hondurensis gọi tắt là PCHthể hiện khả năng thich nghi tốt trên một loạt các khảo nghiệm từ Bắc đến Nam Việt Nam, trong số các xuất xứ được đánh giá đã quan sát thấy sự sai khác giữa các
Trang 1TỔNG KẾT LẠI QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ THÍCH NGHI CỦA CÁC LOÀI THÔNG CARIBAEA Ở VIỆT NAM
Mark J Dieters1, Hà Huy Thịnh2,Phan Thanh Hương2, and Huỳnh Đức Nhân3
Tháng 10 2006
Báo cáo là một phần của Dự án CARD 033/05VIE: Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển rừng trồng thông caribeae và thông lai
có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam.(Đầu ra 1.1 của Dự án)
Tóm tắt
Thông caribaea (Pinus caribaea) được trồng ở Việt Nam từ năm 1963 Từ đó đến nay, loài
thông này đã được đánh giá trên hầu hết các khu vực có tiềm năng trồng Thông ở Việt Nam Như một phần của Dự án CARD 033/05 VIE, nhiều trong số các khảo nghiệm có sự tham gia của thông caribaes đã được kiểm tra và các khảo nghiệm quan trọng đã được đo
lại vào đầu năm 2006 Báo cáo này tóm lược lại khả năng sinh trưởng của P caribaea tại
các khảo nghiệm được xây dựng từ năm 1976 của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh và Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Hà Nội
Số liệu được đối chiếu từ nhiều nguồn khác nhau và số liệu mới thu thập được phân tích theo cách cho phép so sánh được trực tiếp với kết quả các khảo nghiệm trước đây Số liệu của các khảo nghiệm trên 25 năm được lấy từ 17 khảo nghiệm được trồng trên các điểm thuộc 4 vùng sinh thái chính của Việt Nam, nơi có triển vọng nhất cho việc xây dựng rừng trồng thông – đó là vùng Bắc bộ, Trung bộ, Tây nguyên và Đông nam bộ Kết quả của các khảo nghiệm này thể hiện rõ ràng khả năng sinh trưởng vượt trội của thông caribaea
(P caribaea) so với Thông ba lá (P kesiya), Thông nhựa (P merkusii) và Thông đuôi ngựa (P massoniana)
Thông caribaea biến chủng hondurensis (P caribaea var hondurensis) (gọi tắt là PCH)thể hiện khả năng thich nghi tốt trên một loạt các khảo nghiệm từ Bắc đến Nam Việt Nam, trong số các xuất xứ được đánh giá đã quan sát thấy sự sai khác giữa các xuất xứ khá ít
Tuy nhiên, nó thể hiện rằng các xuất xứ của chủng hondurensis được trồng ở Việt Nam
chắc chắn đã được chọn dựa trên các kết quả đánh giá của các khảo nghiệm xuất xứ của nước ngoài; tất cả các xuất xứ đã trồng đều đã được xếp loại tốt trong loạt khảo nghiệm xuất xứ của Oxford và/hay CAMCORE Chỉ một số ít mô hình của Thông caribaea biến
chủng Bahamas (i.e P caribaea var bahamensis, PCB) được đánh giá; tuy nhiên, các khảo nghiệm được trồng ở miền Bắc Việt Nam, sinh trưởng của PCB là luôn tốt so vớiPCH hay các loài khác Hơn nữa, chúng luôn cho hình dáng thân đẹp và tính kháng sâu bệnh hại tốt hơn so với PCH Tình hình sinh trưởng của giống Thông caribaea thứ ba là (P caribaea var caribaea, PCC có nguồn gốc từ Cuba) là rất kém so với PCH và các loài thông địa phương Một đề xuất cho các hoạt động chọn tạo giống và cải thiện giống trong tương lai nên tập trung vào PCH và PCB cho các tỉnh miền Bắc Việt Nam, và PCH cho các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam Việc phát triển và khảo nghiệm các giống thông lai xem ra khá khó khăn, nên chỉ được xem như là sự ưu tiên nghiên cứu thứ hai
