1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx

40 546 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho cộng đồng dân cư nghèo ven biển miền Trung Việt Nam - Milestone 11
Tác giả Chu Chí Thiết, Như Văn Cẩn, Martin S Kumar
Trường học Viện nghiên cứu phát triển Nam Úc (SARDI), https://sardi.sa.gov.au
Chuyên ngành Nông nghiệp và Thủy sản
Thể loại Báo cáo kỹ thuật
Năm xuất bản 2009
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii Các mô hình nuôi ngao thương phẩm: Nuôi ngao trong các điều kiện môi trường và sinh thái khác nhau Các báo cáo kỹ thuật là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu phát triển

Trang 1

i

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

(CARD)

027/05VIE

Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển

miền trung Việt nam

Báo cáo kỹ thuật:

Các mô hình nuôi ngao thương phẩm:

Nuôi ngao trong các điều kiện môi trường và sinh thái khác

nhau

Milestone 11

Trang 2

ii

Báo cáo kỹ thuật

Các mô hình nuôi ngao thương phẩm:

Nuôi ngao trong các điều kiện môi trường và sinh thái

khác nhau

Milestone 11

Chu Chí Thiết* 1 , Như Văn Cẩn 1 and Martin S Kumar 2

1 Phân Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ, Việt nam (ARSINC)

2 Viện nghiên cứu phát triển Nam Úc, Australia (SARDI)

Tháng 7, 2009

Trang 3

iii

Các mô hình nuôi ngao thương phẩm: Nuôi ngao trong các điều kiện môi trường và sinh thái khác nhau

Các báo cáo kỹ thuật là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu phát triển Nam Úc (SARDI) và Phân viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung bộ (ARSINC) Báo cáo này được phổ biến rộng rãi tới độc giả, đặc biệt là cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và nông dân Việt nam

Bản quyền

Các thông tin trong báo cáo này là kết quả của dự án CARD: “Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho cộng đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam No 027/05- VIE”, do tổ chức AusAID (Chính phủ Australia) tài trợ Các thông tin để chuẩn bị nội dung cho tài liệu này đã được thu thập rất cẩn thận

Tháng 7, 2009

Chu Chí Thiết, Như Văn Cẩn and Martin S Kumar

Phân Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ (ARSINC)

Phường Nghi Hải,

Thị xã Cửa Lò

Tỉnh Nghệ An,

Việt nam

Viện nghiên cứu phát triển Nam Úc (SARDI)

Integrated Biosystems Science Program Area

SARDI Livestock and Farming Systems

Aqutic Sciences centre

2 Hamra Avenue, West Beach

South Australia

Dự án được tài trợ bởi AusAID, Tổ chức của chính phủ Úc

Trang 4

iv

Mục lục

1 Giới thiệu 1

1.1 Cơ sở luận chứng 1

2 Tổng quan tài liệu 1

2 Bối cảnh và phạm vi của báo cáo kỹ thuật 2

3 Nuôi ngao trong ao 5

3.1 Lựa chọn ao nuôi 5

3.2 Chuẩn bị ao nuôi 7

3.3 Bón phân cho ao nuôi 7

3.4 Mật độ thả giống 8

3.5 Thu hoạch 8

3.6 Các kết quả trong tâm của các thí nghiệm 8

3.7 Các loại hình nuôi ngao 9

3.7 Ngao nuôi luân canh sau vụ tôm 9

4 Nuôi ngao ngoài bãi triều 13

4.1 Lựa chọn vị trí 13

4.2 Chuẩn bị vùng nuôi 14

4.3 Quy trình thả ngao giống 14

4.4 Quản lý, chăm sóc và thu hoạch 16

5 Tài liệu tham khảo 17

Phụ lục 1 Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật: 19

Phụ lục 2 Báo cáo khoa học 23

Trang 5

1

1 Giới thiệu

1.1 Cơ sở luận chứng

Ngao, Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) là một loài nhiệt đới có khả năng chịu được phạm

vi độ muối từ 0 đến 34‰ và nhiệt độ từ 15 đến 32 0 C Ở Việt nam, ngao xuất hiện chủ yếu ở vùng ven biển ở miền Nam, bao gồm Tiền Giang, Bến tre, Trà Vinh, Sóc trăng, Bạc liêu và Cà mau Mặc dù ngao là một loại hải sản ưa thích, nhưng các thông tin về

kỹ thuật nuôi vẫn còn hạn chế Dự án VIE027/05 đã đề xuất công nghệ nuôi ngao ở vùng ven biển miền trung Việt nam nhằm cải thiện sinh kế của người dân vùng ven biển đang sử dụng nguồn lợi hai mảnh vỏ Bên cạnh xây dựng các công nghệ phù hợp cho các trại sản xuất giống ngao nhân tạo và nuôi lơn ở các vùng bãi triều, các nghiên cứu

về nuôi lớn loài này trong các ao nước lợ cũng được thực hiện và chủ yếu là tận dụng trang thiết bị sẵn có của trang trại nuôi tôm và kết hợp với các hộ nuôi tôm ở trong vùng Mục đích của dự án là phát triển nuôi ngao trong ao và đồng thời nâng cao sản lượng trong nuôi ngao ở bãi triều

