Trong điều tra cơ bản trước dự án, người nông dân chỉ nhận biết được trung bình chưa đến 1 loài sâu hại, và 37% nông dân đã không thể phân biệt được các loài sâu hại.. Trong điều tra cơ
Trang 1Ministry of Agriculture & Rural Development
Đánh Giá Dự Án
Dự án số: 029/05/VIE
Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều
ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
Renkang Peng, Keith Christian và Lã Phạm Lân
Tháng 4 năm 2009
Trang 21 Thông tin cơ quan tham gia
Tên dự án Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại
trên cây điều ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
Cơ quan phía Việt Nam Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam Chủ nhiệm phía Việt Nam Ông Lã Phạm Lân
Cơ quan phía Úc Trường Đại học Charles Darwin
Australian Personnel GS Keith Christianvà TS Renkang Peng
Thời gian bắt đầu Tháng 2, 2006
Thời gian hoàn thành (dự kiến) Tháng 1, 2009
Thời gian hoàn thành (thực tế)
Giai đoạn báo cáo Tháng 12, 2008
Đầu mối liên hệ
Úc: Chủ nhiệm
Họ và tên Keith Christian Điện thoại: 61 8 89466706
Chứ́c vụ Giáo sư Fax: 61 8 89466847
Cơ quan Đại học Charles Darwin Email: keith.christian@cdu.edu.au
Úc: Quản lý
Họ và tên Jenny Carter Điện thoại: 61 08 89466708
Chứ́c vụ Trưởng Phòng, Phòng Quản lý
Nghiên cứu
Fax: 61 8 89467199
Cơ quan Đại học Charles Darwin Email: jenny.carter@cdu.edu.au
Việt Nam
Họ và tên Lã Phạm Lân Điện thoại: 84 0913829560
Chứ́c vụ TP, Phòng Nghiên cứu Bảo vệ
84 8 8297650
Cơ quan Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam
Email: lphlan@yahoo.com
Trang 3Tóm tắt
Việc đánh giá dự án được thực hiện trong thời gian tháng 11 và 12/2008 bằng phiếu câu hỏi tiêu chuẩn Tổng số 220 phiếu điều tra được thực hiện dưới hình thức phỏng vấn những nông dân đã tham dự lớp tập huấn FFS năm thứ nhất, đã hoàn thành trong thời gian tháng 4-5/2008, ở 10 huyện trồng điều thuộc 5 tỉnh trồng điều chính Tổng số phiếu đã thu lại là
197 phiếu So sánh với kết quả điều tra trước dự án, những câu hỏi lần này chú trọng đến 6 nội dung:
1 Vai trò của phụ nữ trong canh tác điều,
2 Kỹ thuật canh tác điều,
3 Sức khỏe nông dân và môi trường canh tác,
4 Kiến thức nông dân về bệnh hại điều, sâu hại và thiên địch,
5 Ý kiến của nông dân về kiến vàng chú trọng đến năng suất và chất lượng hạt, và
6 Ý kiến nông dân về lớp huấn luyện FFS
Vai trò của người phụ nữ không khác biệt nhau trong thời gian trước và sau khi tập huấn FFS Điều này có thể do thời gian quá ngắn (7 tháng sau khi lớp tập huấn hoàn thành) để
có thể có những thay đổi trong sự tham gia lao động của gia đình Về lâu dài, chúng tôi hy vọng sự tham gia của phụ nữ trong sản xuất điều của nông hộ nhỏ sẽ được thúc đẩy bởi vì quy trình cải tiến tổng hợp trong sản xuất điều (ICI) có sử dụng kiến vàng là thành phần chính không đòi hỏi nhiều về sức lực và không liên quan đến việc phun thuốc trừ sâu độc hại