1 Khoa khoa học đất và lương thực, Trường Đại học Queensland, St Lucia Queensland 4072, Australia
2 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
3
Trang 2Bối cảnh
Pinus caribaea Morelet, đặc biệt là P caribaea Morlet var hondurensis (Sénéclauze)
W.H Barrett & Golfari (PCH)đã chứng tỏ khả năng sinh trưởng nhanh và thích nghi tốt với vùng sinh thái rộng nhiệt đới và bán nhiệt đới (Gibson 1982, Birks và Barnes 1990, Dvorak
và cs 2000) Hai biến chủng khác của P caribaea (như var bahamensis (PCB) và var
caribaea (PCC)) cũng chứng tỏ được tiềm năng trên các rừng trồng thương mại ở một số vùng trên thế giới và hầu hết các giống này đều thể hiện khả năng chống chịu với một số loài sâu bệnh hại (Baylis and Barnes 1989, Khả và cs 1989) và khả năng chịu được sự tàn phá của gió tốt hơn các giống (PCH) vùng Trung Mỹ (Birks & Barnes 1990, Dieters & Nikles 2001) Hơn nữa, PCB đã chứng tỏ được khả năng chống chịu với điều kiện nhiệt độ thấp tốt hơn hoặc PCC hoặc PCH (Nikles 1966 p 103, Duncan và cs 1996),điều này là khá ngạc nhiên khi mà phân bố tự nhiên của nó ở độ cao thấp dọc vùng Bahama và quần đảo Caicos PCH đã được trồng thành rừng nhiều nhất với diện tích lớn ở Venezuela và Queensland Australia, trong khi đó một diện tích đáng kể PCC đã được trồng ở các vùng miền Nam Trung Quốc (Dieters & Nikles 1997)
P caribaea được trồng đầu tiên tại Đà Lạt vào năm 1963 (Khả 2003, trang 181) theo cách
để thăm dò tiềm năng của loài này dưới dạng rừng trồng thương mại nhằm luân phiên với
các loài cây lá kim bản địa như Thông nhựa (P merkusii) và Thông ba lá (P kesiya) Các khu trồng ban đầu đã chứng tỏ được tiềm năng của P caribaea ở Việt Nam dẫn tới việc
xây dựng một mạng lưới các khảo nghiệm từ năm 1976 đến đầu những năm 1980 để có được sự đánh giá chi tiết hơn về sinh trưởng và tìm kiếm nguồn biến dị xuất xứ Trong các loài Thông được trồng ở Việt Nam, Thông caribaea đã chứng tỏ được khả năng vượt trội của mình về cả khả năng thích nghi và tỷ lệ sinh trưởng, cũng như có hình dáng thân và
đặc điểm cành nhánh đẹp hơn Thông ba lá (P kesiya), Thông đuôi ngựa (P massoniana) hay Thông nhựa (P merkusii) (Lê Đình Khả) và nó được xem như là một trong số loài
thông có triển vọng nhất cho trồng rừng thông ở Việt Nam (Khả và cs 2002) Do khả năng
thích nghi, sinh trưởng và hình dáng thân tuyệt vời của nó, P caribaea đã được mong chờ
là loài cây trồng rừng luân phiên với các loài Keo (Acacia sp.) và Bạch đàn (Eucalyptus sp.) trên vùng đồi thoái hoá và các vùng đất cằn cỗi của Việt Nam, tạo ra nguồn nguyên
liệu bột giấy sợi dài cho sản xuất giấy cũng như gỗ xẻ chất lượng cao cho xây dựng và đồ
gỗ dân dụng Một loạt các khảo nghiệm gần đây được trồng để đánh giá những tác động
của việc quản lý tập trung cho năng suất của P caribaea với nỗ lực để đạt tối đa năng suất
trên các khu rừng trồng
Báo cáo này tóm lược lại các kết quả của các khảo nghiệm có sự tham gia của P caribaea
được xây dựng từ năm 1976 tại 4 vùng sinh thái chính của Việt Nam (miền Bắc Việt Nam
từ Hà Nội, mở rộng sang khu vực biên giới Trung Quốc; các điểm độ cao thấp ở miền Trung Việt Nam đến Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam (khu phụ cận với TP Hồ Chí Minh) trên các loại lập địa được tin là phù hợp với việc trồng rừng thông (Bảng 1; Bản đồ 1) Số liệu tóm tắt được lấy từ các khảo nghiệm được trồng bởi Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh (FRC)4 và Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI)5