2 Tổng quan tài liệu

Trong những năm gần đây, sản lượng động vật thân mềm đã tăng đáng kể (Gibbs, 2004) và đạt tổng sản lượng 13,25 triệu tấn chiếm khoảng 23,3% tổng sản lượng thủy sản trên thế giới năm 2004 (Tacon and Halwart, 2006) Trong số các loài động vật thân mềm, thì loài 2 mảnh vỏ không chỉ là loài hải sản được ưa thích mà còn được quan tâm như là hình thức nuôi trồng thủy sản có tính hiệu quả sinh thái nhất bởi vì chúng là những động vật nhiệt đới bậc thấp Bên cạnh đó, các loài 2 mảnh vỏ là loài ăn lọc ví thế chúng có thể coi như là một hệ thống lọc sinh học để nâng cao chất lượng nước (Mazzola and Sara, 2001; Shpigel and Blaylock, 1991; Shpigel et al., 1997; Shpigel et al., 1993) và do đó đóng góp cho phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ tiêu thụ thức ăn tỷ lệ thuận với kích thước

cơ thể và trong phạm vi tập trung thức ăn thì đặc điểm tiêu hóa thức ăn của chúng có mối quan hệ mật thiết với nền đáy (Zhuang and Wang, 2004), độ măn hoặc chu kỳ ngày đêm (Zhuang, 2006) Để tối đa hóa sản lượng và lợi nhuận, Zhang and Yan (2006) đã

mô tả một phương pháp nuôi mới là nuôi 3 kỳ cho trang trại nuôi ngao Manila ở Trung quốc Trong phương pháp này, giống được sản xuất nhân tạo trong phòng thí nghiệm

và được nuôi qua mùa đông và giai đoạn nuôi lớn được thực hiện ở bãi triều với kích cỡ thả rông, mật độ thả giống và nền đáy phù hợp Ở các vung bãi triều, nguồn thức ăn phụ thuộc vào tự nhiên nên bị động và không ổn định, do vậy mật độ thả trở thành yếu

tố quan trọng để tăng sự sinh trưởng và sản lượng

Ngao thuộc loài thân mềm hai mảnh vỏ, nhưng chúng rất khác so với các loài khác bởi

vì chúng cứ ngụ ở nền đáy Các nghiên cứu về sản lượng đã được thực hiện cho một

số loài ngao (Cigarrıa and Fernandez, 2000; Shpigel and Spencer, 1996; Zhang and Yan, 2006) và sử dụng ngao để cải thiện chất lượng nước (Jara-Jara et al., 1997;

Shpigel and Fridman, 1990) Ngao (Meretrix lyrata) là một trong những loài hải sản có

giá trị kinh tế cao ở Việt nam Ở khu vực phía nam, vùng khai thác và phân bố tự nhiên thực tế là khoảng 12.000 ha dọc theo bò biển từ Cần Giờ tới Cà Mau ở miền nam Việt nam Dọc theo vùng này thì ngao được tìm thấy nhiều nhất ở cá tỉnh Tiền Giang, Bến

Tre và Trà Vinh Gần đây, vì nhu cầu thị trường ngày càng cao, ngao M lyrata đang

được nuôi và mở rộng ra các tỉnh ven biển ở miền Bắc như ở Nam Định, Thanh Hóa,

Trang 6

2

Nghệ An, Hà Tĩnh và chủ yếu nuôi ở các vùng bãi triều Cho tới nay, các thông tin về kỹ thuật nuôi ngao vẫn còn rất hạn chế và không có nhiều thông tin vể nuôi ngao trong các nước lợ

2 Bối cảnh và phạm vi của báo cáo kỹ thuật

Dự án được chia thành 3 giai đoạn Trong giai đoạn đầu dự án tập trung phát triển kỹ thuật thông qua việc ứng dụng nghiên cứu về kỹ thuật quản lý và sản xuất giống Năm thứ 2 tiến hành triển khai các mô hình ngoài thực tế Đồ thị 1 cho thấy chiến lược và cách tiếp cận thực hiện dự án Trong năm thứ 3, dự án tập trung vào phổ biến công nghệ bằng cách mở rộng sự tham gia các mô hình trình diễn cho người dân

Áp dụng các công nghệ nuôi ngao được thực hiện với mục đích để bổ sung các thông tin về kỹ thuật Các mục đích cụ thể của nghiên cứu bao gồm:

• Xác định nền đáy phù hợp để tối đa hóa sản lượng ngao nuôi,

• Xác định kích cỡ ngao giống phù hợp cho nuôi thương phẩm để tối đa hóa sản lượng và,

• Xác định mật độ nuôi để tối đa hóa sản lượng

Các nghiệm thức có kết quả tốt nhất được nông dân ở 6 tỉnh thực hiện thử nghiệm Trong năm thứ 2 giống ngao được sản xuất từ trại sản xuất giống được sử dụng cho các mô hình trình diễn Mục tiêu của cá mô trình diễn là để chứng minh và bổ sung thêm các thông tin về kỹ thuật

Nuôi ngao trong ao chỉ tập trung vào nuôi ngao thương phẩm luân canh Các trang trại nuôi tôm ở miền Trung thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nuôi ngao được thực hiện từ tháng 9 Sản xuất nuôi tôm và ngao kết hợp và nuôi ngao ở kênh dẫn nước thải của ao nuôi tôm cũng được thực hiện

Các thông tin kỹ thuật cho 2 loại hình nuôi ngao chính trong báo cáo này bao gồm:

a Nuôi ngao trong ao

o Nuôi luân canh trong các ao nuôi

o Nuôi ngao trong ao

o Nuôi tôm và ngao kết hợp

b Nâng cao năng suất nuôi ngao ở vùng bãi

Báo cáo này được chuẩn bị dựa trên các nghiên cứu ứng dụng và kết quả của mô hình trình diễn

