BỘ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Báo cáo tiến độ dự án CARD 026/05VIE Điều tra và kiểm soát sự nứt hạt lúa trên đồng ruộng và sau thu hoạch ở Đồng Bằng sông Mêkông của Việt Nam
Trang 1
BỘ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Báo cáo tiến độ dự án CARD
026/05VIE
Điều tra và kiểm soát sự nứt hạt lúa trên đồng ruộng
và sau thu hoạch ở Đồng Bằng sông Mêkông của
Việt Nam
MS 12 XÁC NHẬN CÁC PHƯƠNG PHÁP THU HOẠCH, SẤY
VÀ XAY XÁT CẢI TIẾN
• Lợi ích của việc thực hiện các phương pháp thu hoạch và phơi sấy tối ưu và cải thiện
hiệu quả của các nhà máy xay xát (Kết quả 31 và 3.2)
THÁNG 07- 2009
Trang 2ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MỤC LỤC
1 Thông tin về cơ quan hợp tác _ 1
2 Tóm tắt đề án 2
3 Tóm tắt công tác điều hành _ 2
4 Minh chứng lợi ích của thu hoạch đúng: 3
5 Minh chứng lợi ích sử dụng máy sấy tĩnh vỉ ngang và máy sấy tầng sôi: 4
6 Các thí nghiệm xay xát minh chứng lợi ích của xay xát cối rulô so với cối đá 5
7 Kết quả khảo sát đánh giá tác động của dự án _ 6
7.1 Thời điểm thu hoạch 7
7.2 Phương pháp thu hoạch _ 7
7.3 Phơi sấy lúa _ 7
7.4 Công tác huấn luyện và khuyến nông 8
7.5 Hợp tác xã 9
7.6 Tác động của dự án đối với tiểu nông hộ _ 9
8 Công tác huấn luyện _ 10
8.1 Huấn luyện nông hộ _ 10
8.2 Các chuyến học tập tham quan cho nông hộ và nhà cung cấp dịch vụ 14
8.3 Hoạt động trình diễn 15
8.4 Lắp đặt cối xát và huấn luyện chủ xay/nhân viên điều hành máy xay xát _ 17
9 Lợi ích vật chất và tài chính _ 19
9.1 Dữ liệu tích hợp tổn thất trong thu hoạch và sau thu hoạch của lúa gạo và các thông
tin về việc sử dụng máy thu hoạch và máy sấy 20
9.2 Đánh giá lợi nhuận thu được của khu vực HTX Tân Phát A _ 23
9.3 Lợi nhuận từ việc áp dụng cơ giới hóa phương pháp thu hoạch: 23
9.4 Lợi nhuận từ việc cải thiện phương pháp sấy: _ 25
9.5 Tổng kết lợi nhuận đạt được của HTX Tân Phát A từ dự án _ 27
9.6 Đánh giá tổng lợi nhuận cho một tỉnh hay ĐBSCL _ 30
10 Kết luận 31
11 Phụ lục _ 32
Trang 31 Thông tin về cơ quan hợp tác
Tên đề án Điều tra và kiểm soát sự nứt hạt lúa trên đồng ruộng
và sau thu hoạch ở Đồng Bằng sông Cửu Long của Việt Nam
Lãnh đạo đề án Việt Nam TS Trương Vĩnh
GS Shu Fukai
Ngày hòan thành (nguyên bản) Tháng ba 2009
Ngày hòan thành (sửa lại) Tháng 10 2009
Thông tin liên lạc
Tại Úc: Chủ nhiệm đề án
Cơ quan: Đại học Queensland Email:b.bhandari@uq.edu.au
Tại Úc: Liên lạc hành chính
Tên: Ông Kerry Johnston Điện thoại: +61 7 3365 7493
Chức danh: Nhân viên hỗ trợ Fax: +61 7 33658383
Cơ quan: Đại học Queensland Email: k.johnston@research.uq.edu.au
Tại Việt Nam
Chức vụ: Trưởng Bộ môn Công nghệ Hóa học Fax: 84-8-8960713
Cơ quan: Đại học Nông Lâm TP.HCM Email: tv@hcmuaf.edu.vn
Trang 4Trong ba năm qua, đề án này đã thực hiện các hoạt động phong phú để cải tiến phương pháp thu hoạch, phơi sấy và xay xát bằng cả hai biện pháp bồi dưỡng kiến thức cho tiểu nông hộ
và thao diễn các phương pháp thực hiện thu hoạch, sấy và xay xát cải tiến Bước đầu tiên là thực hiện thu thập dữ liệu tổn thất xay xát ở nhiều nhà máy và các khảo sát nhanh Sau đó thực hiện các thí nghiệm để trắc nghiệm các giả thuyết về nứt gãy gạo trong quá trình thu hoạch và sau thu hoạch cũng như nghiên cứu thời gian thu hoạch, phương pháp thu hoạch, các điều kiện sấy lúa tối ưu và hiệu quả xay xát Các số liệu thu thập có hệ thống này và kết quả nghiên cứu được trình bày ở dạng tài liệu khuyến nông và tờ rơi phân phát cho các bên liên quan, đặc biệt là tiểu nông hộ thông qua các hội thảo huấn luyện và tham quan tập huấn Cho đến nay (kể từ khi dự án hoạt động) đã có 2312 nông hộ và 300 cán bộ khuyến nông tham gia các khóa huấn luyện Các buổi thao diễn được thực hiện trên cơ sở các thiết bị được chương trình CARD hỗ trợ như máy gặt xếp dãy, máy gặt đập liên hợp và các máy sấy Theo kết quả điều tra nông hộ thực hiện trong tháng 03 năm 2009, phương pháp tiếp cận tích hợp
đã thực hiện trong dự án này đã nâng cao nhận thức tập quán canh tác của tiểu nông hộ
Giảm thu hồi gạo nguyên do nứt hạt là một trong những vấn đề chính làm giảm thu nhập
và sự sẵn có của mặt hàng thực phẩm chủ lực cho nông dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Hạt lúa có thể bị nứt hoặc nứt tế vi từng phần ngay trên đồng lúa do thời điểm/ tập quán thu hoạch không đúng, do các điều kiện sấy sau thu hoạch chưa phù hợp hoặc xay xát chưa thích hợp Đề án này nhằm cải thiện chất lượng và giá trị lúa gạo nhờ sự tiếp cận tổng hợp giữa nông dân, chủ máy xay, người cung cấp dịch vụ, cán bộ khuyến nông
và cơ quan nghiên cứu Một trong những mục tiêu then chốt của đề án này là cải thiện kiến thức cho tiểu nông hộ bằng cách tổ chức hội thảo và thao diễn tại các hợp tác xã và nông dân trong vùng để họ quan sát việc thu hoạch và kỹ thuật xử lý hạt nhằm hoàn thiện chất lượng hạt Các hoạt động tương tự tổ chức cho chủ nhà máy xay nhỏ để khuyến cáo
họ lắp đặt các máy sấy hay để cung cấp cho họ kiến thức kỹ thuật về chế độ sấy tối ưu thực tế Một mục tiêu khác của đề án là cải thiện năng lực cán bộ khuyến nông bằng cách cung cấp các thông tin cập nhật Lý thuyết sấy hạt tiên tiến sẽ cải thiện thiết kế máy sấy tương lai Các tổ chức giáo dục có liên quan trong đề án sẽ cùng nhau làm việc để nâng cao năng lực cán bộ Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Trang 5Dự án cũng thu thập số liệu tổn thất xay xát của hai tỉnh Tiền Giang và Kiên Giang trong năm 2007 Nhằm đánh giá hiệu quả xay xát hiện tại và khảo sát phương pháp tiếp cận mới để đạt hiệu quả xay xát tốt hơn, dự án đã thực hiện hai thí nghiệm xay xát tại ĐH Cần Thơ (tháng 08 năm 2008) và tại tỉnh Kiên Giang (tháng 03 năm 2009) Tổ chức thành công hội thảo xay xát tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương, nhà cung cấp dịch vụ, chủ máy xay, cán bộ khuyến nông và nông hộ về kỹ thuật xay xát
Trên cơ sở các ước tính các lợi nhuận vật chất và tài chính đạt được của dự án, HTX Tân Phát A sẽ làm lợi được 50.326 USD mỗi năm từ các cải tiến tập quán thu hoạch và sấy lúa
mà không cần phải lắp đặt thêm trang thiết bị Nếu tính thêm lợi nhuận từ các hoạt động dịch
vụ, hợp tác xã làm lợi 125.826 USD mỗi năm Trong trường hợp ĐBSCL áp dụng hệ thống cải tiến trong sản xuất lúa gạo, ví dụ thu hoạch đúng, gặt bằng máy, sấy lúa đúng kỹ thuật, xay xát cải tiến, ĐBSCL có thể giảm 13% tổng tổn thất trong và sau thu hoạch và tiết kiệm được 190 triệu USD mỗi năm
4 Minh chứng lợi ích của thu hoạch đúng:
Thu hoạch đúng thời hạn chiếm vị trí quan trọng trong việc kiểm soát sự nứt gãy hạt gạo Tỉ
lệ thu hồi gạo nguyên giảm sẽ làm giảm giá trị và thu nhập của nông hộ Các thí nghiệm trên đồng được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của thời gian thu hoạch xung quanh thời điểm chín sinh lý của hạt đến độ nứt gãy và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của 7 giống gạo phổ biến (OM1490, OM2718, OM2517, OM4498, AG24, IR50404 và Jasmine) tại 3 địa điểm khác nhau trong 2 năm canh tác (2006-2008) ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là Trung tâm giống An Giang, HTX Tân Phát A-Kiên Giang và HTX Tân Thới 1-Cần Thơ Kết quả cho thấy thời gian thu hoạch và giống gạo rất ảnh hưởng đến độ nứt gãy gạo Xu hướng chung là tỉ lệ hạt nứt tăng khi thời gian thu hoạch trễ hạn so với ngày chín sinh lý dự tính Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên cũng theo xu hướng trên khi thu hoạch trễ Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm trung bình 11.3% và lên đến 50% nếu bị thu hoạch trễ từ 4-6 ngày Xu hướng này như nhau đối với cả mùa khô và mùa mưa Tỉ lệ gạo gãy giữa các giống gạo chênh lệch nhiều (0.9 đến 60.5%) vào ngày thứ 6 sau ngày chín sinh lý cho thấy có thể lựa chọn giống gạo phù hợp để canh tác nhằm giảm thiểu mức độ gãy hạt do thu hoạch trễ hạn gây ra Báo cáo chi tiết ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch lên tỉ lệ nứt gãy hạt và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên được trình bày trong Phụ lục 1