Kiến thức của người nông dân về những hoạt động canh tác thông thường đã được cải thiện có ý nghĩa Kỹ thuật canh tác được chú trọng đến 7 hoạt động chính: làm cỏ, che phủ đất, tưới nước, xén tỉa, bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu, và thuốc trừ cỏ So sánh với tỷ lệ nông dân thực hiện những kỹ thuật canh tác này trước khi được tập huấn, có 35%, 49%, 28%, 31%, và hơn 18% nông dân đã cải tiến việc làm cỏ, che phủ đất, tưới nước, xén tỉa, bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu, và thuốc trừ cỏ, theo thứ tự, sau khi tham dự lớp tập huấn FFS So sánh với tỷ lệ nông dân sử dụng thuốc trừ sâu trước khi được tập huấn, có ít hơn 24% nông dân sử dụng thuốc trừ sâu sau khi được tham dự lớp FFS Ngoài ra, có trên 92% nông dân đã có đủ kiến thức về nguyên tắc và phương thức thực hiện những hoạt động canh tác nêu trên Tỷ lệ nông dân có sử dụng thuốc trừ cỏ tương đương nhau giữa điều tra trước và sau khi được tập huấn, và lý do có thể có đã được thảo luận
Sức khỏe của nông dân và môi trường nông nghiệp sẽ được cải thiện đáng kể Trong điều tra cơ bản, 80% nông dân đã bị ảnh hưởng với nhiều triệu chứng của ngộ độc thuốc trừ sâu, và 92% nông dân nhận định rằng việc phun thuốc trừ sâu đã gây nên ảnh hưởng xấu đến môi trường canh tác Sau khi được tập huấn, 95% nông dân tin tưởng rằng sức khỏe của họ sẽ được cải thiện rất nhiều khi sử dụng kiến vàng là thành phần chính để quản lý vườn điều Tương tự, 89% nông dân tin tưởng rằng sẽ có một sự cải thiện môi trường canh tác khi sử dụng kiến vàng
Kiến thức của người nông dân về sâu hại, bệnh hại, và thiên địch được cải thiện đáng kể Trong điều tra cơ bản trước dự án, người nông dân chỉ nhận biết được trung bình chưa đến
1 loài sâu hại, và 37% nông dân đã không thể phân biệt được các loài sâu hại Sau khi được tập huấn, người nông dân có thể nhận biết được trung bình 3,3 loài Có trên 85% nông dân nhận biết được bọ xít muỗi, sâu đục cành và sâu đục thân-rễ, và trên 20% nông dân có thể nhận biết được bọ trĩ, bọ cánh cứng đục ngọn, sâu đục cành, sâu róm đỏ, và rệp sáp giả, là
Trang 4những loài sâu hại chính trong vườn điều Trong điều tra cơ bản, người nông dân chỉ nhận biết được trung bình chưa đến 1 loại bệnh, và 37% nông dân không biết được loại bệnh nào Sau khi được tập huấn, người nông dân có thể nhận biết được trung bình 2 loài bệnh,
và 92% nông dân có thể nhận biết được loại bệnh quan trọng nhất là thán thư Trong điều tra cơ bản, đa số nông dân không có kiến thức về thiên địch, nhưng sau lớp FFS, người nông dân có thể nhận biết được trung bình 2,2 loài thiên địch và 100% nông dân hiểu biết rất rõ về kiến vàng
Người nông dân đã tiếp thu được kiến thức về vai trò của kiến vàng trong vườn điều sau khi được tham dự lớp FFS Trong điều tra cơ bản, người nông dân ít biết về kiến vàng Mặc dù có 49% nông dân biết rằng kiến vàng có lợi trong vườn điều của họ, nhưng họ không chắc rằng họ sẽ sử dụng kiến vàng Sau khi tham dự lớp FFS, những điểm lý thú sau đây đã nổi trội:
(1) 93% nông dân chắc chắn rằng kiến vàng có thể kiểm soát những loài sâu hại chính trong vườn điều, và kiến vàng có ích cho cây điều,
(2) 86% nông dân chắc chắn rằng kiến vàng sẽ giúp cải thiện năng suất điều,
(3) 80% nông dân chắc chắn rằng kiến vang sẽ cải thiện chất lượng hạt điều,
(4) 80% nông dân sẽ sử dụng kiến vàng,
(5) 83% nông dân đã biết cách sử dụng kiến vàng, và
(6) 89% nông dân sẽ chuyển giao cách sử dụng kiến vàng đến bạn bè và những nông dân khác
Ngoài ra, 92% nông dân bày tỏ sự quan tâm của họ được tập huấn thêm trong tương lai để quản lý tốt các đàn kiến
Người nông dân rất hài lòng về lớp huấn luyện FFS 196 nông dân đã góp ý về chất lượng của lớp tập huấn FFS Tỷ lệ nông dân hài lòng về chương trình tập huấn, phương pháp tập huấn, và kết quả của vườn trình diễn là 98%, 95% và 96%, theo thứ tự Tổng số 128 nông dân đã có góp ý hữu ích cho lớp tập huấn FFS, trong đó có nhu cầu cao về lớp tập huấn FFS tại địa phương, yêu cầu có nhiều cơ hội được tập huấn, lớp FFS có nhiều thực hành hơn về quản lý kiến vàng, và có nhiều phương tiện học tập hơn