Trang 7

3

Chart1

Phát triển kỹ thuật sản xuất giống ngao nhân tạo đại trà

Thí nghiệm sản xuất giống ngao nhân tạo

Sản xuất giống nhân tạo

Người dân tham gia tuyên truyền

kỹ thuật nuôi Phát triển kỹ thuật sản xuất giống ngao nhân tạo đại trà

Đánh giá tác động của dự án

Trước khi có dự án Sau khi tham gia dự án

Năm 3

Chiến lước và cách tiếp cận thực hiện dự án

Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế

Cho cộng đồng dân nghèo ven biển miền Trung

Xây dựng kỹ thuật nuôi ngao và khuyến cáo

1

2

3

Trang 8

4

The map showing distribution of clam Meretrix lyrata in Vietnam

M Lyrata naturally occurred in

southern part of the Vietnam

indicated below

M lyrata was transferred to North and central Vietnam mainly in the intertidal areas

Bản đồ phân bố của ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) ở Việt Nam

Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata)

phân bố chủ yếu ở miền Nam

Việt Nam – chi tiết ở bên

Ngao Bến Tre M lyrata được

chuyển tới nuôi ngoài bãi triều

ở miền Bắc và miền Trung

Trang 9

5

3 Nuôi ngao trong ao

3.1 Lựa chọn ao nuôi

Nguồn nước: Lựa chọn vị trí phù hợp cho nuôi ngao rất quan trọng cho viêc triển khai

Nguồn nước là sự sống còn của nghề nuôi Ao nuôi là lý tưởng nếu nó nằm gần vùng triều để nước luôn sẵn sàng cung cấp vào, ra dễ dàng Chất lượng nước là một nhân tố quan trọng khác được xem xét trong việc nuôi ngao nếu là nguồn nước nội địa hoặc nước ngầm

Ngao M Lyrata phân bố trong khoảng độ

mặn 10 – 25 ppt

Nền đáy phù hợp: Dựa vào kết quả thí

nghiệm đã tiến hành, nền đáy bùn-cát

với 80% cát và 20% bùn được là phù

h ợp nhất Không có đủ thông tin, tài liệu

có sẵn liên quan đến nền đáy phù hợp

cho nuôi ngao

Để năng suất ngao nuôi thu được tối ưu, các

th í nghiệm được thiết kế nhằm xác định nền đáy phù hợp Các thí nghiệm nền đáy và mật

độ khác nhau đã được tiến hành trong ao tại Thanh Hoá Đáy cát, cát-bùn và bùn với các mật độ 90 con/ m 2 120 con/m 2 và 150 con/

m 2 , được nuôi thử nghiệm Bình quân trọng lượng ngao nuôi ở nền đáy cát-bùn không có

sự sai khác so với đáy cát (P>0,05), nhưng cao hơn, có ý nghĩa thống kế (P<0,05) so với ngao nuôi ở đáy bùn Phát hiện này chỉ ra rằng đáy cát và cát-bùn phù hợp hơn nền đáy bùn đối với tốc độ tăng trưởng của ngao nuôi (hình1-3)

Ảnh hưởng của nền đáy tới sự phát triển của tuyến sinh dục: Thí nghiệm đã được tiến

h ành so sánh ảnh hưởng của nền đáy đến sự phát triển của tuyến sinh dục của ngao dưới điều kiện nhiệt độ nước ổn định Kết quả xử lý số liệu (t-test) đã chỉ ra rằng tỷ lệ

s ống của ngao bố mẹ khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0.05) trong sự khác nhau của nền đáy (Hình 2) Tỷ lệ sống trung bình của ngao ở nền đáy cát và không đáy cát lần lượt là 87,4± 4,4 và 80,9± 4,0.

Sand Clay Clay-sand 5.5

6.0 6.5 7.0 7.5 8.0

Hình 2: chỉ loại nền đáy cát-bùn nơi

ngao thường phân bố

H ình 1: Trọng lượng ngao nuôi ở các nền đấy

khác nhau

Trang 10

6

Hình 3 Tỷ lệ sống của nuôi vỗ với sự khác nhau về nền đáy

Tỷ lệ thanh thục của ngao trong thí nghiệm được trình bày trong hình 4 Trong suốt 10 ngày đầu tỷ lệ ngao thanh thục của cả hai thí nghiệm giảm đều Trong 10 ngày tiếp theo, đáy trơ (không

có cát) duy trì tỷ lệ thanh thục dưới 30%, trong khi đáy cát cho kết quả tăng vọt (tới 57% ở ngày thứ 20) Trong 5 ngày cuối cùng tỷ lệ thanh thục có giảm chút ít ở cả hai thí nghiệm nền đáy khác nhau

Hình 4 So sánh tỷ lệ thanh thục của ngao nuôi ở các nền đáy khác nhau (Mean±SD)

Tỷ lệ thành thục trong thí nghiệm này chỉ ra rằng ngao có thể thanh thục tốt hơn với đáy cát trong hệ thống nuôi vỗ thanh thục (hình 4) Kết quả thí nghiệm đã củng có cho lý thuyết nền đáy cát phù hợp cho sự phát triển của ngao Liên quan đến tỷ lệ thanh thục của ngao ở ngày đầu tiên (ngày 0 thí nghiệm) chỉ ra rằng ngao bố mẹ được lựa chọn đang ở giai đoạn thanh thuc trong mùa vụ sinh sản Tuy nhiên, ngao cần 10 ngày để thích nghi và đáp lại điều kiện môi trường và thức ăn sẵn có trong hệ thống nuôi vỗ trong thí nghiệm này Ngao bố mẹ cần khoảng 10 ngày cho việc thích nghi các điều kiện mới Thời gian thích nghi này có thể làm cho ngao bị giảm tỷ lệ thành thục Trong 10 ngày tiếp theo, có hơn 50% ngao đã thanh thục và sẵn sang tham gia sinh sản Để làm sang tỏ các vấn đề này, đặc biệt là sự thích nghi của con bố mẹ hoặc giai đoạn thuần hoá, thì cần có thêm nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