Thu hoạch gạo sớm hạn vài ngày (trước ngày chín sinh lý) tốt hơn thu hoạch trễ hạn từ 4 đến
6 ngày vì thu hoạch trễ hạn làm cho hạt gạo dễ bị nứt gãy Tình trạng này sẽ càng trầm trọng hơn ngay cả trong trường hợp thu hoạch bằng tay như nghiên cứu này vì thời điểm thu hoạch
bị kéo dài do không có máy gặt hoặc thiếu nhân công Do đó, việc sử dụng các phương pháp thu hoạch phù hợp như máy gặt đập liên hợp để hạn chế thu hoạch trễ hạn là cần thiết Ngoài việc hạn chế tác động thất thoát hạt do thu hoạch trễ hạn, cơ khí hóa khâu thu hoạch có thể làm giảm 1.5% tổn thất hạt do không tuốt lúa sau khi thu hoạch bằng máy
Trang 65 Minh chứng lợi ích sử dụng máy sấy tĩnh vỉ ngang và máy sấy tầng sôi:
Sấy lúa trở thành vấn đề ở ĐBSCL từ những năm 1980 khi tăng thêm vụ lúa thu hoạch trong mùa mưa Sấy lúa không những giảm thất thoát hạt do hư hỏng và lúa mọc mầm gây ra mà còn là một cơ hội can thiệp quan trọng để giảm thiểu hiện tương nứt hạt gạo sau khi sấy và giai đoạn xay xát sau đó Các hoạt động của dự án đã thực hiện các thí nghiệm sấy ở điều kiện trong phòng thí nghiệm và thực tế để cải thiện hiệu quả sấy và tuyên truyền ứng dụng sấy lúa sử dụng máy sấy tĩnh vỉ ngang và máy sấy tầng sôi
Nghiên cứu này bao gồm các thí nghiệm và điều tra khảo sát về máy sấy tĩnh vỉ ngang với trọng tâm hiện tượng nứt hạt gạo và so sánh các chế độ sấy đảo gió Kết quả cho thấy cả hai máy sấy qui mô sản xuất 8 tấn và qui mô phòng thí nghiệm 20 kg, ảnh hưởng của đảo gió là giảm sai biệt ẩm độ cuối rất rõ ràng; tuy nhiên, ảnh hưởng này đến thời gian sấy và tốc độ sấy là khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê Sấy cơ học dù là có hay không có đảo gió đều tốt hơn phơi nắng xét trên phương diện làm giảm nứt hạt Tuy nhiên, khi so với đối chứng là mẫu sấy bóng râm, sấy cơ học (có hay không có đảo gió) làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên và tăng nứt; yếu tố ảnh hưởng chưa cụ thể có thể là do tốc độ sấy Hiện tượng tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm không nhất quán, thấp hơn hoặc cao hơn một ít trong mỗi cặp thí nghiệm giữa đảo gió và không đảo gió; kết quả này không như dự đoán với số liệu sai biệt
ẩm độ cuối đã đo đạc Thí nghiệm trên máy sấy 4 tấn ở Long An có trang bị bộ thu phụ năng lượng mặt trời cho chất lượng hạt tốt và minh chứng tính kinh tế cao
Thời gian sấy thực tế sử dụng máy sấy tĩnh là từ 8-10 giờ đối với lúa ướt nếu nông hộ muốn giảm hàm ẩm của hạt xuống mức ẩm bảo quản (14% cơ sở ướt) Do đó, trong trường hợp nông hộ cần giảm ẩm hạt cấp tốc trong mùa mưa đến khoảng 15-16%, có thể sử dụng máy sấy tầng sôi như một máy sấy gọn Sử dụng phương pháp bề mặt đáp ứng RSM để xác định các điều kiện sấy tối ưu tỉ lệ thu hồi gạo nguyên với máy sấy tầng sôi ở nhiệt độ sấy cao Nhiệt độ sấy và thời gian sấy ở giai đoạn 1 của thí nghiệm RSM (75-87oC và 2.5 phút) đạt hiệu quả về tốc độ sấy và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên Ở điều kiện tối ưu, tỉ lệ thu hồi gạo nguyên tương đương với mẫu đối chứng Tuy nhiên, các thí nghiệm đánh giá cảm quan cho thấy độ trắng của mẫu tối ưu thấp hơn mẫu đối chứng, do đó làm giảm điểm cảm quan của mẫu tối ưu Phụ lục 2 trình bày chi tiết phương pháp tiến hành và kết quả của thí nghiệm này
Trang 76 Các thí nghiệm xay xát minh chứng lợi ích của xay xát cối rulô so với cối đá
Hiện nay máy sấy chỉ có khả năng sấy cho khoảng 30% lượng lúa tươi của hệ thống sau thu hoạch ở ĐBSCL Hầu hết nông hộ thường phơi lúa Ngoài ra, thương lái trả giá lúa ẩm độ 14% và 17-18% không khác biệt lắm Do đó, nông hộ thích phơi lúa đến ẩm độ cuối 17-18% dẫn đến tình trạng có một khối lượng lớn lúa ẩm độ cao (17-18%) cần được xay xát Nhà máy xay vì vậy sử dụng cối đá để xay lúa có ẩm độ cao Hệ thống này làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên và cần được khảo sát
Đề án đã thực hiện hai thí nghiệm xay xát trên hai nhà máy có qui mô vừa và lớn (1 tấn/giờ
và 7 tấn/giờ) Mục đích chính của các thí nghiệm xay xát là (i) đánh giá hiệu quả xay xát hiện tại và đề xuất cách tiếp cận mới để đạt được hiện quả xay xát tốt hơn; (ii) đề xuất phương án nâng cấp hệ thống xay xát hiện tại lên hệ thống tốt hơn với vốn đầu tư nhỏ; (iii) đề nghị một
mô hình chuỗi quản lý gạo tích hợp từ thu hoạch đến xay xát nhằm giúp chất lượng gạo tốt hơn và tạo thu nhập cao hơn cho nông hộ
Thí nghiệm xay xát đầu tiên được thực hiện trên hệ thống xay xát 1 tấn (RS10P – SINCO) tại TP Cần Thơ Mục đích của thí nghiệm này là xác định ảnh hưởng của ẩm độ lúa đến tỉ lệ thu hồi gạo nguyên khi sử dụng cối cao su Giống gạo thí nghiệm là OM1490 và so sánh giữa ba mức ẩm độ (14, 15 & 16%) Kết quả cho thấy tỉ lệ thu hồi gạo nguyên không khác biệt giữa gạo ẩm độ 14% và 15% Tuy nhiên, khi độ ẩm của lúa 16%, tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm đáng kể từ 46.7% xuống 37% Chênh lệch này khá cao và cho thấy tầm quan trọng của độ ẩm lúa đối với hiệu quả xay xát Kết quả thí nghiệm đã được trình bày trong báo cáo MS11
Thí nghiệm thứ hai thực hiện với hệ thống xay xát 7 tấn/giờ trên hai giống gạo (OM6561 và IR50404) ở hai mức ẩm (14% và 17-18%) sử dụng hai kỹ thuật xay xát, đó là cối đá và cối cao su Hiện tại ở ĐBSCL 60% lượng lúa được xay bằng cối đá và 40% còn lại xay bằng cối cao su Kỹ thuật cải tiến xay xát 0-30% lúa đối với cối đá và 70-100% lúa bằng cối cao su Trong thí nghiệm này, hệ thống xay xát cải tiến xay 30% lúa bằng cối đá và 70% bằng cối cao su được gọi là xay cối cao su 70% cải tiến và ký hiệu là M70RD Tương tự, hệ thống cải tiến xát 100% bằng cối cao su được ký hiệu là M100RD Hệ thống xay xát truyền thống chỉ xát 30% lúa bằng cối cao su ký hiệu là M30RD Thí nghiệm này thực hiện tại nhà máy Hùng Lợi, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Trong thí nghiệm này đã thu được các kết quả sau:
Trang 8Kết quả trên chứng tỏ rằng hệ thống cải tiến M70RD áp dụng cho gạo 14% ẩm cải thiện tỉ lệ
thu hồi gạo nguyên
B Thí nghiệm thứ hai (tháng 08 năm 2009)
Kết quả thí nghiệm này được trình bày trong Bảng 1 sau đây
Bảng 1 Tổng tỉ lệ thu hồi và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
CD: cối đá; CS: cối cao su
Kết quả cho thấy:
Đối với lúa phơi nắng (ẩm độ = 17%): Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của cối đá 70% (M30RD)
cao hơn tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của cối đá 30% (40,71%-35,89%)
Đối với lúa sấy (ẩm độ = 14-15%): Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của cối đá 70% (M30RD)
thấp hơn tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của cối đá 30% (49,28%-53,36%)
Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của lúa sấy bằng máy cao hơn lúa phơi 13-14% Do đó, bóc trấu
sử dụng cối cao su chỉ cải thiện tỉ lệ thu hồi gạo nguyên trong trường hợp lúa được sấy
đúng ẩm độ 14-15%
Phụ lục 3 trình bày báo cáo kỹ thuật của những thí nghiệm xay xát này
7 Kết quả khảo sát đánh giá tác động của dự án
Điều tra nông hộ được thực hiện tại HTX Tân Phát, Tân Hiệp, Kiên Giang trong tháng 03
năm 2009 Mục đích của đợt khảo sát này là đánh giá tác động của chương trình CARD
026/VIE-05 kể từ khi dự án bắt đầu vào tháng 09 năm 2006 Bảng khảo sát thiết kế 31 câu
hỏi xoay quanh các nội dung kiến thức, thái độ và phương pháp canh tác ở nhiều nội dung
hoạt động khác nhau của dự án Tổng số nông hộ tham gia khảo sát này là 162 trong mùa khô
2009 bao gồm cả những nông hộ đã tham gia khóa huấn luyện của CARD (41%, 66/162