Kết quả nêu trên cho thấy rằng chương trình huấn luyện rộng rãi và tập trung với chương trình ICI là thành công và được sự chấp nhận của nông dân Vườn trình diễn học tập FFS
và vườn của nông dân có kiến vàng đã cung cấp cho người nông dân hình ảnh đầy đủ về kiến vàng đem lại lợi ích cho họ như thế nào
Trang 5
Mở đầu
Việc đánh giá dự án được thực hiện trong thời gian tháng 11 và 12/2008 với phiếu câu hỏi tiêu chuẩn (Phụ lục 1) dưới hình thức phỏng vấn những nông dân đã hoàn thành lớp tập huấn FFS năm thứ 1 Để so sánh với dữ liệu thu thập của điều tra cơ bản vào đầu dự án, những câu hỏi chú trọng đến 7 nội dung:
(1) Thông tin chung về nông dân,
(2) Vai trò phụ nữ trong canh tác điều,
(3) Kỹ thuật canh tác điều,
(4) Sức khỏe nông dân và môi trường canh tác,
(5) Kiến thức của nông dân về bệnh hại điều, sâu hại và thiên địch,
(6) Ý kiến nông dân về kiến vàng chú trọng đến năng suất và chất lượng hạt, và
(7) Ý kiến của nông dân về lớp huấn luyện FFS
Mỗi nội dung gồm có một số câu hỏi được chú trọng đến sự thay đổi “trước” và “sau” khi
dự lớp tập huấn FFS Vì cuộc điều tra được thực hiện trong thời kỳ cây điều ra hoa (tháng 11-12), vào 7 tháng sau khi hoàn thành lớp tập huấn năm thứ nhất, lợi ích kinh tế như là năng suất và chất lượng hạt, không thể đánh giá được Tuy nhiên, chúng tôi đã soạn những câu hỏi liên quan đến vấn đề để người nông dân có thể có ý kiến dựa trên những quan sát của họ về tình trạng phát triển của vườn điều được quản lý với quy trình cải tiến tổng hợp trên cây điều (ICI) mà lớp FFS đã giới thiệu
Dữ liệu của cuộc điều tra được phân tích và xử lý thống kê Pearson Chi-square để đánh giá
sự khác nhau của những hoạt động canh tác vào trước và sau lớp tập huấn FFS
Trang 61 Thông tin chung về nông dân
Tổng số 220 phiếu câu hỏi đã được thực hiện với những nông dân đã hoàn thành lớp tập
huấn FFS năm thứ nhất trong tháng 4-5/2008, tại 10 huyện trồng điều thuộc 5 tỉnh trồng
điều chính (Bình Phước, Đồng Nai, Dak Lak, Bình Thuận và Ninh Thuận) Tổng số 197
phiếu được thu lại gồm có: 169 nam và 28 nữ Tuổi trung bình của người trồng điều là 47
(±10) tuổi, số năm kinh nghiệm trồng điều là 12 (±5) năm, và trình độ học lực trung bình là
lớp 8 (±4) Thông tin thu thập trong cuộc điều tra này tương tự như kết quả điều tra vào
trước dự án
2 Vai trò của phụ nữ trong canh tác điều
Phụ nữ đã giữ vai trò quan trọng trong sản xuất điều Bảng 1 cho thấy khoảng 60% công
việc đồng áng do người đàn ông thực hiện, và 30% do phụ nữ Số liệu cho thấy không có
sự khác biệt tỷ lệ thời gian tham gia giữa thời gian trước và sau khi được tập huấn FFS
(Bảng 1) Điều này có thể do trong một thời gian quá ngắn, 7 tháng sau khi hoàn thành lớp
FFS, chưa có sự thay đổi trong việc tham gia lao động của các thành viên trong gia đình
Về lâu dài, chúng tôi kỳ vọng sự tham gia của người phụ nữ trong lãnh vực sản xuất điều
của nông hộ nhỏ sẽ được thúc đẩy, bởi vì chương trình ICI có sử dụng kiến vàng là thành
phần chính không có yêu cầu nhiều về sức lực và không liên quan đến sử dụng thuốc trừ
sâu độc hại Điều này có thể được thấy được trong vài năm tới khi người nông dân dần dần