7

3.2 Chuẩn bị ao nuôi

Mục đích của việc chuẩn bị ao nuôi là: (1) loại bỏ địch hại đối với ngao nuôi ; (2) loại bỏ các khí độc tích tụ ở đáy; (3) tạo cho nguồn nước và đáy phù hợp cho sự phát triển của tảo tự nhiên, làm thực ăn cho ngao, và (4) tạo ra các điều kiện thuận lợi cho ngao phát triển nhanh và khoẻ mạnh

Ao lý tưởng là được cày xới, ráo nước, phơi khô dưới ánh nắng trực tiếp Bằng phương pháp này, các chất bẩn, khí độc được giải phóng và đất trở nên màu mỡ hơn Áp dụng việc bón vôi nhằm trung hoà các axít ở đáy Vôi giữ vệ sinh môi trường trong ao Lượng vôi được sử dụng phụ thuộc vào pH đáy ao, Vôi được dùng theo khuyến cáo trong ao khô với lượng nước ít

Hình 5 Chuẩn bị ao và bón vôi cho ao nuôi ngao

3.3 Bón phân cho ao nuôi

Bón phân cho ao được sử dụng phân vi sinh không được nghiên cứu cho nuôi ngao

C ác yếu tố lây bệnh cần phải được xem xét hợp lý trước khi sử dụng phân bón trong ao nuôi ngao Tuy nhiên, phân vô cơ (phân hoá học) như urê, super phosphate calcium có

th ể sử dụng được Công thức áp dụng với tỷ lệ 20 kg urê và 30 kg NP trong 1 hecta ao nuôi Màu nước (tảo) trong ao được duy trì thông qua việc sử dụng phân hoá học được

h ướng dẫn dưới đây:

• Urea NH 2 CONH 2 (46%N): 1,5 g/m 3

• Triple super-phosphate P 2 O5(20%P): 1,56 g/m 3

• Sodium meta-silicate NaSiO 3 5H 2 O (13%Si): 10,6 g/m 3

• Cứ mối 7 ngày sử dụng CaCO 3 hoặc dolomite với lượng 15 - 20 kg/ha, để duy trì pH trong khoảng 7,5-8,35 và kiềm trong khoảng 80 - 150 mg CaCO 3 /l

• Bón 20kg vôi CaO/1000 m 2 bờ ao, 20kg Ca(OH) 2 /1000 m 3 bể mặt nước trước khi trời mưa to

• Nếu có mưa to, sử dụng 15 – 20 kg CaCO3 hoặc Dolomite/ngày trong 3 ngày

để tăng pH

Các nghiên cứu đã được tiến hành bằng việc sử dụng nguồn nước thải giàu dưỡng để nuôi ngao Thông tin liên quan được cung cấp ở mục 3.7 2

Trang 12

8

3.4 Mật độ thả giống

Mật độ thả phù hợp cần được áp dụng tùy thuộc vào loại hình nuôi.Thời gian thả giống

và chu kỳ nuôi tùy thuộc vào loại hình nuôi Ví dụ, hoạt động nuôi tôm ở miền trung Việt nam thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 9, ví thế luân canh nuôi ngao phải đợi đến tháng 9 Nuôi ngao luận canh có thể thực hiện ở các trang trại nuôi tôm từ giữa tháng

10 đến tháng 3 năm sau Chi tiết cho mỗi loại hình nuôi khác nhau ứng dụng cho nuôi

ao được mô tả trong phần 3.7.1

Mật độ thả và kích cỡ giống là yếu tố quan trong để xem xét tới khả năng tối đa hóa sản lượng Dựa trên các nghiên cứu, ngao giống có trọng lượng 300-500/kg là lý tưởng cho nuôi trong ao Nếu trong thời gian nuôi là ngắn, cần thiết sử dụng ngao cỡ giống lớn vì thế co thể đạt được cỡ giống thương phẩm trong thời gian ngắn Mặt khác ngao giống

cỡ nhỏ cần được ương cho đến khi mùa vụ nuôi ngao sẵn sàng Dựa trên mật độ nuôi của các thí nghiệm, chúng tôi khuyến cáo là mật độ nuôi từ 1.8-3 tấn/ha

Dưới đay là các thông tin để cung cấp rõ hơn về trọng lượng và cỡ giống theo chiều dài (cm)

3.6 Các kết quả trong tâm của các thí nghiệm

Dưới đây là các chú ý từ các thí nghiệm

• Sản xuất ngao có thể thành công trong điều kiện nuôi ao Hiện nay nuôi ngao được thực hiện ở các vùng bãi triều Thí nghiệm của chúng tôi chứng minh rằng nuôi ngao

có thể được mở rộng và hệ thống ao có thể được tận dụng

• Ngao có thể được nuôi ở 3 loại hình nền đáy khác nhau bao gồm, bùn, cát và cát Tuy nhiên nền đấy tốt nhất là bùn-cát

bùn-• Ngao nuôi ở mật độ thấp (90 con/m 2 ) cho tăng trưởng nhanh hơn so với nuôi ở mật

độ cao hơn (120 con/m 2 ) Tuy nhiên, sự tăng trưởng của ngao ở cả hai mật độ nuôi khác nhau không nhiều

• Kích cỡ ngao quyết định giá cả ở thị trường Giá của ngao có ảnh hưởng lớn tới kinh tế của nuôi ngao Do đó, rất quan trọng để xem xét tỷ lệ tăng trưởng và thời