người tham gia) Phương pháp điều tra là phỏng vấn 1-1 Kết quả khảo sát được trình bày sau
đây:
Hệ thống
Sản phẩm
Trang 97.1 Thời điểm thu hoạch
Thời điểm thu hoạch là cơ hội can thiệp đầu tiên trên đồng để giảm thiểu tổn thất hạt sau thu hoạch Các kết quả thí nghiệm của chương trình CARD trong các mùa vụ 2006-2008 cho thấy thu hoạch trễ 4-6 ngày sau thời điểm chín sinh lý của hạt (tùy vào từng giống gạo) sẽ làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên từ 9-50% Trong tổng số 162 nông hộ tham gia khảo sát, 95.1% nông hộ ý thức được tác động tiêu cực của việc thu hoạch trễ so với thời gian thu hoạch khuyến cáo cho từng giống lúa 49.35% nông hộ tham gia khảo sát nắm bắt được thông tin này qua các hoạt động của chương trình CARD phối hợp với Trung tâm khuyến nông địa phương bên cạnh sự chủ động tìm hiểu thông tin của nông hộ (Hình 1) Tuy ý thức được thu hoạch trễ gây ra tổn thất hạt nhưng có đến 45.34% nông hộ thu hoạch trễ với lý do phổ biến nhất là thiếu nhân công (65.82%) và thiếu máy gặt (25.32%) Điều đó cho thấy sự đầu tư về trang thiết bị phục vụ cơ giới hóa công tác thu hoạch là hết sức cần thiết cùng với công tác tuyên truyền khuyến nông về ích lợi của thu hoạch lúa đúng thời điểm
7.2 Phương pháp thu hoạch
Hình 2 mô tả phần trăm nông hộ tham gia khảo sát sử dụng các phương pháp thu hoạch khác nhau trước khi chương trình CARD bắt đầu (năm 2006) và vào năm 2009 Cách đây
3 năm, tỉ lệ nông hộ gặt lúa bằng phương pháp thủ công rất cao (83.65%) Đến nay, số lượng nông hộ gặt thủ công đã giảm đáng kể khoảng 70% Đa số các nông hộ tham gia khảo sát đều có kiến thức đúng đắn về phương pháp thu hoạch Ví dụ có khoảng 80% nông hộ biết rằng công tác tuốt lúa cần được tiến hành ngay lập tức sau khi thu hoạch (80%)
7.3 Phơi sấy lúa
Phơi sấy là cơ hội can thiệp rất quan trọng để tối thiểu hóa sự nứt gãy hạt gạo sau sấy và trong quá trình xay xát sau đó Theo các thí nghiệm do chương trình CARD thực hiện, ước tính trung bình tổn thất do tập quán phơi đồng và phơi sân khoảng 8.7% trong vụ Đông-Xuân và có khả năng tổn thất trong mùa mưa sẽ cao hơn do thay đổi của thời tiết
và mưa bão Như trình bày trong Hình 3, thấy tỉ lệ nông hộ làm khô lúa bằng phơi tự nhiên giảm đáng kể (từ 79.50% năm 2006 xuống còn 39.75%) và số nông hộ sử dụng máy sấy tăng khoảng 40% (8.70% đến 47.83% trong vòng 3 năm 2006-2009) Hai nguyên nhân khiến 12% nông hộ không thể ứng dụng sấy cơ học là không có máy sấy và chi phí sấy cơ học còn cao Mặc dù có trên 80% nông hộ ý thức được sấy lúa bằng máy tốt hơn phơi và giảm sự nứt gãy trong quá trình xay xát (92.50%) nhưng chỉ có 53% nông
hộ biết rõ là áp dụng kỹ thuật sấy sẽ làm tăng chất lượng gạo khi xát Số nông hộ còn lại cho rằng kỹ thuật sấy tốn năng lượng (21.12%) và có đến 26.09% nông hộ trả lời rằng không biết gì về kỹ thuật sấy 63.3% nông hộ biết được thông tin về sấy lúa tốt hơn phơi
là nhờ chương trình CARD và Trung tâm khuyến nông (Hình 4)
Trang 10Hình 1 Ba nguồn cung cấp kiến thức
thu hoạch của nông hộ tham gia khảo
7.4 Công tác huấn luyện và khuyến nông
Trong 162 nông hộ tham gia khảo sát, tỉ lệ nông hộ đã từng tham gia các hoạt động huấn luyện trong khuôn khổ chương trình CARD là 41% (66 người) Tỉ lệ nông hộ đánh giá các buổi tập huấn là rất hữu ích và hữu ích rất cao (98.5%), chỉ có 1.52% nông hộ cho rằng đã biết những thông tin được cung cấp trong buổi tập huấn Hình 5 so sánh giữa tỉ lệ nông hộ có tham dự tập huấn trong chương trình CARD (41%, 66/162 người) và số lượng nông hộ trong khảo sát này trả lời đúng các câu hỏi mang tính kiến thức về thời điểm thu hoạch, phương pháp thu hoạch và sấy lúa (162 nông hộ bao gồm người có tham dự và không tham dự tập huấn do CARD tổ chức) Kết quả cho thấy tỉ lệ nông hộ tham gia khảo sát trả lời đúng kiến thức về thời điểm thu hoạch (95.1%), phương pháp thu hoạch (63%)
và sấy lúa (80%) cao hơn tỉ lệ nông hộ đã tham dự tập huấn của CARD (41%) Như vậy nông hộ tham gia khảo sát mà không dự tập huấn của CARD đã có nguồn kiến thức khác Điều này có thể giải thích một phần là nhờ vào hiệu ứng lan tỏa từ các buổi tập huấn trong cộng đồng nông hộ khá lớn khi có đến 54/66 nông hộ (91.5%) tham gia các hoạt
Trang 11giềng không tham gia tập huấn Ngoài ra, nông hộ cũng rất chủ động học hỏi để nâng cao kiến thức canh tác lúa Các nông hộ cho rằng để tăng hiệu quả của buổi tập huấn cần kết hợp thuyết trình bài giảng và tham quan thực tế (54.5%) và mời các chuyên gia thuyết trình (31.8%)
7.5 Hợp tác xã
Trong 162 nông hộ tham gia khảo sát, tỉ lệ nông hộ có tham gia Hợp tác xã là 83.2% (bao gồm cả HTX có lắp máy của CARD và HTX không có lắp máy của CARD) Hầu hết nông hộ đều cho rằng hợp tác xã vẫn là kênh cung cấp thông tin hiệu quả nhất về mặt tuyên truyền kiến thức nhà nông (86.25%), cung cấp thông tin và hỗ trợ sản xuất (73.5%) Tuy nhiên chỉ có 41.9% nông hộ nghĩ rằng sẽ sử dụng máy sấy và máy gặt đập do Hợp tác xã quản lý để làm giảm tổn thất và nâng cao giá trị lúa gạo Lý do các nông hộ chuộng
sử dụng máy sấy và máy gặt đập bên ngoài hợp tác xã không được khảo sát trong nghiên cứu này nhưng kết quả cho thấy cần nâng cao tính hiệu quả của các trang thiết bị phục vụ sản xuất do Hợp tác xã quản lý
7.6 Tác động của dự án đối với tiểu nông hộ
Nhìn chung, các thông tin như đã trình bày như trên cho thấy các hoạt động của CARD thực hiện trong hai năm qua đã có tác động rất tích cực đến kiến thức và tập quán canh tác của nông hộ trong các hợp tác xã có tham gia dự án này Kết quả khảo sát chứng tỏ kiến thức và tập quán canh tác của nông hộ đã được nâng cao, ví dụ ít phơi lúa hơn, sấy
cơ học nhiều hơn và sử dụng máy móc để thu hoạch lúa nhiều hơn Rõ ràng là những thay đổi này một phần là nhờ vào hoạt động khuyến nông do CARD và các trung tâm khuyến nông phối hợp tổ chức
Hình 5 So sánh tỉ lệ các nông hộ tham gia khảo sát có tham gia hoạt động huấn luyện của CARD (41%, 66/162 nông hộ) và tổng số nông hộ được khảo sát (162 bao gồm có và không có tham gia hoạt động của CARD) trả lời đúng các câu hỏi kiến thức về thời điểm thu hoạch, phương pháp thu hoạch và sấy lúa
Trang 12Sử dụng trắc nghiệm t và F trong phân tích thống kê để so sánh giữa hai nhóm đối tượng
trong khảo sát là nông hộ có tham gia tập huấn của CARD và nhóm nông hộ chưa tham gia bất kỳ tập huấn nào của CARD tổ chức So sánh hai nhóm trong hai đối tượng: luồng thông tin và kiến thức lúa gạo dựa trên câu trả lời của hai nhóm trong điều tra khảo sát Câu hỏi về luồng thông tin là Câu 2, 7 và 16 và khảo sát kiến thức của nông hộ bằng các câu hỏi 8, 10, 15 và 17 (xem bảng câu hỏi điều tra trong Phụ lục 3) Kết quả phân tích thống kê như trình bày trong Phụ lục 4 cho thấy sự khác biệt về “luồng thông tin” giữa hai nhóm có và không có tập huấn CARD là không đáng kể (P > 0.05) Phân tích tỉ lệ câu trả lời đúng kiến thức trong khảo sát giữa hai nhóm có và không có tham gia tập huấn CARD cho thấy sự khác biệt giữa hai nhóm này cũng không có ý nghĩa (P>0.05) Kết quả này nhấn mạnh hiệu ứng lan truyền trong cộng đồng nông hộ Kiến thức của nông hộ được nâng cao thông qua các buổi huấn luyện, hoạt động khuyến nông, thao diễn và hiệu ứng lan truyền Các máy gặt đập, máy sấy do CARD hỗ trợ đã tạo cơ hội cho nông hộ sử dụng trong canh tác Kết quả là tỉ lệ nông hộ ứng dụng kỹ thuật canh tác thích hợp và tỉ lệ nông hộ lắp đặt máy sấy, máy gặt tăng cao so với ba năm trước đây khi chương trình bắt đầu
8 Công tác huấn luyện
8.1 Huấn luyện nông hộ