Báo cáo này nhằm: tóm lược lại tất cả các thông tin (phù hợp) sẵn có về sinh trưởng của P caribaea ở Việt Nam; đưa ra các ý kiến đề xuất liên quan đến khả năng thích nghi của các giống P caribaea trên mỗi vùng sinh thái chính của Việt Nam; và xác định các tổ hợp
thông lai có thể trồng thành công ở Việt Nam
4 Các khảo nghiệm được trồng tại 4 điểm của vùng miền Bắc Việt Nam vào năm 1976
5 Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV) ở Hà Nội, và các đơn vị hợp tác ở các tỉnh khác của Việt Nam
Trang 3Bảng 1: Vùng và chi tiết địa lý của các khảo nghiệm P caribaea được trồng ở Việt Nam
Địa điểm trồng Tỉnh Vĩ độ Kinh độ Độ cao
(m) Lượng mưa (mm) Vùng Thái Long Tuyên Quang 21° 45'N 105° 14'E 60-90 1600 Bắc bộ Yên Kiện Phú Thọ 21° 35'N 105° 12'E 60-80 1600 Bắc bộ Sơn Nam Tuyên Quang 21° 33'N 105° 27'E 60-120 1600 Bắc bộ Đền Hùng Phú Thọ 21° 22'N 105° 20'E 50 1600 Bắc bộ Đải Lại Vĩnh Phúc 21° 10'N 105° 17'E 50 1500 Bắc bộ
Ba Vì Hà Tây 21° 07'N 105° 26'E 50 1680 Bắc bộ Đông Hà Quảng Trị 16° 50'N 107° 05'E 50 2370 Trung bộ Pleiku Gia Lai 13° 59'N 108° 00'E 800 2270 Tây Nguyên
Đà Lạt Lâm Đồng 11° 57'N 108° 26'E 1500 1730 Tây Nguyên Lang Hanh Lâm Đồng 11° 57'N 108° 26'E 960 1730 Tây Nguyên Song Mây Đồng Nai 11° 15'N 107° 06'E 40-60 1640 Đông Nam bộ
(gần TP.HCM) Chú ý: Độ cao so với mặt biển là con số xấp xỉ
Bản đồ 1: Nơi các khảo nghiệm trồng P caribaea ở Việt Nam
Trang 4Các khảo nghiệm Thông caribaea ở Việt Nam
Số liệu tóm tắt (giá trị trung bình các điểm) được giới thiệu cho tổng số 17 khảo nghiệm được xây dựng giữa năm 1976 và 2001 (Bảng 2) Số liệu được đối chiếu từ các khảo
nghiệm P caribaea sẵn có, nhiều trong số chúng đã được kiểm tra lại bởi các cán bộ Dự án
của cả Việt Nam và Queensland, và số liệu bổ sung đã được thu thập từ: a) một số các khảo nghiệm cũ được xem như vẫn có giá trị để cung cấp dữ liệu luân kỳ sau cho bản tổng kết này; và b) các khảo nghiệm loài/ xuất xứ/ quản lý lâm sinh được xây dựng từ năm 2000 (Bảng 2)
Tuân thủ theo những đánh giá giai đoạn trước, tất cả số liệu được thu thập năm 2006 đều được phân tích theo cơ sở giá trị trung bình mỗi ô, và thể tích thân cây được tính theo công thứ sau:
f ht
dbh
⎠
⎞
⎜
⎝
⎛
=
2
2
Trong đó, đường kính ngang ngực (dbh) và chiều cao vút ngọn (ht) đều được quy đổi ra
dm, và hệ số hình dạng (f) được giả định bằng 0.5 Dựa trên kinh nghiệm ở Queensland,
việc sử dụng công thức tính thể tích này sẽ vượt quá giá trị thể tích thực Do đó, số liệu thể tích hiện tại nên được xử lý cẩn thận Tuy nhiên, vì tất cả số liệu từ trước đã sử dụng hệ số hình dạng 0.5 này nên số liệu mới vẫn phải tiếp tục để có thể so sánh giữa các khảo nghiệm Thể tích cây cá thể được cộng giá trị trong mỗi ô, và được chia cho diện tích ô và tuổi để đánh giá lượng tăng trưởng trung bình hàng năm được thể hiện bằng m3/ ha/ năm Các khảo nghiệm cũ (ví dụ như khảo nghiệm được trồng trước năm 1985) bao gồm cả các
loài thông khác như P kesiya, P merkusii và P massoniana để so sánh (Bảng 2) Tại thời điểm đó các loài này đã được sử dụng trên hầu hết các khu rừng trồng ở Việt Nam - P massoniana ở miền Bắc Việt Nam, và P kesiya và P merkusii ở miền Trung và miền Nam