Trang 13

9

gian nuôi sẵn sàng cho mỗi loại hình nuôi trước khi quyết định mật độ và kích cỡ giống phù hợp khi bắt đầu thả giống

3.7 Các loại hình nuôi ngao

3.7 Ngao nuôi luân canh sau v ụ tôm

Một trong những thanh công lớn của các loại hình nuôi ngao là nuôi luân canh sau

vụ tôm trong ao Nghề nuôi tôm ở miền Trung Việt Nam thường diễn ra từ tháng

4 đến tháng 9 hàng năm; nuôi ngao luân canh chỉ được bắt đầu tiến hành từ

th áng 9 Nuôi luân canh ngao được tiến

h ành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Người nông dân phải tuân thủ theo quy

tr ình cải tạo ao và có trách nhiệm trong việc nuôi ngao Kết quả thử nghiệm mô

h ình cho thấy năng suất của ngao nuôi

có thể đạt được 20 tấn/ha ao

Việc phát triển nhanh và không có quy hoạch trong nuôi tôm đã gây nên sự bùng phát bệnh dịch ở Việt Nam Năng suất nuôi ngày càng suy giảm, có nhiều

h ộ nông dân muốn sử dụng ao để nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế khác Nhiều người dân đã nuôi ngao như là đối tượng thay thế và họ có thêm nguồn thu nhập từ việc này Vì thế, nuôi ngao

có thể tạo nên cơ hội mới cho cộng đồng cư dân nuôi trồng thuỷ sản ven bờ trong thời gian tới

3.7.2 Nuôi k ết hợp ngao với tôm, nuôi ngao trong các ao sử

d ụng nước triều và sử dụng nước thải từ ao nuôi tôm làm ngu ồn dinh dưỡng

Nuôi kết hợp: Ngao nuôi với tôm trong cùng một ao cho tốc tộ tăng trưởng chậm hơn

nuôi đơn Tuy nhiên, kết quả chỉ ra rằng ngao có thể nuôi kết hợp với tôm, ngao sẽ tạo nên nguồn thu nhập thêm bên cạnh nguồn thu từ con tôm Thí nghiệm được tiến hành trong ao theo mô hình nuôi đơn và nuôi kết hợp sử dụng ngồn nước từ ao chứa và ao nước thải làm nguồn dinh dưỡng Nuôi kết hợp chỉ ra rằng ngao tăng trưởng chậm hơn

so với nuôi đơn, nguyên nhân có thể do chúng bị cạnh tranh môi trường sống với tôm, nên khả năng “bắt mồi” bị hạn chế

Thời gian nuôi tôm

Chu kỳ nuôi tôm

và ngao hang năm

Trang 14

th ống nuôi ao nước thải Tuy nhiên, tốc độ

t ăng truởng thấp của ngao nuôi kết hợp với tôm

có thể do điều kiện môi trường Thêm vào đó, màu sắc của ngao nuôi với tôm trông tối hơn so với ngao nuôi ở ao chứa hoặc ao nước thải (hình 8) Ngao và tôm đều là động vật đáy, ngao có thể tôm làm hạn chế việc trao đối (lọc) nước do hoạt động của tôm Hơn nữa, hoạt động của tôm có thể làm giảm sự vận chuyển của nước, vì thế làm giảm mức độ xâm nhập của ánh sang, có thể ảnh hưởng đến phát triển của tảo, là nguồn thức an chính trong ao Một lý do khác có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngao trong ao

t ôm là hoá chất để xử lý nước trong quá trình nuôi tôm Ngao nuôi sử dụng nước thuỷ tri ều là khuyến cáo đối với mô hình này để đạt kết quả tốt Sản lượng phụ thuộc vào thời gian nuôi và mật độ con giống nuôi thả Các nghiên cứu đã tiến hành với mục tiêu là sử dụng nguồn dinh dưỡng trong ao nước thải để nuôi ngao Kết quả được trình bày trong

Figure 17a Weight of clam cultured

in different system at 90 ind/m 2

Influent Efluent Polyculture 5.0

7.5 10.0 12.5

15.0 a

b

c

Figure 18a Weight of clam cultured

in different system at 120 ind/m 2

Hình 8: màu sắc ngao tối hơn ở ngao

nuôi với tôm (nuôi kết hợp)

Trang 15

11

Hình 9-14: Trọng lượng cuối của ngao nuôi ở mật độ và nền đáy khác nhau

Để hiểu biết thêm về ảnh hưởng của nước thải từ nuôi tôm tới tăng trưởng của ngao thì các nghiên cứu tiếp theo là rất cần thiết Điều ro ràng là ngao nuôi ở hệ thống nước thải

có sinh trưởng chậm hơn so với ngao nuôi có chế độ thuỷ triều Các nghiên cứu tiếp theo đã được tiến hành ở mương nước cạn (độ sâu < 1 m), dẫn nước từ ao nuôi tôm

th ải ra, cho kết quả khả quan Đây là mô hình rất thuận lợi với việc quản lý nguồn nước

t ốt hơn (thay nước, độ sâu phù hợp để ánh sáng được hấp thụ) Tuy nhiên, có một yếu

t ố rủi ro là nguồn nuớc thải có thể mang mần bệnh có thể ảnh hưởng đến ngao nuôi Nước bị ô nhiễm không phù hợp để nuôi ngao

Influent Efluent 7.5

10.0

12.5

b

Figure 9 Weight of clam cultured

at stocking density of 90 ind./m 2

Influent Efluent 7.5

10.0 12.5

15.0 a

b

Figure 10 Weight of clam cultured

at stocking density of 120 ind./m 2

Influent Effluent 8

9 10 11 12 13

Figure 11 Weight of clam cultured

at stocking density of 150 ind./m 2

6 7 8 9 10 11 12 13

Fig 9

Fig.10

Trang 16

12

Hình15: ngao nuôi trong mương nước thải từ ao nuôi tôm Mũi tên màu đen chỉ nguồn nước thải từ ao nuôi tôm Mũi tên màu trắng chỉ mương được sử dụng để nuôi ngao