Là một trong những mục tiêu chính của chương trình này, dự án đã tổ chức các hoạt động tập huấn và thao diễn cho cán bộ khuyến nông và nông hộ trong các mùa vụ liên tiếp từ tháng 02 năm 2007 ở tỉnh Kiên Giang và TP Cần Thơ Các khóa huấn luyện và hoạt động thao diễn nhằm tuyên truyền cho nông hộ và cán bộ khuyến nông các lợi ích của sấy cơ học so với phơi nắng và các giá trị kinh tế đạt được của việc thực hiện đúng thời điểm và phương pháp thu hoạch Bảng 2 tóm tắt tổng số các khóa huấn luyện và số lượng nông hộ và cán bộ khuyến nông đã tham gia hoạt động này do chương trình CARD tổ chức Tổng cộng đã tổ chức 16 buổi huấn luyện (1 ngày) cho nông hộ và 1 khóa huấn luyện dành riêng cho cán bộ khuyến nông tổ chức ở Cần Thơ (25.07.2008) Cho đến thời điểm này, đã huấn luyện cho 2312 nông
hộ và 300 cán bộ khuyến nông về các vấn đề nứt gãy hạt và kiểm soát chất lượng lúa gạo trong quá trình thu hoạch và sau thu hoạch (Bảng 2) Như vậy mục tiêu huấn luyện cho 1800 nông hộ và cán bộ khuyến nông như dự án đề ra (520 nông hộ/năm và 39 cán bộ khuyến nông/năm) đã hoàn thành
Nội dung huấn luyện gồm có 3 bài giảng về thời điểm thu hoạch, phương pháp thu hoạch và
kỹ thuật sấy, sau đó là các buổi trình diễn máy sấy và máy gặt đập liên hợp (Hình 6-10) Các học viên tham quan máy sấy tại địa phương và tổ chức thảo luận ngay sau đó Sau mỗi buổi huấn luyện, học viên cùng thảo luận các vấn đề liên quan (Hình 11-13) Tài liệu cho các hoạt động khuyến nông là sách mỏng trình bày các kết quả đạt được của đề án (Hình 14)
Trang 13Bảng 2 Số lượng nông hộ và cán bộ khuyến nông được huấn luyện ở các mùa vụ khác nhau
Số lượng nông hộ được huấn luyện
Số lượng cán bộ khuyến nông tham gia
1 Kiên Giang
(Mùa khô)
Tân Hiệp Giồng Riềng
25/02/2007 26/02/2007
Cờ Đỏ Thốt Nốt Vĩnh Thạnh
28/7/2007 29/7/2007 22/9/2007 23/9/2007 29/9/2007 30/9/2007
Hình 6 Đông đảo đại biểu tham dự huấn
luyện tại Hội trường ngày 25.02.2007
Hình 7 Tham quan máy gặt đập liên hợp tại HTX Tân Phát A sau buổi huấn luyện 25.02.2007
Trang 14Hình 8 TS Trương Vĩnh trình bày bài học
thu hoạch tại huyện An Biên, Kiên Giang
Trang 15Hình 12 Thảo luận trong hội thảo tại huyện Cờ Đỏ 24.07.2008
Hình 13 Thảo luận sau buổi trình diễn máy sấy và máy gặt đập liên hợp
Trang 16Hình 14 Các đại biểu đang đọc tờ rơi phân phát trong hội thảo tổ chức tại Giồng Riềng, Kiên Giang ngày 12.07.2008
8.2 Các chuyến học tập tham quan cho nông hộ và nhà cung cấp dịch vụ
Các chuyến học tập tham quan được tổ chức trong khuôn khổ các chương trình huấn luyện đã liệt kê trong Bảng 2 Một số hình ảnh của hoạt động này được trình bày trong Hình 15-18
Hình 15 Tham quan học tập ngày 15/12/07
(thảo luận)
Hình 16 Tham quan học tập ngày 15/12/07 (trình diễn máy sấy)
Trang 17Hình 17 Tham quan học tập ngày 16/12/07 (Cơ
sở máy gặt đập liên hợp Hoàng Thắng)
Hình 18 Tham quan học tập ngày 16/12/07 (Trình diễn máy gặt đập liên hợp Hoàng Thắng)
8.3 Hoạt động trình diễn
Trong ba năm qua, các trang thiết bị sau thu hoạch do dự án tài trợ như máy gặt xếp dãy, máy suốt lúa, gặt đập liên hợp, máy sấy được lắp đặt ở các hợp tác xã tham gia dự án nhằm trình diễn lợi ích của các phương pháp thu hoạch và sấy cải tiến so với các phương pháp truyền thống Hình 19-22 minh họa một số máy thu hoạch và máy sấy do dự án tài trợ Các trang thiết bị này được sử dụng trong các buổi thao diễn sau mỗi buổi hội thảo và các tiểu nông hộ cũng có thể tiếp cận các máy móc này dưới sự quản lý của hợp tác xã thành viên dự án Sự sẵn có của các trang thiết bị đã tăng cường tác động của công nghệ sau thu hoạch phù hợp mà tiểu nông hộ có thể ứng dụng được
Hình 19 Máy sấy SDG-4 (đảo chiều gió, 4-tấn/mẻ) với bộ thu năng lượng mặt trời (phát triển tại NLU đầu năm 2007) Hệ thống sấy này đã được lắp đặt tại HTX Gò Gòn, tỉnh Long An
Trang 18Hình 21 Máy sấy thí nghiệm đảo chiều 1 tấn: thổi từ dưới lên và từ trên xuống
Hình 22 Máy gặt đập liên hợp Nhựt Thành trên đồng ruộng tại HTX Tân Phát
Hình 20 Máy gặt xếp dãy 1.3m tài trợ cho HTX Tân Thới (Cần Thơ)
Trang 198.4 Lắp đặt cối xát và huấn luyện chủ xay/nhân viên điều hành máy xay xát
Để thực hiện các thí nghiệm xay xát, dự án đã lắp đặt một cối cao su tại nhà máy Hùng Lợi (Hình 23) Nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương, nhà cung cấp dịch vụ, chủ
máy xay, cán bộ khuyến nông và nông hộ về kỹ thuật xay xát, dự án đã tổ chức hội thảo Hiện
trạng xay xát và biện pháp nâng cao chất lượng xay xát tại ĐBSCL”vào ngày 6.12.2008 tại
Hội trường UBND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang với sự tham dự của khoảng 70 chủ máy xay, nhà cung cấp dịch vụ và công ty cơ khí chế tạo
Hình 23 GS Bhesh Bhandari và PGS.TS Trương Vĩnh trao đổi với chủ nhà máy xay Hùng Lợi, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang về vấn đề hợp tác thực hiện thí nghiệm xay xát
Trong khuôn khổ của chương trình CARD 026/VIE-05 về điều tra, kiểm soát sự nứt hạt trên
đồng ruộng và sau thu hoạch ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), hội thảo “Hiện trạng
xay xát và biện pháp nâng cao chất lượng xay xát tại ĐBSCL” đã được tổ chức vào ngày
6.12.2008 tại Hội trường Ủy ban Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Nội dung Hội thảo tập trung vào báo cáo hiện trạng xay xát theo kết quả điều tra đã thực hiện trong 2 năm (2006-2008), giới thiệu các trang thiết bị và dây chuyền xay xát tiên tiến và đánh giá hiệu quả đầu tư, phương án hiện đại hóa hệ thống xay xát gạo ở ĐBSCL (Hình 24-28) Các vấn đề thảo luận xoay quanh các khó khăn của chủ nhà máy xay và các biện pháp nâng cao chất lượng xay xát Hội thảo đã qui tụ được sự tham gia, trình bày báo cáo và trao đổi kinh nghiệm của các chuyên gia bao gồm các chủ nhà máy xay, các nhà cung cấp dịch vụ, cán bộ khuyến nông và cán bộ của ĐH Nông Lâm TP.HCM Các đại biểu đã trình bày và thảo luận hiện trạng hệ thống xay xát ở ĐBSCL, đặc biệt là của huyện Tân Hiệp là nơi có nhiều nhà máy xay xát tại tỉnh Kiên Giang Báo cáo sơ bộ nội dung hội thảo này đã được đề cập trong
MS 11
Trang 20Hình 24a Hệ thống xay xát công suất 7 tấn/giờ sử dụng trong thí nghiệm xay xát
Hình 24b Cối cao su do dự án CARD hỗ trợ lắp đặt
Trang 21Hình 25 Hội thảo xay xát tổ chức tại huyện Tân
Hiệp, Kiên Giang vào tháng 12.2008
Hình 26 Thảo luận trong hội thảo
Hình 27 Các đại biểu tham dự hội thảo Hình 28 Tham quan nhà máy xay xát ở Tân Hiệp
9 Lợi ích vật chất và tài chính
Để đạt được các lợi ích vật chất và tài chính cho nông hộ bằng cách kiểm soát nứt hạt gạo đề
án đã đề ra các biện pháp do nông hộ, trung tâm khuyến nông thực hiện như trình bày ở Bảng
3
Trang 22Bảng 3 Biện pháp thực hiện để đặt được các lợi ích vật chất và tài chính trong sản xuất lúa gạo
Kỹ thuật
Thiết lập nhiều HTX điểm cho huấn luyện Cấp tỉnh Khuyến
nông Tuyên truyền thông tin kiểm soát nứt hạt gạo
9.1 Dữ liệu tích hợp tổn thất trong thu hoạch và sau thu hoạch của lúa gạo và các
thông tin về việc sử dụng máy thu hoạch và máy sấy
Trên cơ sở các thí nghiệm và điều tra đã thực hiện trong dự án CARD026/VIE05, Bảng 4
trình bày các số liệu tổn thất hạt và tổn thất giá trị trung bình tại mỗi giai đoạn trong toàn bộ
quá trình sản xuất từ thu hoạch đến xay xát Nhờ sử dụng các công nghệ mới như máy gặt
đập liên hợp, máy sấy và hệ thống xay xát cải tiến, tổng tổn thất lúa gạo được giảm đáng kể
như bảng phân tích trình bày sau đây
Bảng 4 Đánh giá tổng kết tổn thất trong thu hoạch và sau thu hoạch (chuyển thành tổn thất hạt
= kg/100 kg hạt khô)
Thời điểm
thu hoạch
Phương pháp thu
hoạch
Tuốt lúa Phơi nắng Sấy lúa Xay xát Tổng
tổn thất,
% Chuỗi
Cải tiến (0%)
Thông thường (4%)
15.2 14
Note: VL= Value losses, GL= Grain losses
Trang 23Thời điểm
thu hoạch
Phương pháp thu
hoạch
Tuốt lúa Phơi nắng Sấy lúa Xay xát Tổng
tổn thất,
% Chuỗi
sai (VL=5%)
Thông thường (4%)
sai (VL=5%)
Cải tiến (0%)
11.2 28
Bảng 4 trình bày 28 chuỗi sản xuất có thể xảy ra khi duy trì phương pháp truyền thống hay
ứng dụng phương pháp mới trong 1 bước hay toàn bộ quy trình sản xuất lúa gạo từ thu hoạch