ứng dụng hệ thống canh tác mới
Bảng 1 Tỷ lệ thời gian tham gia canh tác điều của các thành viên trong gia đình vào trước
và sau tham dự lớp tập huấn FFS Tháng 12-2008
Thành viên gia đình Trước FFS
(% thời gian) (% thời gian) Sau FFS
3 Kỹ thuật canh tác điều
Cuộc điều tra bao gồm 7 hoạt động đồng ruộng chính để hiểu được sự thay đổi mà người
trồng điều đã thực hiện sau khi hoàn thành lớp tập huấn FFS Những hoạt động này gồm có
làm cỏ tay, che phủ đất, tưới nước, xén tỉa, bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc trừ
cỏ Đối với mỗi hoạt động đồng ruộng này, người nông dân được hỏi rằng họ đã thực hiện
những gì vào trước và sau khi được tập huấn Chúng tôi cũng so sánh kết quả này với kết
quả thu thập được của điều tra cơ bản càng nhiều càng tốt
3.1 Làm cỏ
Kiến thức của người nông dân về sự quan trọng của làm cỏ tay đã được cải thiện có ý
nghĩa Tổng số 197 người đã có ý kiến về câu hỏi này Trước khi được tập huấn, có 96
(49%) nông dân làm cỏ tay Sau khi được tập huấn, 165 (84%) nông dân đã thực hiện hoạt
động này (Bảng 2) Tỷ lệ nông dân có làm cỏ tay vào sau khi được tập huấn cao hơn 35%
so với trước khi được tập huấn, và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 2)
Trang 7Trong số 197 nông dân, 98% người đã có những hiểu biết đầy đủ về thời điểm và phương
cách làm cỏ trong vườn điều có sử dụng kiến vàng
Bảng 2 Bảng 2 chiều về số nông dân có làm cỏ tay vào trước và sau tham dự lớp tập huấn
FFS
Pearson Chi-square χ 2 = 52.500; P < 0.001; df = 1
3.2 Che phủ đất
Số nông dân nhận biết được lợi ích của viêc che phủ đất trong vườn điều có gia tăng một
cách ý nghĩa Tổng số 184 nông dân đã có ý kiến về câu hỏi này Trước khi được tập huấn,
14 (8%) nông dân có che phủ đất, kết quả này rất gần với kết quả điều tra cơ bản cho thấy
rằng việc che phủ đất là không phổ biến (Xem báo cáo điều tra cơ bản) Sau khi được dự
lớp FFS, 104 (57%) nông dân đã thực hiện việc che phủ đất (Bảng 3) Tỷ lệ nông dân có
thực hiện che phủ đất sau khi tập huấn cao hơn 49% so với trước khi được tập huấn, và sự
gia tăng này rất có ý nghĩa (Bảng 3)
Ngoài ra, 92% nông dân đã hiểu rõ thời điểm thực hiện và cách che phủ đất trong vườn
điều
Bảng 3 Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có thực hiện việc che phủ đất vào trước và
sau khi tham dự lớp tập huấn FFS
Pearson Chi-square χ 2 = 98.677; P < 0.001; df = 1
3.3 Tưới nước
Kiến thức của nông dân về sự quan trọng của việc tưới nước trong thời kỳ ra hoa và đậu
trái non đã được cải thiện có ý nghĩa Trong số 184 nông dân trả lời câu hỏi này, 58 (32%)
người đã tưới nước cho vườn điều trước khi được tập huấn (Bảng 4) Sau khi được tham
dự lớp FFS, 111 (60%) người đã thực hiện việc tưới nước (Bảng 4), cho thấy có gia tăng
28% so với trước khi dự lớp FFS
Trong số 184 nông dân, 93% nông dân hiểu biết rõ thời điểm và cách tưới nước cho vườn
điều của họ
Bảng 4 Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có thực hiện việc tưới nước vào trước và sau
khi tham dự lớp tập huấn FFS
Pearson Chi-square statistics χ 2 = 31.661; P < 0.001; df = 1
Trang 83.4 Xén tỉa
Kiến thức người nông dân về việc xén tỉa được cải thiện đáng kể Trong số 196 người trả
lời về hoạt động này, 107 (55%) người đã có xén tỉa trước khi được tập huấn, tỷ lệ này
tương đương với kết quả điều tra cơ bản Sau khi được dự lớp FFS, 169 (86%) người đã