Nuôi ngao thành công trong kênh nước thải từ ao nuôi tôm được chỉ ra trong hình 1

L ưu ý là nuôi ngao trong ao nước thải không được nghiên cứu tốt để đầy đủ để khuyến cáo một cáhc thuyết phục Tuy nhiên, theo các điều kiện phù hợp đã làm cho việc nuôi ngao bằng việc sử dụng nguồn nước thải thành công Các điều kiện này bao gồm: dòng chải/lưu lượng nước trong mương tốt, khả năng hấp thụ ánh sáng tốt, nguồn nước bảo đảm sạch Năng suất ngao nuôi đối với mô hình này thu được đạt 30 tấn/hecta ở tỉnh Quảng Bình

Mặt khác, cũng ở Quảng Bình, một vài nông dân đã sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm để nuôi ngao thì tỷ lệ chết của ngao rất cao và năng suất thu được rất thấp (hình 16) Điều này có thể khuyến cáo rằng nuôi ngao trong ao nước thải rủi ro rất cao Sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu là xử lý nguồn nước thải và xác định mức dinh dưỡng phù hợp cho ngao phát triển Tuy nhiên, nuôi ngao trong ao sử dụng nguồn nước thuỷ triều đã thu được kết quả tốt

Trang 17

13

Hình 16: Nguồn nước ô nhiễm cho tỷ lệ chết của ngao nuôi cao Mũi tên chỉ ngao đã bị chết nổi lên khỏi bề mặt nền đáy trong ao

4 Nuôi ngao ngo ài bãi triều

Nghề nuôi ngao truyền thống được tiến hành ngoài bãi triều Trước khi dự án CARD tri ển khai, nguồn ngao giống nuôi thả được thu gom ngào tự nhiên Con giống spat được mua từ những người thu gom, họ gom từ những ngư dân với số lượng nhỏ lẻ từ

độ thả) Vì thế, lựa chọn vị trí nuôi phù hợp là yếu tố quan

tr ọng để nuôi ngao ngài bãi tri ều thành công.

4.1 Lựa chọn vị trí

Các vùng triều có thể phân ra thành vùng cao triều, trung triều và hạ triều Hầu hết ngao được tìm thấy ở vùng trung triều triều trở xuống, nơi thường xuyên hoặc có thời gian ngập nước dài Các vùng

ít ảnh hưởng hoặc không có Hình 17 Các trang trại nuôi ngao ở bãi triều ở Bắc

trung bộ Việt nam Có rào chắn Arrow is indicating

net fence Có thể quan sat thấy khu vực trong nom

Trang 18

14

ảnh hưởng của thuỷ triều sẽ không phù hợp cho việc nuôi ngao Vị trí nuôi phù hợp có nền đáy là cát (80%) và bùn (20%), độ mặn giao động trong khoảng 7 đến 35 ppt Tuy nhiên, phù hợp cho ương và nuôi ngao thương phẩm là 19-26 ppt Ngao giống phát triển tốt hơn ở mức độ mặn thấp hơn

4.2 Chuẩn bị vùng nuôi

Các hoạt động liên quan tới việc chuẩn bị vùng nuôi là hạn chế, không giống như chuẩn

bị ao nuôi, việc theo dõi quản lý được tiến hành nhiều hơn Bãi nuôi cần phải được cày xới để bay hơi, cho ráo nước và loại bỏ địch hại trong vây nuôi Tuy nhiên, không có bất

kỳ một sự tác động nào thêm như bón vôi, bón phân…Nguồn nước tự nhiên với lưu tốc dựa vào chế độ thuỷ triều

Vị trí được lựa chọn để nuôi ngao cần thiết phải vây bằng lưới (kích thước 4-5mm) Chiều cao của lưới từ 0,6-0,7 m từ mặt đáy và được chôn dưới đáy từ 0,4-0,6 m Để chống chịu lại dòng chảy và sóng gió, sử dụng cọc tre với khoảng cách 1,2 -1,5 m được liên kết với nhau bằng lưới nylon (hình 17) Bãi nuôi được bố trí theo hình chữ nhật hoặc bậc thang dọc theo bãi triều để giảm thiểu tác động trực tiếp của sóng và thuỷ triều

4.3 Quy trình thả ngao giống

Ngao giống có thể được ương nuôi từ cỡ nhỏ từ 10.000 đến 40.000 con/kg Sau 2 đến

3 tháng ngao giống đạt kích thước 0,5cm Ở giai đoạn này con giống được sàng lọc, phân cỡ và di chuyển đến những nơi phù hợp Điều này cũng làm giảm mật độ và đáp ứng nhu cầu thức ăn cục bộ cho từng vùng

Tr ong quá trình nuôi, các loài địch hại thâm nhập vào bãi nuôi, vì thế phải thường xuyên kiểm tra vây bãi để loại bỏ địch hại và những cá thể ngao chết Ngao giống nếu phải vận chuyển từ vùng này đến vùng khác, tốt nhất là tiến hành vào ban đêm, tránh ánh sánh trực tiếp, nếu có thể Thời gian nuôi ngao thương phẩm nằm trong khoảng 10 – 18 tháng, tuỳ thuộc vào kích thước con giống Dưới đây là kích thước và mật độ nuôi thả được khuyến cáo