đến xay xát Tổng tổn thất thu hoạch là tổng số của tổn thất từng bước là, thời điểm thu
hoạch, phương pháp thu hoạch, tuốt lúa, sấy (phơi nắng hay sử dụng máy sấy) và xay xát Ví
dụ, tổn thất cao nhất thuộc về chuỗi số 8 với 20.6% tổng tổn thất trong đó thu hoạch trễ hạn
3.5%, cắt tay (2.9%), tuốt lúa (1.5%), phơi đồng (8.7%) và xay bằng hệ thống thông thường
(4%) Ngược lại, nếu áp dụng các kỹ thuật mới cho toàn bộ quy trình, tổng tổn thất giảm chỉ
còn 2.7% như trình bày trong chuỗi 6 (thu hoạch đúng hạn, gặt đập bằng máy, không tuốt
lúa, kỹ thuật sấy đúng và áp dụng hệ thống xay xát cải tiến) Khi áp dụng bất kỳ cơ hội can
thiệp nào trong bất kỳ công đoạn nào cũng làm giảm tổng tổn thất thu hoạch một cách đáng
kể Ví dụ, nếu thay thế phơi nắng ở chuỗi 8 bằng sấy lúa đúng kỹ thuật có thể giảm tổng tổn
thất thu hoạch còn 15.9% Bảng 6 có thể được sử dụng để làm bảng tham khảo nhằm ước
tính tỉ lệ tổn thất có thể ngăn chặn được khi nông hộ và HTX muốn nâng cấp kỹ thuật sản
xuất lúa gạo của mình
- Thời điểm thu hoạch: Số liệu thí nghiệm và điều tra khảo sát tại hai HTX Tân Phát
A-Kiên Giang và Tân Thới 1-Cần Thơ cho thấy thu hoạch trễ gây ra tổn thất giá trị trung bình là
3.5% Khoảng 70% nông hộ ở ĐBSCL đã thu hoạch trễ hạn (theo báo cáo
MS7-CARD026/VIE05)
- Phương pháp thu hoạch: Có thể ước tính số lượng thu hoạch bằng máy ở ĐBSCL tính đến
năm 2009 từ số liệu của các tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp và Long An Ở Cần Thơ, hiện có
khoảng 165 máy gặt xếp dãy và 170 máy gặt đập liên hợp chiếm khoảng 30% ruộng lúa trong
đó 10% công tác thu hoạch thực hiện bằng máy gặt xếp dãy (Báo cáo của tỉnh Cần Thơ năm
2009) Với diện tích gieo trồng hằng năm 216000 ha, diện tích ruộng lúa thu hoạch bằng
máy ở Cần Thơ là 257 ha/máy/năm Ở Đồng Tháp, số lượng máy gặt xếp dãy và gặt đập liên
Trang 24hợp ước tính lần lượt là 900 và 285 thực hiện cơ giới hóa thu hoạch 42% ruộng lúa, trong đó 20% ruộng lúa thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp (Báo cáo của tỉnh Đồng Tháp năm 2009) Diện tích trung bình ruộng lúa thu hoạch bằng máy ở Đồng Tháp là 233 ha/máy/năm Tại tỉnh Long An, số lượng máy gặt xếp dãy là 2846 và máy gặt đập liên hợp là 756 (Số liệu của Công ty Nhựt Thành năm 2009), thực hiện thu hoạch bằng máy khoảng 70% ruộng lúa trong đó 35% được thu hoạch bằng máy gặt xếp dãy Diện tích trung bình ruộng lúa thu hoạch bằng máy ở tỉnh Long An là 180ha/máy/năm tương đương với công suất máy 4ha/ngày Số liệu của tỉnh Long An khá hợp lý và gần với công suất thực tế của một máy gặt đập liên hợp chuẩn (SCH=4ha/ngày) hiện được sử dụng ở ĐBSCL Chọn số liệu này để ước tính tỉ lệ ruộng lúa được thu hoạch bằng máy ở ĐBSCL như trình bày ở Bảng 5
Bảng 5 Số lượng máy gặt đập liên hợp và máy sấy và hiện trạng cơ giới hóa thu hoạch ở
DT trồng lúa, 2008-2009, (1000ha)
Cắt lúa bằng máy
2009 a , % Máy gặt XD GDLH Máy Máy sấy b
Máy gặt
XD Máy GDLH
Máy sấy b MRD 40,263 3357 16% 1868 33 6200 3399 989 (2300) 6600
Nguồn: Dien dan Khuyen nong @ Cong nghe Trung tam khuyen nong Quoc gia-3/2008,, Nhựt Thành Company
2009, Tống Hữu Thuẫn 2006, Báo cáo Bộ NN-PTNT và Danida (2004), CARD data collection 2009 (a): Dữ
liệu tính trên khả năng cắt 180ha/năm (equivalent to Long An data that 70% of rice field cutting by machine in 2009) (b) Máy sấy tĩnh vỉ ngang.
Theo số liệu ở Bảng 5, tỉ lệ ruộng lúa thu hoạch bằng máy ở ĐBSCL trong năm 2009 là 16%, như vậy 84% được gặt thủ công Số lượng máy thu hoạch đã tăng từ 1% năm 2006 lên đến 16% trong năm 2009 do nhiều yếu tố tác động trong đó có tác động phần nào của chương trình CARD Để minh chứng tác động của chương trình CARD lên sự phát triển của thu hoạch bằng máy bằng số liệu cụ thể là bất khả thi Tuy nhiên có thể ước lượng ở mức độ HTX và các tỉnh thành liên quan mà chương trình CARD thực hiện dự án
- Sấy: với tổng số hơn 660 máy sấy tĩnh vỉ ngang hiện đang được sử dụng ở ĐBSCL có khả
năng sấy khoảng 33% lúa (Báo cáo của chương trình CARD026/VIE05 năm 2009) Từ năm
2006 đến 2008, số lượng máy sấy tĩnh vỉ ngang tăng chỉ 400 máy Tác động của chương trình CARD này không nhất thiết chỉ là số lượng máy sấy mà là kỹ thuật sấy để tăng hiệu quả sấy
Trang 25cho thí nghiệm và trình diễn cũng như sử dụng các máy sấy này để huấn luyện nông hộ phương pháp sấy đúng kỹ thuật nhằm giảm tỉ lệ nứt gãy hạt
9.2 Đánh giá lợi nhuận thu được của khu vực HTX Tân Phát A
HTX Tân Phát A có 478 ha ruộng lúa và thực hiện hai mùa vụ trong năm Do đó, tổng diện tích trồng lúa trong năm là 956ha Tính cho thời gian hoạt động 45 ngày/năm của một máy gặt (180ha/năm/máy gặt), chỉ cần 5.3 máy gặt đập liên hợp để đáp ứng công tác thu hoạch cho diện tích gieo trồng này Tuy nhiên, thời gian thu hoạch ở đây thông thường kéo dài thêm
5 ngày mỗi mùa như trình bày ở bảng 6 là các số liệu tổng hợp từ các dữ liệu thí nghiệm và khảo sát của dự án Ví dụ, HTX Tân Phát A trong mùa khô gieo giống OM2517, IR50404 và AG24, thời gian thu hoạch tối ưu là 86-88 ngày Tương tự trong mùa khô với giống OM2517
và OM4498, thời gian thu hoạch tối ưu lại là 86-91 ngày Tập quán ở ĐBSCL hiện nay là
gieo hạt cùng thời điểm để tránh rầy nâu (Nivaparvata lugens)
Bảng 6 Thời điểm thu hoạch tối ưu của một số giống gạo ở các mùa vụ khác nhau
Giống Mùa vụ Thời điểm thu
hoạch theo nông
hộ
Thời điểm thu hoạch theo khuyến cáo của TTKN
Thời điểm thu hoạch tối ưu theo thí nghiệm
9.3 Lợi nhuận từ việc áp dụng cơ giới hóa phương pháp thu hoạch:
Tại thời điểm năm 2006 HTX Tân Phát A, tỉnh Kiên Giang không có một máy thu hoạch nào Tuy nhiên, đến năm 2008 HTX này đã có 4 máy gặt xếp dãy và 16 máy gặt đập liên hợp trong đó có 1 máy là do chương trình CARD hỗ trợ Nông hộ trong HTX đã có nhận thức về lợi ích của việc áp dụng phương pháp thu hoạch phù hợp sau khi nhận được máy gặt đập liên hợp do Chương trình CARD hỗ trợ cũng như sau khi đã tham dự các buổi huấn luyện của chương trình Từ đó, các nông hộ đã quyết định mua thêm 15 máy gặt đập liên hợp trong vòng 2 năm qua 2006-2008 Nếu tính 2 máy gặt xếp dãy tương đương với 1 máy gặt
Trang 26đập liên hợp thì sau 2 năm HTX đã có 18 máy thu hoạch là số lượng gần như đáp ứng đủ yêu cầu cần có như đã tính toán ở phần trên Có nghĩa là tính toán cho mỗi mùa vụ, trong vòng 5 ngày trong khoảng thời gian thu hoạch, các máy thu hoạch của HTX có thể thực hiện thu hoạch 75% (=18/24) diện tích ruộng lúa của HTX, và 25% ruộng lúa còn lại có thể thu hoạch bằng cách thủ công hay thuê máy thu hoạch bên ngoài HTX Cũng có thể nói rằng ít nhất 75% ruộng lúa của HTX được thu hoạch đúng thời điểm Theo số liệu điều tra khảo sát của chương trình CARD026/VIE05 năm 2007 (Báo cáo Hội thảo CARD026/VIE05 năm 2008)
có đến 70% nông hộ ở ĐBSCL thu hoạch trễ hạn Như vậy, có thể xem hiện trạng trước khi thực hiện dự án (không có máy thu hoạch), HTX Tân Phát A cũng thu hoạch trễ hạn 70% Nói cách khác, đã có một sự biến chuyển về công suất thu hoạch ở HTX từ thu hoạch trễ hạn 70% trở nên thu hoạch đúng hạn 75% Sự biến chuyển này là nhờ phần lớn ở tác động của chương trình CARD026/VIE về việc nhận thức của nông hộ thông qua các thí nghiệm trên đồng, tổ chức trình diễn và các hoạt động huấn luyện của dự án Lợi ích từ cải thiện phương pháp thu hoạch như phần tính toán (xem Bảng 1) sau đây là kết quả của việc thu hoạch đúng thời điểm và sử dụng máy gặt đập liên hợp Kết quả này bao gồm 1) Lợi ích của việc giảm tổn thất thu hoạch; 2) Lợi ích của việc giảm chi phí thu hoạch so với thu hoạch thủ công; và 3) Lợi ích từ các hoạt động dịch vụ Cho đến khi nào việc sử dụng máy gặt đập liên hợp trở nên phổ biến rộng rãi thì có thể loại trừ lợi ích từ các hoạt động dịch vụ vì nông hộ có thể thuê bên ngoài thực hiện