xén tỉa vườn điều của mình, so với trước khi tập huấn tỷ lệ gia tăng là 31%, và có ý nghĩa
thống kê (Bảng 5)
Khi nông dân được hỏi về thời điểm và phương pháp xén tỉa, 94% người đã hiểu rõ kỹ
thuật xén tỉa, và sử dụng công cụ xén tỉa thích hợp Ngược lại, trong kết quả điều tra cơ
bản, phần lớn các vườn không được xén tỉa hợp lý
Bảng 5 Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có thực hiện việc xén tỉa vào trước và sau khi
tham dự lớp tập huấn FFS
Pearson Chi-square statistics χ 2 = 47.065; P < 0.001; df = 1
3.5 Bón phân
Kiến thức của người nông dân về tầm quan trọng của việc bón phân được cải thiện một
cách có ý nghĩa Trong số 196 nông dân trả lời câu hỏi này, 154 (79%) nông dân đã có bón
phân (đa số là phân bón hóa học) vào trước khi được tập huấn (Bảng 6) Kết quả này tương
tự như kết quả điều tra cơ bản, là 84% nông dân có sử dụng phân bón (chủ yếu là phân hóa
học) Sau khi được tập huấn ở lớp FFS, 190 (97%) nông dân đã có bón phân kết hợp hóa
học và phân chuồng, tỷ lệ gia tăng là 18% so với trước khi được tập huấn ở lớp FFS, và sự
gia tăng này rất có ý nghĩa (Bảng 6)
Khi người nông dân được hỏi về thời điểm và phương pháp bón phân, 99% nông dân đã
biết rõ nguyên tắc sử dụng phân bón hóa học và phân chuồng
Bảng 6 Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có thực hiện việc bón phân vào trước và sau
khi tham dự lớp tập huấn FFS
Pearson Chi-square statistics χ 2 = 30.548; P < 0.001; df = 1
3.6 Sử dụng thuốc trừ sâu
Kiến thức người nông dân về sử dụng thuốc trừ sâu đã được cải thiện một cách có ý nghĩa
Tổng số 197 nông dân đã trả lời câu hỏi này Trước khi được tập huấn có 180 (91%) nông
dân phun thuốc trừ sâu (Bảng 7) Kết quả này tương tự như kết quả điều tra cơ bản là có
83% nông dân sử dụng thuốc trừ sâu (xem Báo cáo điều tra cơ bản) Sau khi dự lớp tập
huấn FFS, 133 (67%) nông dân có sử dụng thuốc trừ sâu, cho thấy có giảm 24% so với
trước khi dự tập huấn, và mức giảm này rất có ý nghĩa (Bảng 7) Tỷ lệ giảm này có nguyên
Trang 9nhân từ sự thiệt hại do sâu giảm đi sau khi người nông dân sử dụng kiến vàng trong vườn
Tuy nhiên, với sự ứng dụng của chương trình ICI, chúng tôi hy vọng tỷ lệ hiện tại (67%)
về người nông dân có sử dụng thuốc trừ sâu sẽ giảm xuống trong tương lai, khi mà người
nông dân có nhiều kinh nghiệm hơn nữa về sử dụng kiến vàng
Ngoài ra, có khoảng 92% nông dân hiểu rõ về thời điểm sử dụng và cách sử dụng thuốc trừ
sâu trong vườn điều Mặt khác, trong kết quả điều tra cơ bản, có khoảng 80% nông dân đã
trải qua nhiều kinh nghiệm về những triệu chứng ngộ độc trong khi sử dụng và sau khi sử
dụng thuốc trừ sâu
Bảng 7 Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có phun thuốc trừ sâu vào trước và sau khi
tham dự lớp tập huấn FFS
Pearson Chi-square statistics χ 2 = 34.329; P < 0.001; df = 1
3.7 Sử dụng thuốc trừ cỏ
196 nông dân đã trả lời câu hỏi này, trong đó, có 152 (78%) nông dân sử dụng thuốc trừ cỏ
vào trước khi được tập huấn (Bảng 8) Sau khi dự lớp tập huấn FFS, 147 (75%) nông dân
có sử dụng thuốc trừ cỏ Tỷ lệ nông dân có sử dụng thuốc trừ cỏ vào lúc trước và sau khi
dự lớp tập huấn tương đương nhau (Bảng 8) Những bất lợi của việc sử dụng thuốc trừ cỏ
đã được nhấn mạnh trong cẩm nang ICI và sách hướng dẫn có hình ảnh Rất tiếc là người
nông dân không nêu lý do sử dụng thuốc trừ cỏ Nếu việc sử dụng thuốc trừ cỏ không liên