độ phù hợp và kích cỡ giống Các yếu

t ố khác trong hệ thống nuôi không thể thay đổi như hệ sinh thái tự nhiên liên quan đến sản lượng đánh bắt, là nghề chính của cộng đồng ven biển

Th í nghiệm nuôi ngao vùng triều được

ti ến hành ở vùng bãi triều cửa sông

Hình 18 Mô hình nuôi ngao trình diễn ở vùng bãi triều

Trang 19

15

thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá Các điều kiện môi trường như nhiệt độ nước, ôxy hoà tan, pH và độ mặn nằm trong khoảng phù hợp cho ngao phát triển Độ đục và sự biến động độ mặn cao, nằm trong vùng đặc trưng của hệ sinh thái cửa sông, không ảnh

h ưởng đến sinh trưởng và phát triển của ngao Nhiệt độ nước giao động trong khoảng 23,59±2,40 o C trong quá trình thí nghiệm không phải là tối thích cho ngao phát triển

Th í nghiệm nuôi bãi triều được tiến hành trong 24 ô, với diện tích 50 m 2 mỗi ô cho 8 thí nghiệm (mỗi thí nghiệm bố trí 3 lần lặp) Ngao giống kích thước nhỏ (1,0 cm) được bố trí

ở 4 mật độ khác nhau: 0,5, 1,0, 2,0 và 3,0 tấn/ha, gọi lần lượt là T1, T2, T3 và T4 Ngao giống lớn hơn (1,7 cm) cũng được bố trí ở 4 mật độ khác nhau: 3,4, 6,8, 13,6 và 20,6

t ấn/ha, được gọi là T5, T6, T7 và T8 (mật độ đã được điều chỉnh dựa vào mật độ thực

t ế sau khi thả) Thời gian thí nghiệm trong 165 ngày

Hình19 Tỷ lệ sống của ngao kích thước 1.0cm và 1.7cm nuôi ở các mật độ khác nhau

Giá trị (Average ± S.D) theo các ký hiệu là khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05) T1, T2, T3 và T4 là thí nghiệm ngao (1cm) nuôi ở mật độ 0.5, 1.0, 2.0 và 3.0 tons/ha; T5, T6, T7 và T8 là thí nghiệm của ngao kích thước 1,7cm nuôi ở các mật độ 3.4, 6.8, 13.6 và 20.6 ton/ha

Ảnh hưởng của mật độ nuôi thả ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, có ý nghĩa thống kê, ở nhóm con giống kích thước 1,7cm Mật độ thả càng cao thì tỷ lệ sống càng thấp Tỷ lệ sống của ngao ở các mật độ nuôi thả khác nhau được mô tả trong hình 19 Tỷ lệ sống của ngao cao đối với mật độ nuôi thửa, hầu như có kết quả tương tự với các thí nghiệm T2

và T3 Thí nghiệm T1 và T4 khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Ở nhóm kích

th ước lớn hơn, thí nghiệm T7 và T8 có kết quả tỷ lệ sống thấp và khác nhau không có ý nghĩa thống kê so với các thí nghiệm T5 và T6 Mặt khác, tỷ lệ sống của ngao không chỉ ảnh hưởng bởi mật độ nuôi thả mà còn ảnh hưởng bởi kích thước con giống

Hình 20: Tăng mật độ nuôi thả thì tăng sản lượng thụ hoạch

Trang 20

16

Thông thường ở giai đoạn con non, động vật thường có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn Đối với ngao, kích thước nhỏ (1 cm) tăng trưởng nhanh hơn kích thước lớn (1,7 cm) nếu nuôi cùng mật độ Trên các vùng triều, các yếu tố môi trường và thức ăn không thể kiểm soát mà chủ yếu dựa vào tự nhiên Chế độ thuỷ triều, sóng và dòng nước mang

t ảo, các vật chất hữu cơ làm thức ăn cho ngao Tuy nhiên, ngao là động vật ăn lọc và

th ụ động ở đáy, vì thế với một sinh khối nào đó thức ăn tự nhiên có thể không đủ cho chúng tăng trưởng Kết quả theo dõi tăng trưởng cho thấy ở mật độ cao (3 tấn/ha) tăng

tr ưởng chậm và tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt khi tăng mật độ nuôi thả giống cao Đối với kích thước con giống lớn hơn, sản lượng cuối cungd của thí nghiệm tăng có ý nghĩa thống kê khi tăng mật độ nuôi thả ban đầu (p<0,05), trong khi gia tăng sinh vật lượng khác nhau không có ý nghĩa (p>0,05) ở thí nghiệm T5 và T6 Tỷ lệ % gia tăng sinh vật lượng trái ngược, giảm khi tăng mật độ nuôi thả và khác nhau không có ý nghĩa (p>0,05) ở mật độ nuôi thả lớn nhất là T7 và T8

Giá trị % gia tăng sinh vật lượng chứng tỏ rằng mật độ nuôi thả là một yếu tố liên quan đến tăng trưởng cua ngao Tuy nhiên, sự gia tăng về sinh vật lượng và sản lượng cuối cùng của ngao chỉ ra rằng lợi ích có thể đạt được nếu xác định được mật độ nuôi thả phù hợp của chúng Hiệu quả kinh tế cần được đánh giá dựa vào mức độ đầu tư vốn ban đầu