+ Lợi nhuận từ việc giảm các tổn thất thu hoạch:
Đặt rHL = giảm tổn thất thu hoạch; Lh1 = các tổn thất xảy ra trước khi thực hiện dự án (không
có máy gặt, thu hoạch trễ); Lh2 = các tổn thất xảy ra sau khi thực hiện dự án (số lượng máy gặt tăng, thu hoạch đúng thời điểm); trong đó rHL = Lh1 – Lh2 , và
Lhl = (70% * 3.5% + (2.9%+1.5%)) = 6.85% và
Lh2 = (25% Lhl + 75% * (1.2%+1.5%)) = 3.74%
Do vậy, tỉ lệ giảm tổn thất thu hoạch là rHL = 3.11%
Giả sử năng suất trung bình lúa là 5 tấn/ha, vậy tổng tỉ lệ giảm tổn thất thu hoạch được (RHL) của HTX trong 1 vụ cho 1 ha lúa là:
RHL = rHL * 5 tấn/ha = 0.156 tấn lúa khô/ha
Tính cho giá lúa năm 2008-2009, 1 kg lúa khô là 4500 VND, giảm tổn thất thu hoạch trên 956ha/năm của HTX sẽ là:
RHLM = RHL * 4500 * 1000 = 700300 VND/ha = 38.9 USD/ha
RHLMT = 956*RHLM = 669.5 triệu VND/năm = 37194 USD/năm (= 3.7 SCH)
Trang 27+ Lợi nhuận từ việc giảm chi phí thu hoạch so với thu hoạch thủ công
Thu hoạch thủ công cần có 40 nhân công để cắt, gom lúa và tuốt lúa cho 4 ha ruộng một ngày tiêu tốn khoảng 2.15 triệu đồng trên cơ sở hệ thống giá của năm 2008 Trong khi đó máy gặt đập liên hợp chỉ cần 3 nhân công làm đầy đủ các công việc như trên với giá chỉ có 1.17 triệu đồng như trình bày trong bảng 7 với các số liệu của Kiên Giang và Cần Thơ
Bảng 7 Ước tính chi phí thu hoạch cho một máy gặt đập liên hợp chuẩn
Note: standard combined-harvester (SCH) is a harvester with price of 180 million VND (10000 USD), capacity of 4ha/day, working 10hrs/day
Vậy, lợi nhuận thu được từ việc giảm chi phí thu hoạch sẽ là:
RHCM = 2.15 – 1.17 = 0.98 triệu VND/ha = 54.4 USD/ha
RHCMT = 0.75*956* RHCM = 702.7 triệu VND/year = 39036 USD/năm (= 4 SCH)
+ Lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ:
Trong tổng cộng thời gian hoạt động ngày, sau 10 ngày phục vụ tại đồng ruộng của HTX, các máy gặt đập liên hợp của HTX có thể phục vụ cho các đồng ruộng bên ngoài HTX Một máy gặt đập liên hợp có thể thực hiện 140 ha/năm (35 ngày/năm * 4 ha/ngày) và thu được khoảng
70 triệu VND/năm (3889 USD/năm) Vậy, lợi nhuận thu được từ các hoạt động dịch vụ của HTX sẽ là RHSMT = 1.26 tỉ VND hay 70000 USD/năm (18*3889 USD/năm) (7 SCH)
9.4 Lợi nhuận từ việc cải thiện phương pháp sấy:
Ở HTX đã có 2 máy sấy vỉ ngang thông thường 4 tấn/giờ (tương đương với 1 máy sấy tỉnh vỉ ngang 8 tấn/giờ) và 1 máy sấy vỉ ngang đảo chiều gió 8 tấn/giờ do chương trình CARD026/VIE05 hỗ trợ trong năm 2006 Năm 2008, HTX đã phát triển thêm 4 máy sấy tỉnh
vỉ ngang đảo chiều gió 8 tấn/giờ Như vậy, HTX có tương đương 6 máy sấy tĩnh vỉ ngang đảo chiều gió Có thể nói trước khi dự án bắt đầu HTX có 1 máy sấy và sau khi thực hiện dự
án, HTX đã có 6 máy sấy Với những hoạt động thí nghiệm và huấn luyện tại đây, dự án đã
có tác động đến nhận thức của các nông hộ trong HTX về lợi ích của việc sử dụng đúng kỹ thuật sấy lúa cơ học so với phơi nắng Lợi nhuận thu được khi ứng dụng kỹ thuật sấy phù hợp bao gồm 1) Lợi nhuận từ việc giảm tổn thất sấy; 2) Lợi nhuận từ chi phí sấy; và 3) Lợi nhuận
từ các hoạt động dịch vụ
Đối với vấn đề sấy, cần quan tâm đến mùa khô và mùa ướt HTX có khoảng 478 ha ruộng lúa (mỗi mùa) Bảng 8 trình bày số lượng máy sấy cần thiết để làm khô lúa thu hoạch
từ 478 ha ruộng
Trang 28Bảng 8 Đặc tính sấy của máy sấy tĩnh vỉ ngang đảo chiều gió
Công suất sấy
Mẻ/vụ [4]
Lượng tấn lúa khô/vụ [5]
Tính cho năng suất lúa 5 tấn/ha, tổng sản lượng lúa của mỗi vụ ở HTX là 2390 tấn (=5* 478) Do vậy, số lượng máy sấy cần có là 5.7 (2390/422.4) Tuy nhiên, do chỉ thu hoạch trong 3 ngày nên thời gian sấy cần thiết để làm khô lúa của HTX trong mỗi mùa ngắn hơn thời gian hoạt động là 4.5 lần Do đó, cần phải có đến 5.7*4.5 (=25.5) hay 26 máy Điều này
có nghĩa là trong mỗi mùa, trong vòng 5 ngày thu hoạch, trước khi dự án bắt đầu các máy sấy của HTX chỉ có thể đáp ứng 3.85% (=1/26) ruộng lúa của HTX, sau khi thực hiện dự án khả năng sấy được nâng lên đáp ứng 23% (=6/26) ruộng lúa, số lúa còn lại có thể sấy bằng máy thuê bên ngoài hoặc phơi nắng Sự khác biệt giữa trước và sau khi thực hiện dự án là sau khi thực hiện dự án đã khuyến khích được các nông hộ trong HTX đầu tư nhiều máy sấy hơn và
sử dụng đúng kỹ thuật sấy lúa
+ Lợi nhuận từ việc giảm tổn thất sấy:
Trước hết, đã loại trừ hoàn toàn các tổn thất sấy gây ra do tập quán phơi đồng Theo báo cáo của HTX trong năm 2008 (Hội thảo của chương trình CARD026/VIE05-2008), không còn nông hộ nào phơi lúa trên đồng Điều này minh chứng cho tác động của dự án và giảm được 8.7% tổn thất giá trị Vì thế, tập quán phơi đồng sẽ không được tính đến trong phần tính toán tổn thất sấy Trong các ước tính sau đây, xem như các nông hộ chỉ sử dụng máy sấy hoặc phơi nắng
Đặt rDL = giảm tổn thất sấy; Ld1 = tổn thất trước khi thực hiện dự án; Ld2 = tổn thất sau khi thực hiện dự án; trong đó rDL = Ld1 – Ld2 , và
Ldl = phơi nắng + sấy sai = (99% * 4% + 1%*5%) = 4.01% và
Ld2 = phơi nắng = (100%-23%)*4% = 3.08%
Do đó, tỉ lệ giảm tổn thất sấy sẽ là rDL = 0.93%
Giả định rằng sản lượng trung bình là 5 tấn/ha, tổng tổn thất sấy giảm được của HTX cho 1 ha trong 1 mùa vụ là:
RDL = rDL * 5 tấn/ha = 0.0465 tấn lúa khô/ha
Đối với hệ thống giá năm 2008-2009, 1 kg lúa khô là 4500 VND, vậy tổn thất sấy giảm tính cho 956 ha/năm của HTX sẽ là:
RDLM = RDL * 4500 * 1000 = 209250 VND/ha = 11.6 USD/ha
RDLMT = 956*RDLM = 200 triệu VND/year = 11114 USD/năm (= 3 RFD)
Trang 29+ Lợi nhuận từ việc giảm chi phí sấy so với phơi nắng:
Bảng 9 là chi phí sấy từ các phương pháp sấy khác nhau hiện đang sử dụng ở ĐBSCL
Sấy cơ học sử dụng trấu làm chất đốt sẽ làm giảm chi phí sấy so với phơi nắng trong mùa
mưa Không khuyến khích sử dụng than đá để sấy Đối với thời tiết thông thường trong mùa
mưa, sấy lúa bằng máy tiết kiệm được 61VND/kg (3.9USD/tấn) lúa khô Đối với 1 ha có
năng suất 5 tấn/ha thì tiết kiệm được RDCM1 = 305000 VND/ha (19.5 USD/ha)
Vậy, lợi nhuận thu được từ việc giảm chi phí sấy trong mùa mưa sẽ là:
RDCMT1 = 0.23*478* RHCM1 = 33.6 triệu VND/năm = 2150 USD/năm
Trong mùa nắng, sấy cơ học làm tăng chi phí sấy so với phơi nắng 9 VND/kg
(0.5USD/tấn) Tổn thất chi phí sấy sẽ là RDCM2 = 45000 VND/ha (2.5 USD/ha) đối với năng
suất 5 tấn/ha
Thất thoát từ việc tăng chi phí sấy trong mùa khô sẽ là:
RDCMT2 = 0.23*478* RHCM2 = 4.95 triệu VND/năm = 275 USD/năm
Do vậy, tổng lợi nhuận từ chi phí sấy so với phơi nắng sẽ là:
RDCMT = RDCMT1 - RDCMT2 = 28.6 triệu VND/năm = 1870 USD/năm (1/2 RFD)
Bảng 9 Chi phí sấy (2006) cho các phương pháp sấy khác nhau
RFD (SRA-8) (đảo chiều gió, 8 tấn/mẻ), đốt trấu 79 4.9
RFD (SRA-8) (đảo chiều gió, 4 tấn/,mẻ), than đá 130 8.1
Phơi nắng, mùa mưa, thời tiết bình thường 140 8.8
Nguồn: Phan Hieu Hien et al 2009, CARD026/VIE05 final workshop 2009
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động dịch vụ:
Trong tổng thời gian hoạt động 45 ngày, sau 10 ngày phục vụ đồng ruộng của HTX, các
máy sấy có thể sấy lúa ở những nơi khác ngoài HTX Một máy sấy có thể đáp ứng cho
133ha/ năm (35 ngày/năm * 3.8ha/ngày) và thu được khoảng 16.6 triệu VND/năm (924
USD/năm) (1 mẻ kiếm được 200.000 VND) Vậy, lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ của
HTX sẽ là RDSMT = 99.7 triệu VND hay 5500 USD/năm (6*924 USD/năm) (1.5 RFD)
9.5 Tổng kết lợi nhuận đạt được của HTX Tân Phát A từ dự án
Bảng 9 tóm tắt các ợi nhuận đạt được của HTX Tân Phát A nhờ cải thiện các khâu thu hoạch
và sấy lúa như tính toán ở trên Khoảng thời gian từ 2006 đến 2008 được xem như là khoảng
thời gian phát triển để dự án thu nhận kiến thức và kinh nghiệm từ dự án CARD nhằm cải
thiện tập quán thu hoạch và phương pháp sấy giúp nâng cao sản lượng và chất lượng hạt Từ
thời điểm 2009 này trở đi, HTX sẽ thu được lợi nhuận mỗi năm như trình bày trong Bảng 10
mà không cần phải lắp đặt thêm trang thiết bị Đầu tư hiện tại có thể đáp ứng 75% nhu cầu
thu hoạch bằng máy (18 máy gặt) và 23% nhu cầu sấy (6 máy sấy) cho các đồng lúa của
HTX với các trang thiết bị tự có chỉ trong vòng 5 ngày của vụ thu hoạch Đối với thời gian
Trang 30hoạt động 22-23 ngày mỗi vụ, 18 máy gặt có thể thu hoạch 3 lần ruộng lúa HTX (3*478
ha/vụ) và 6 máy sấy có khả năng sấy tất cả lúa của HTX 478ha/vụ
Bảng 10 Lợi nhuận ước tính mỗi năm từ việc nâng cao kỹ thuật thu hoạch và sấy ở HTX Tân
11114
1870
5500
3 Dryers 0.5 Dryers 1.5 Dryers
Trong các tính toán lợi nhuận ở các phần trên, HTX đạt 100% lợi nhuận từ việc giảm chi phí
sản xuất và hoạt động dịch vụ (RHCMT, RHSMT , RDCMT, and RDSMT) Tuy nhiên, HTX không
thể đạt 100% lợi nhuận của các thành phần tổn thất (RHLMT) bởi vì hầu hết chỉ giảm được các
tổn thất giá trị (chất lượng) hơn là tổn thất hạt (số lượng) Đối với hệ thống mua bán hiện nay
ở ĐBSCL, ai sở hữu gạo trắng sẽ thu được lợi nhuận từ các tổn thất giá trị Trong thực tế,
thương lái và các chủ nhà máy xay sở hữu gạo trắng và nông hộ sở hữu lúa khô Do đó, mặc
dù nông hộ là người cải thiện nâng cao công tác thu hoạch và sấy, thương lái và chủ xay lại là
những người thu được lợi nhuận từ việc giảm tổn thất giá trị (thu hồi gạo nguyên nhiều hơn)
Tình trạng này xảy ra do hiện tại không có sự khác biệt rõ rệt về giá cả giữa lúa khô tốt và
xấu Năm 2008, giá lúa làm khô tốt (sấy đúng, ẩm độ 14% cơ sở ướt) cao hơn lúa xấu (làm
khô không đúng hay phơi nắng, ẩm độ 17%) chỉ là 50VND/kg 50 VND/kg tương đương với
chi phí sấy lúa đạt 14% ẩm độ Đó là do thực tế các nhà cung cấp dịch vụ khống chế giá lúa
khô và ước cộng với chi phí dịch vụ Nói cách khác, người nông dân không hưởng được lợi
từ việc nâng cao chất lượng hạt thông qua cải tiến kỹ thuật canh tác
Xem xét Bảng 4 ta thấy, thay đổi từ hệ thống sản xuất truyền thống thu hoạch trễ (tổn thất giá
trị=3.5%) => thu hoạch bằng tay (tổn thất hạt=2.9%) => tuốt lúa (TTGT = 1.5%) và phơi
nắng (TTGT=4%) sang hệ thống cải tiến thu hoạch đúng (TTGT=0) => gặt máy (TTGT=
1.5%; TT hạt = 1.2%) => sấy đúng (TTGT=0), tổn thất có thể giảm từ 11.9% xuống 2.7%
Trong tỉ lệ giảm tổn thất 9.2% có đến 7.5% tổn thất giá trị chiếm 7.5/9.2=81.5% tổng tổn
thất Do đó, người nông dân thật sự chỉ thu lợi được 19.5% từ việc giảm tổn thất này Giá trị
của RHLMT và RDLMT trong Bảng 7 sẽ là 7253 USD (< 1 máy gặt) và 2167 USD (< 1 máy
sấy) Bảng 11 trình bày tổng lợi nhuận của HTX Tân Phát A
Trang 31Bảng 11 Các khả năng thu lợi nhuận của HTX Tân Phát A
Mục thu Thành
phần lợi nhuận
Giá trị thu lợi, USD
(1) (2) (3) (4)
RHLMT 37,194 37,194 7,253 7,253
RHCMT 39,036 39,036 39,036 39,036 Thu hoạch
(1): Tính toán lý thuyết cho tất cả các thành phần
(2): Tính toán lý thuyết không có thành phần dịch vụ
(3): Tất cả các thành phần theo hệ thống thương mại hiện tại
(4): Tất cả các thành phần ngoại trừ dịch vụ theo hệ thống thương mại hiện tại
Đối với nông hộ thu lợi từ việc giảm được các tổn thất nhờ kỹ thuật thu hoạch và sau thu hoạch nâng cao, nông hộ cần sở hữu gạo trắng Một mô hình gọi là “mô hình chuỗi quản lý gạo tích hợp” từ giai đoạn thu hoạch đến xay xát cho chất lượng gạo tốt hơn và nông hộ có thu nhập cao hơn (Hình 29) có thể giúp nông hộ sở hữu gạo trắng, có nghĩa là nông hộ sẽ thu lợi được từ việc giảm tổn thất thu hoạch
Mục tiêu của mô hình quản lý lúa gạo là mang lại lợi ích cho nông hộ từ những tiến bộ kỹ thuật sau thu hoạch Nông hộ thường không có đủ nguồn lực để mua sắm các thiết bị gặt đập, máy sấy hay máy xay Chỉ có nhà cung cấp dịch vụ là có thể đầu tư vào mua máy gặt đập liên hợp và máy sấy Khi các kỹ thuật này được cải tiến, lợi ích cho nhà cung cấp dịch vụ lớn hơn
là cho nông hộ Thực tế là các nhà cung cấp dịch vụ kiểm soát giá lúa tươi và lúa khô ngoài phí dịch vụ Đề án đề xuất một mô hình hợp tác xã mà ở đó nông hộ chung vốn để điều hành chuỗi sau thu hoạch lúa gạo thông qua liên minh hợp tác xã Trong hệ thống này, hợp tác xã
sẽ đủ lực để đầu tư mua máy gặt đập liên hợp, máy sấy và quản lý các thiết bị này Do đó lợi ích từ tiến bộ kỹ thuật sẽ đến được với nông dân thông qua hợp tác xã Trong đề án này, chúng tôi đã thử nghiệm tích hợp quá trình thu hoạch và sấy Tuy nhiên, một công đoạn quan trọng nữa cần hoàn thành trong xử lý sau thu hoạch là xay xát Công đoạn này rất quan trọng
vì sản xuất ra sản phẩm cuối cùng là gạo xát trong chuỗi sau thu hoạch lúa gạo Lợi ích mang lại sẽ cao hơn nếu nông hộ có thể quản lý được hoạt động xay xát để sản xuất ra gạo trắng
Mô hình này sẽ thực hiện được nếu liên minh hợp tác xã cùng đầu tư và quản lý dây chuyền xay xát Dự án sẽ thực hiện so sánh chi phí sản xuất giữa hệ thống kiểu hiện tại và hệ thống
Trang 32cải tiến Chi tiết về mô hình này sẽ được báo cáo khi hoàn tất thí nghiệm xay xát ở mục tiêu
2
Hình 29 Đề xuất Mô hình chuỗi quản lý lúa gạo tích hợp
Năm 2006, số lượng máy sấy ở ĐBSCL là 6200 máy Hầu hết các máy sấy này được lắp đặt tại nhà nông hộ Năm 2009, số máy sấy chỉ tăng thêm 400 máy trong vòng 3 năm qua nâng tổng số máy sấy lên 6600 máy (Bảng 4) Bảng 9 cho thấy trong cấu phần lợi nhuận thu được
từ sấy lúa, lợi nhuận từ tổn thất sấy là cao nhất Tuy nhiên nông hộ không thu được lợi nhuận này bởi vì họ không sở hữu gạo trắng như đã phân tích ở trên Điều đó giải thích tại sao ở giai đoạn này, số lượng máy sấy tăng từ từ Để tăng nhanh, phải lắp đặt máy sấy ở các nhà máy xay xát hoặc quan tâm đến mô hình trên
9.6 Đánh giá tổng lợi nhuận cho một tỉnh hay ĐBSCL
Trong Bảng 4, tỉ lệ giảm tổn thất tại mỗi giai đoạn được ước tính trên số liệu thực tế Ví dụ, thu hoạch đúng hạn có thể làm giảm 3.5% thất thoát gây ra do thu hoạch trễ Hệ thống sản xuất gạo truyền thống và hệ thống nâng cao để xử lý hạt trong và sau thu hoạch được trình bày như sau:
(1) Hệ thống truyền thống: - Thu hoạch trễ => Gặt xếp dãy/thủ công => Tuốt lúa => Phơi nắng => Xay xát sử dụng hệ thống thông thường
(2) Hệ thống tiên tiến: - Thu hoạch đúng hạn => Gặt bằng máy => Sấy cơ học => Xay xát sử dụng hệ thống cải tiến
Harvesters -Dryers
Milling plant Storage
Market
Benefit
(Low)
Benefit (high)
Capital
Capital line
Trang 33Trên cơ sở các thí nghiệm xay xát thực hiện tại nhà máy xay xát công suất 7 tấn/ha ở tỉnh Kiên Giang, hệ thống xay xát cải tiến làm tăng tỉ lệ thu hồi gạo nguyên 12-14% so với hệ thống sản xuất gạo truyền thống Giả định rằng 3% thất thoát gạo nguyên tương đương với 1% tổn thất hạt, vậy hệ thống cải tiến làm giảm 4% tổn thất hạt trong giai đoạn xay xát so với
hệ thống truyền thống (Bảng 3) Theo lý thuyết, hệ thống cải tiến sẽ làm giảm tổn thất của hệ thống xay xát truyền thống từ 15.9% xuống còn 2.7% Đây thực sự là một lợi nhuận to lớn nếu như toàn ĐBSCL áp dụng hệ thống xay xát tiên tiến này Ngoài ra, cần phải có khoàng
21000 máy sấy (máy sấy tĩnh vỉ ngang đảo chiều gió) và 20000 máy gặt đập liên hợp (SCH) mới đáp ứng được hệ thống sản xuất tiên tiến Không kể đến con số lợi nhuận từ việc cải thiện kỹ thuật xay xát, giảm được 9% tổn thất từ các phương pháp thu hoạch và sấy đúng giúp tiết kiệm 800 triệu USD/năm cho ĐBSCL
Trong 13 tỉnh ở ĐBSCL, chương trình CARD026/VIE05 đã thực hiện các thí nghiệm và hoạt động huấn luyện tại các tỉnh Long An, Cần Thơ và Kiên Giang là 3 trong 4 tỉnh có tỉ lệ cơ giới hóa thu hoạch hàng đầu ở ĐBSCL năm 2009 (Bảng 5) Các tỉnh này đã có tỉ lệ tăng trưởng đáng kể các máy gặt đập liên hợp từ năm 2006 đến năm 2009 Nhờ vậy, tổng số máy gặt đập liên hợp ở ĐBSCL đã tăng từ 33 máy năm 2006 lên đến 2300 máy năm 2009 Các con số này hàm ý tác động của dự án này đến tỉ lệ cơ giới hóa thu hoạch lúa Ngoài chương trình CARD, các chương trình khác như “hội thi máy gặt đập liên hợp” được Bộ NN & PTNT tổ chức hàng năm từ 2007 cũng góp phần tác động làm gia tăng số lượng máy gặt đập liên hợp ở ĐBSCL Do đó, khá khó khăn để xác định tỉ lệ tác động của chương trình CARD đối với quá trình cơ giới hóa thu hoạch và sau thu hoạch lúa gạo ở ĐBSCL Tuy nhiên, chỉ có chương trình CARD tổ chức các hoạt động cho nông hộ về vấn đề nứt gãy hạt (tổn thất giá trị) do thu hoạch trễ hạn, phơi nắng hay sấy lúa không đúng kỹ thuật gây ra
Kiên Giang là tỉnh mà chương trình CARD đã tổ chức hơn 10 buổi huấn luyện tại tất cả các huyện với hơn 1200 nông hộ đã qua huấn luyện Tại tỉnh Kiên Giang, năm 2006 chỉ có 16 máy gặt xếp dãy và không có máy gặt đập liên hợp nào Tuy nhiên, đến năm 2009 số lượng máy gặt gia tăng đáng kể, tỉnh đã lắp đặt hơn 800 máy gặt đập liên hợp và 168 máy gặt xếp dãy Tỉ lệ cơ giới hóa thu hoạch lúa gia tăng từ 0% năm 2006 lên 27% năm 2009 tại Kiên Giang Tính toán tương tự như đã trình bày cho HTX Tân Phát A, từ năm 2009 trở đi tỉnh Kiên Giang có khả năng thu được 4.4 triệu USD từ việc giảm các tổn thất và tiết kiệm được
từ chi phí thu hoạch là 12.9 triệu USD so với năm 2006
10 Kết luận
Theo quan điểm của chúng tôi, đề án này đã đạt được mục tiêu đề ra về thẩm định các phương pháp thu hoạch, sấy và xay xát cải tiến Lợi ích thực sự đã được minh chứng cho nông hộ thấy thông qua các hợp tác xã bằng các hoạt động huấn luyện, tham quan và hội thảo Các số liệu định lượng về tác động của dự án đã được trình bày trong báo cáo MS11 dựa vào kết quả khảo sát nông hộ Đề án đã đạt được các kết quả quan trọng mang lại lợi ích cho tiểu nông hộ
Trang 3411 Phụ lục
Phụ lục 1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỉ lệ nứt gãy hạt và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên ở ĐBSCL
Phụ lục 2 Tối ưu hóa sấy lúa bằng phương pháp bề mặt đáp ứng RSM
Phụ lục 3 Báo cáo kỹ thuật các thí nghiệm xay xát
3a Thu thập dữ liệu tổn thất xay xát
3b Thí nghiệm trên hệ thống xay xát 1 tấn/giờ
3c Thí nghiệm trên hệ thống xay xát 7 tấn/giờ
Trang 3533
Phụ lục 1 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến sự nứt gãy gạo và tỉ lệ thu
hồi gạo nguyên tại ĐBSCL
TÓM TẮT
Thu hoạch đúng thời hạn chiếm vị trí quan trọng trong việc kiểm soát sự nứt gãy hạt gạo Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm sẽ làm giảm giá trị và thu nhập của nông hộ Các thí nghiệm trên đồng được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của thời gian thu hoạch xung quanh thời điểm chín sinh lý của hạt đến độ nứt gãy và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của 7 giống gạo phổ biến (OM1490, OM2718, OM2517, OM4498, AG24, IR50404 và Jasmine) tại 3 địa điểm khác nhau trong 2 năm canh tác (2006-2008) ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Kết quả cho thấy thời gian thu hoạch và giống gạo rất ảnh hưởng đến độ nứt gãy gạo Xu hướng chung là tỉ lệ hạt nứt tăng khi thời gian thu hoạch trễ hạn so với ngày chín sinh lý dự tính Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên cũng theo xu hướng trên khi thu hoạch trễ Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm trung bình 11.3% và lên đến 50% nếu bị thu hoạch trễ từ 4-6 ngày Xu hướng này như nhau đối với cả mùa khô và mùa mưa Tỉ lệ gạo gãy giữa các giống gạo chênh lệch nhiều (0.9 đến 60.5%) vào ngày thứ 6 sau ngày chín sinh lý cho thấy có thể lựa chọn giống gạo phù hợp để canh tác nhằm giảm thiểu mức độ gãy hạt do thu hoạch trễ hạn gây ra
GIỚI THIỆU
Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên được định nghĩa là phần trăm gạo nguyên (nhân gạo có chiều dài hạt ít nhất là ¾ chiều dài ban đầu) so với số lượng lúa đem đi xay xát Đây là chỉ tiêu chất lượng chủ yếu do tấm thường chỉ còn một nửa giá trị thương phẩm so với gạo nguyên Thời gian thu hoạch được xem là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến năng suất xay xát gạo Thu hoạch gạo tại thời điểm
chín sinh lý của hạt giúp đạt được tỉ lệ thu hồi gạo nguyên tối đa (Kester và ctv 1963, Bal và
Oiha 1975) Nếu thời gian thu hoạch bị trễ hạn sẽ gây ra tỉ lệ thu hồi gạo nguyên giảm (Bal và
Oiha 1975, Ntanos và ctv 1996, Berrio và ctv 1989) và thu hoạch quá trễ dẫn đến tổn thất to lớn lượng gạo nguyên thu hồi Nghiên cứu của Berrio và ctv (1989) trên 16 giống gạo cho thấy tỉ lệ
gạo nguyên bị giảm 18% khi thu hoạch trễ 2 tuần Tuy nhiên, thu hoạch trễ hạn không ảnh hưởng
đến các giá trị cảm quan của gạo (Champagne và ctv 2005, Chae và Jun 2002)
Gạo bị nứt gãy trên đồng ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ thu hồi gạo nguyên Đây là một tác động tiềm ẩn vì hạt gạo có thể đã bị nứt khi hàm ẩm bị thay đổi do ngày nắng đêm ẩm ướt Thời gian thu hoạch ảnh hưởng đến tỉ lệ hạt nứt gãy và tất yếu ảnh hưởng đến tỉ lệ thu hồi gạo nguyên Khi thu hoạch gạo quá sớm có thể dẫn đến số lượng hạt chưa chín nhiều Các hạt chưa chín thường mỏng và bị khuyết tật do đó dễ bị gãy vỡ trong quá trình xay xát sau đó (Swamy và Bhattacharya 1980) Ngược lại, thu hoạch hạt trễ hạn làm cho hạt quá khô và dễ bị nứt gãy Các điều tra nghiên cứu của Chau và Kunze (1982) cho biết các vết nứt có thể phát triển ở những nhân gạo có
ẩm độ thấp (13% hay 14% cơ sở ướt) trước khi thu hoạch do sự thay đổi đột ngột độ ẩm tương đối không khí Hơn nữa, các thao tác thu hoạch không đúng như không suốt lúa ngay mà để qua
Trang 36đêm trên đồng làm tăng khả năng hút ẩm do hàm ẩm và độ chín của khối hạt không đồng đều (Kunze và Prasad 1978)
Tỉ lệ gạo nguyên giảm do nứt gạo là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm giảm thu nhập
và lượng lương thực của nông hộ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), vựa lúa lớn nhất của
cả nước Hạt gạo bị gãy hay bị nứt tế vi có thể xảy ra ngay trên đồng do thời điểm thu hoạch không thích hợp, thao tác thu hoạch chưa đúng, cũng như do tác động của các điều kiện sấy sau thu hoạch và thao tác xay xát chưa phù hợp Nông hộ ở ĐBSCL canh tác lúa trong cả hai mùa mưa và khô Điều kiện khí hậu tại thời điểm thu hoạch vì thế là khác nhau giữa hai mùa, sự khác nhau này có thể làm hạt gạo bị nứt và gãy trong quá trình xay xát Tuy nhiên, hiện nay chưa có
số liệu thực nghiệm về tác động của thời điểm thu hoạch đến sự nứt gãy của gạo và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên trên các giống gạo được canh tác tại các mùa khác nhau ở ĐBSCL Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích thu thập số liệu một cách có hệ thống tỉ lệ gạo nứt gãy và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên với các thí nghiệm trên đồng trong 4 mùa thu hoạch liên tiếp từ năm 2006 đến năm 2008 Yếu tố chính trong thí nghiệm là thời điểm thu hoạch trước và sau ngày chín sinh lý Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch trên nhiều giống gạo đến mức độ nứt gãy hạt và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên ở các mùa vụ khác nhau Nghiên cứu này
sẽ giúp xác định thời điểm thu hoạch tối ưu cho một số giống gạo trồng tại ĐBSCL
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Lấy mẫu gạo
Thí nghiệm được thực hiện tại ba địa điểm khác nhau là Trung tâm Giống tỉnh An Giang, Hợp tác xã Tân Phát A (tỉnh Kiên Giang) và Hợp tác xã Tân Thới 1 (TP Cần Thơ) trong 4 mùa vụ liên tiếp trong 2 năm (2006-2008) Chọn 7 giống gạo trồng phổ biến tại các Hợp tác xã và Trung tâm Giống cho các thí nghiệm trên đồng như trình bày ở Bảng 1 Ngày lúa chín của từng giống gạo được xác định dựa trên khuyến cáo của các Trung tâm khuyến nông địa phương là từ 86-98 ngày (Bảng 1) Ngày chín sinh lý trong nghiên cứu này được định nghĩa là ngày thu hoạch lúa kể
từ ngày sạ lúa (DAS-days after sowing) Ngày chín sinh lý này được ước tính dựa trên kinh nghiệm của nông hộ và các thông tin sẵn có từ các cơ quan khuyến nông