quan đến vấn đề thiếu công lao động để làm cỏ, những bất lợi của thuốc trừ cỏ có thể
không được nhấn mạnh hoặc có thể loại bỏ trong chương trình tập huấn FFS Chúng tôi sẽ
gởi kết quả này đến các Chi cục bảo vệ thực vật để họ quan tâm đến cho lớp tập huấn kế
tiếp
Bảng 8 Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có sử dụng thuốc trừ cỏ trước và sau khi tham
dự lớp tập huấn FFS
Pearson Chi-square statistics χ 2 = 0.352; P = 0.553; df = 1
4 Sức khỏe nông dân và môi trường canh tác
Sức khỏe của nông dân và môi trường canh tác đã được cải thiện rất nhiều Trong kết quả
điều tra cơ bản, 80% nông dân cho rằng sức khỏe họ bị ảnh hưởng độc của thuốc trừ sâu,
và 92% nông dân nhận biết được việc phun thuốc trừ sâu đã gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường, bao gồm sự ô nhiễm về nước, không khí, và đất, sự giảm sút quần thể các côn
trùng có lợi, nhiều cơ hội cho sự bùng phát dịch hại, và ảnh hưởng xấu đến gia súc Trong
điều tra này, hai câu hỏi về vấn đề này được soạn thảo để đo lường sự thay đổi về sức khỏe
của người nông dân và môi trường canh tác Trong số 196 nông dân trả lời câu hỏi này,
Trang 10186 (95%) và 175 (89%) nông dân đã tin tưởng rằng sức khỏe của họ và môi trường canh
tác, theo thứ tự, sẽ được cải thiện sau khi áp dụng chương trình ICI có sử dụng kiến vàng là
thành phần chính
5 Kiến thức của người nông dân về bệnh hại điều, sâu hại và
thiên địch
Ba câu hỏi được soạn thảo để đo lường kiến thức của người nông dân về bệnh hại, sâu hại,
và thiên địch của chúng
5.1 Sâu hại
Kiến thức của người nông dân về sâu hại điều được cải thiện đáng kể Trong điều tra cơ
bản, người nông dân chỉ có thể nhận dạng trung bình chưa đến 1 loài sâu hại, và có 37%
người không thể nhận dạng một loài sâu hại nào (Bảng 9) Sau khi được tập huấn ở lớp
FFS, có 197 người trả lời câu hỏi này Người nông dân có thể nhận dạng trung bình 3,3
loài, và trong số đó 58% có thể nhận dạng từ 3 hoặc 4 loài, và 16% có thể nhận dạng trên 4
loài (Bảng 9) Đối với những loài sâu hại chính, có trên 85% nông dân có thể nhận biết bọ
xít muỗi và sâu đục thân-rễ, và trên 20% nông dân có thể nhận biết được bọ trĩ, bọ cánh
cứng đục ngọn, sâu đục cành, sâu róm đỏ, và rệp sáp giả Kiến thức được cải thiện này đã
mang đến cho người nông dân sự tự tin trong những kiểm tra định kỳ của họ về sâu hại
trong vườn, những hoạt động đồng ruộng
Kiến thức của người nông dân về những triệu chứng thiệt hại ban đầu và phương pháp
kiểm soát sâu đục thân-rễ, và sâu đục cành được cải thiện rất rõ Đây là hai loại sâu đục
quan trọng nhất có thể gây chết cây điều Để kiểm soát, ngoài kiến vàng, việc phát hiện
những triệu chứng ban đầu rất quan trọng để loại trừ chúng bằng biện pháp thủ công bắt
bằng tay Trong kết quả điều tra cơ bản, đa số nông dân không thể nhận biết được triệu
chứng thiệt hại ban đầu, và họ không biết cách phòng trừ sâu hại này Sau khi dự lớp FFS,
trong số 197 nông dân trả lời câu hỏi này, 92% người đã có thể nhận biết được hai loài sâu
hại này và những triệu chứng gây hại ban đầu, và họ cũng có thể bày tỏ sự hiểu biết về
những kỹ thuật phòng trừ và phương pháp kiểm tra
Bảng 9 Số lượng sâu hại nhận biết được bởi người nông dân trong kết quả điều tra cơ bản
và người nông dân đã hoàn thành lớp tập huấn FFS
Tỷ lệ nông dân nhận biết được
(%)
Số lượng loài sâu hại nhận biết
Điều tra cơ bản Sau lớp FFS