Ở nhóm kích thước nhỏ hơn chỉ ra lãi ròng cao nhất ở thí nghiệm T4, tiếp theo là T3 và T2 Mặt dù sản lượng cuối cùng và gia tăng sinh vật lượng với việc tăng mật độ nuôi thả kết quả là tăng giá trị đầu ra, lãi ròng với nhóm kích thước nhỏ hơn như ở thí nghiệm T4 Điều này có thể giải thích là phần giá trị con giống tương đối cao, trong khi tăng

tr ưởng và tỷ lệ sống của thí nghiệm này thấp hơn các thí nghiệm khác Với tính toàn này, mật độ thả 2 ton/ha có thể được khuyến cáo cho việc nuôi ngao ngoài bãi triều với kích cỡ con giống 1 cm, trong thời gian 6 tháng

Với nhóm giống kích thước lớn hơn, lãi ròng rõ ràng giảm khi tăng mật độ thả giống, mặc dù sản lượng cuối cùng và gia tăng sinh vật lượng tăng Như đã thảo luận ở trên,

hi ệu quả đầu tư thấp ở thí nghiệm có mật độ nuôi thả cao Do mức đầu tư tăng, giá trị con giống và giá con giống nên lợi nhuận giảm Với kết quả thí nghiệm đã có, khuyến cao là sinh vật lượng giống thả không nên cao hơn 6,8 tấn/ha để có hiệu quả đầu tư cao nhất.

4.4 Qu ản lý, chăm sóc và thu hoạch

Th ường xuyên kiểm tra vây, lưới để chắc chắn hư hổng là rất cần thiết Với tác động của thuỷ triều, ngao có thể bị thoát ra ngoài Ngao thông thường tập trung ở các góc của vây nuôi do ảnh hưởng của thuỷ triều, vì thế định kỳ di chuyển ngao cho chúng phân bố đều trong vây Nếu có nhiều chất tích tụ dưới đáy trong quá trình nuôi, tốt nhất

là cày xới đáy sau 3 đến 4 tháng nuôi tuỳ thuộc vào điều kiện nền đáy Do quay vòng vốn và cơ hội trong về nhu cầu tiêu thụ, ngao có thể được thu tỉa những cá thể có kích

cỡ thương phẩm Đây cũng là cách

để giảm mật độ ngao nuôi nhằm

t ăng tốc độ tăng trưởng Ngao có kích cỡ lớn thường bán được giá

h ơn, vì thế ngao thu hoạch sau đó được phân cỡ trước khi đem tiêu

th ụ

Thu hoạch ngao thường được tiến

h ành trong lúc thuỷ triều rút, ngao

Hình 21: Hướng dẫn phân loại ngao sau thu hoạch

Ngày đăng: 22/06/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4. So sánh tỷ lệ thanh thục của ngao nuôi ở các nền đáy khác nhau (Mean±SD) - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Hình 4. So sánh tỷ lệ thanh thục của ngao nuôi ở các nền đáy khác nhau (Mean±SD) (Trang 10)
Hình  3.  Tỷ  lệ  sống  của  nuôi  vỗ  với sự  khác nhau về nền đáy - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
nh 3. Tỷ lệ sống của nuôi vỗ với sự khác nhau về nền đáy (Trang 10)
Hình 5 Chuẩn bị ao và bón vôi cho ao nuôi ngao - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Hình 5 Chuẩn bị ao và bón vôi cho ao nuôi ngao (Trang 11)
Hình 16: Nguồn nước ô nhiễm cho tỷ lệ chết của ngao nuôi cao. Mũ i t ên chỉ ngao đã bị chết nổi lên khỏi bề mặt nền đáy trong ao - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Hình 16 Nguồn nước ô nhiễm cho tỷ lệ chết của ngao nuôi cao. Mũ i t ên chỉ ngao đã bị chết nổi lên khỏi bề mặt nền đáy trong ao (Trang 17)
Bảng 1. Điều kiện môi trường ở các địa điểm thí nghiệm - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 1. Điều kiện môi trường ở các địa điểm thí nghiệm (Trang 35)
Bảng 2. Sự tăng trưởng của ngao ở cỡ giống nuôi là 1.0 cm - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 2. Sự tăng trưởng của ngao ở cỡ giống nuôi là 1.0 cm (Trang 35)
Bảng 3. Sự tăng trưởng của ngao ở cỡ giống nuôi là 1.7 cm - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 3. Sự tăng trưởng của ngao ở cỡ giống nuôi là 1.7 cm (Trang 36)
Bảng 4. Sản lượng ngao khi nuôi ở cỡ giống 1.0cm - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 4. Sản lượng ngao khi nuôi ở cỡ giống 1.0cm (Trang 36)
Bảng 5. Sản lượng ngao khi nuôi ở cỡ giống 1.7cm - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 5. Sản lượng ngao khi nuôi ở cỡ giống 1.7cm (Trang 37)
Bảng 6. Thành phần axít béo của ngao nuôi ở các kích cỡ ngao giống khác nhau và mật - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 6. Thành phần axít béo của ngao nuôi ở các kích cỡ ngao giống khác nhau và mật (Trang 38)
Bảng 7. Giá trị kinh tế của 2 cỡ giống ngao khác nhau ở các mật độ nuôi khác nhau - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
Bảng 7. Giá trị kinh tế của 2 cỡ giống ngao khác nhau ở các mật độ nuôi khác nhau (Trang 39)
Đồ thị 1. Tỷ lệ sống của ngao cỡ 1.0 cm nuôi ở các mật độ nuôi khác nhau. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
th ị 1. Tỷ lệ sống của ngao cỡ 1.0 cm nuôi ở các mật độ nuôi khác nhau (Trang 40)
Đồ thị 2. Tỷ lệ sống của ngao cỡ 1.0 cm nuôi ở các mật độ nuôi khác nhau. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển miền trung Việt nam - Milestone 11 " potx
th ị 2. Tỷ lệ sống của ngao cỡ 1.0 cm nuôi ở các mật độ nuôi khác nhau (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm