
bình của mỗi cây
Số hom đem giâm
Bảng 9: Tỷ lệ ra rễ sau 5 tháng giâm hom của các loại hỗn hợp ruột bầu khác nhau
Hỗn hợp ruột bầu Tỷ lệ ra rễ sau 5 tháng
100% đất mặt 73% 50% đất mặt: 50% vỏ càphê phân huỷ 70%
1/3 đất mặt : 1/3 vỏ càphê phân huỷ: 1/3 cát mịn 60%
50% đất mặt: 50% cát mịn 63%
Chưa có thí nghiệm về giâm hom cho các loài thông khác nhau ở Đà Lạt
4.0 Kết luận
Từ việc xây dựng và quản lý đối với 3 vườn nhân giống thông ở Việt Nam, có thể đưa ra những
kết luận ban đầu và gợi ý như sau:
1 Vị trí của vườn vật liệu cần chú trọng đảm bảo khả năng thoát nước tốt để hạn chế sức nóng
Ở những nơi có nhiệt độ cao, cần phải có mái che tạm thời để ngăn cây không bị đốt nóng
2 Nếu tiến hành xây dựng lại vườn vật liệu ở Ba Vì hoặc ở Phù Ninh, cần cải thiện hệ thống
thoát nước tốt trước khi trồng