Việt Nam Kết quả so sánh giữa các khảo nghiệm loài này đã được báo cáo bởi một số tác
giả (Ståhl 1988, Điện 1989 and Khả 2003, trang 182) và kết luận chung là P caribaea sinh
trưởng nhanh hơn các loài thông khác trên một loạt các khảo nghiệm ở Việt Nam Chẳng
hạn như, Điện (1989, p.64) kết luận rằng “Pinus caribaea sinh trưởng nhanh hơn các loài
thông khác ở tất cả các điểm khảo nghiệm” Tuy nhiên, số liệu về sinh trưởng của các loài thông khác trên các khảo nghiệm ban đầu năm 1976) được trồng bởi FRC chưa được bao gồm ở đây – chi tiết đầy đủ về sinh trưởng của tất cả các loài trong các khảo nghiệm này
đã được giới thiệu trong báo cáo đầy đủ của Ståhl’s (1988) Báo cáo này sẽ tập chung vào đánh giá tình hình sinh trưởng liên quan tới 3 loài thông caribaea và biến dị xuất xứ trong các loài này
Trang 5
Table 2: Danh sách các khảo nghiệm được sử dụng để xem xét lại khả năng sinh trưởng của P caribaea ở Việt Nam
Đo lần cuối
TT Vùng Địa điểm Loại khảo nghiệm Loài/ nhóm loài Năm trồng Số công thức Số cây/ô Số lặp Khoảng
cách trồng Ngày tháng Tuổi (năm)
1 Bắc bộ Đền Hùng - Phú Thọ KN loài và xuất xứ P CH , P MERK , P OOC ,
P KES
2 Bắc bộ Sơn Nam-Tuyên Quang KN loài và xuất xứ P CH , P MERK , P OOC ,
P KES
3 Bắc bộ Thái Long- Tuyên Quang KN loài và xuất xứ P CH , P MERK , P OOC ,
P KES
4 Bắc bộ Yên Kiện - Phú Thọ KN loài và xuất xứ P CH , P MERK , P OOC ,
P KES
6 Bắc bộ Đại Lải - Vĩnh Phúc KN loài và xuất xứ P CH , P CC , P MASS ,
P MERK , P OOC , P EE
15 Bắc bộ Cẩm Quỳ - Hà Tây KN so sánh nhóm loài P CB , P CC , P CH , P EE ,
Loài\ nhóm loài: P CB = P caribaea var bahamensis, PCC =P caribaea var caribaea, PCH = P caribaea var hondurensis, PEE =P elliottii, PKES =P kesiya, PMASS =
P massoniana, PMERK = P merkusii, POOC =P oocarpa
Trang 6Sinh trưởng và tỷ lệ sống
Các kết quả được trình bày ở đây là sự tập hợp các số liệu từ các khảo nghiệm được trồng trên 25 năm của Việt Nam, được xây dựng theo một loạt các mục tiêu Các khảo nghiệm
giai đoạn đầu nhằm đánh giá sinh trưởng của P caribaea so sánh với các loài thông địa phương (P kesiya, P merkusii, và P massoniana) Sau đó, chuyển sang đánh giá biến dị xuất xứ trong loài P caribaea, và cuối cùng là điều tra đánh giá tiền năng sinh trưởng của
P caribaea thông qua việc sử dụng phân bón Nhưng do thời gian quá dài nên kết quả đã
bị thất bại bởi tỷ lệ sống thấp (thường dưới 50%) ở nhiều khảo nghiệm do một số nguyên nhân: khai thác trộm, cháy rừng và cả áp dụng biện pháp lâm sinh không thích hợp Mức
độ sai khác cả trong và giữa các khảo nghiệm chắc chắn dựa theo sự đánh giá của đường kính và thể tích của các nhóm loài ở giai đoạn muộn hơn, do đó số liệu chiều cao có thể là tính trạng đáng tin cậy nhất để so sánh giữa các loài Hơn nữa, công thức tính thể tích chưa đáng tin cậy để so sánh sự sai khác về thể tích giữa các loài hay giữa các giống thông caribaea ở Việt Nam, do đó sự sai khác về độ thon của thân và độ dày vỏ sẽ có nhiều biến đổi trong loài và nhóm loài Vì chưa có công thức tính thể tích đáng tin cậy cho thông caribaea ở Việt Nam, nên việc tính toán năng suất nên chỉ được xem như là con số tương đối
Các khảo nghiệm của FRC, Phù Ninh trồng năm 1976:
4 khảo nghiệm được trồng bởi FRC từ năm 1976 ở miền Bắc Việt Nam (Bảng 2, Khảo nghiệm 1 – 4) để đánh giá sự sai khác giữa các loài và biến dị xuất xứ bên trong loài Các
khảo nghiệm này bao gồm tất cả 3 biến chủng của P caribaea (4 xuất xứ của PCH,và 1 của PCB và PCC,Bảng 3; tuy nhiên, xuất xứ thứ 5 của PCH (Alimicamba) có ở 1 điểm nhưng không có số liệu cho xuất xứ này) Khảo nghiệm được trồng ở Thái Long đã bị hư hại nhiều do cháy rừng vào năm 1977 khi khảo nghiệm này mới chỉ gần 2 năm tuổi, dẫn đến chết khá nhiều, do đó không có kết quả cho khảo nghiệm này Số liệu được trình bày cho 3 khảo nghiệm còn lại ở giai đoạn 8 tuổi (Bảng 4) và Sơn Nam ở giai đoạn 25 tuổi (Bảng 5)
Bảng 3: Xuất xứ của P caribaea được trồng bởi FRC
Mã Xuất xứ Kinh độ Vĩ độ Độ cao (m)
202 Poptún, Penten, Guatemala
203 Guanaja Island, Honduras (var
hondurensis)
204 Andros Island, Bahamas
(var bahamensis)
205 Cajalbana, Cuba
(var caribaea)
206 Mountain Pine Ridge, Belize
(var hondurensis)
207 Poptún, Penten, Guatemala
(var hondurensis)
Kết quả chỉ ra rằng khi một loài như P caribaea có khả năng sinh trưởng khá ở vùng miền
Bắc Việt Nam với xuất xứ tốt nhất (Mountain Pine Ridge, 206) có thể đạt độ cao gần 20m
ở giai đoạn 25 năm tuổi trên lập địa Sơn Nam Những kết quả được quan sát ở đây chỉ ra mức độ sai khác về khả năng sinh trưởng giữa các xuất xứ của PCH là khá nhỏ, song PCC (205) lại sinh trưởng khá chậm so với hoặc là PCB hoặc PCH,và được xem như không phù hợp với lập địa miền Bắc Việt Nam Trái lại PCB có sinh trưởng chiều cao nhanh nhất ở
Trang 7giai đoạn 8 năm tuổi (Bảng 4) và nằm trong nhóm thứ 2 chỉ sau xuất xứ Mountain Pine Ridge của PCH ở giai đoạn 25 năm tuổi (Bảng 5) Trong số các xuất xứ PCH được khảo nghiệm, thì nhóm xuất xứ vùng cao Poptún và Mountain Pine Ridge chứng tỏ khả năng sinh trưởng tốt hơn xuất xứ Guanaja
Bảng 4: Chiều cao và thể tích cây trung bình của P caribaea ở giai đoạn 8 tuổi (1984)
tại các khảo nghiệm của FRC (khảo nghiệm 1 – 4 trong Bảng 2)
Đền Hùng Sơn Nam Yên Kiện
Mã Chiều cao (m) (dmThể tích 3 /tree) Chiều cao (m) (dmThể tích 3 /tree) Chiều cao (m) (dmThể tích 3 /tree)
202 6.1 66 8.6 207 8.9 201
203 5.4 56 8.2 188 9.1 164
204 6.9 65 9.4 184 9.6 213
205 6.5 65 6.4 112 9.0 173
206 5.9 56 8.7 216 9.2 200
207 6.1 68 8.5 206 9.0 193 LSD — — 1.16 47.6 0.75 41.7
Chú ý: Mã 204 = P CB , 205 = P CC , các mã khác là P CH
Bảng 5: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình của P caribaea ở giai đoạn 25 tuổi
trồng năm 2002 tại Sơn Nam (khảo nghiệm 2 trong Bảng 2)
Mã Đường kính (cm) cao (m) Chiều (dmThể tích 3 /tree) Tăng trưởng thể tích (m 3 /ha) Số cây sống/ha (tree/ha)
Chú ý: Mã 204 = P CB , 205 = P CC , các mã khác là P CH Trong báo cáo của Ståhl’s (1988), ông đã nhấn mạnh một vấn đề mà không được phản ánh trong số liệu đưa ra ở trên – “sự sai khác rất lớn về hình dáng thân và thót ngọn giữa các
xuất xứ chủ yếu từ vùng Bahamas và các xuất xứ thuộc biến chủng hondurensis giống của
Cuba là trung gian” Nhìn chung PCB có thân thẳng hơn, ít thót ngọn hơn PCH ở tất cả các khảo nghiệm (như báo cáo của Ståhl, 1988), cũng như ở Queensland và một số nơi khác trên thế giới Một điều chắc chắn rằng PCB có độ dày vỏ mỏng hơn PCH.Khi những đặc tính (hình dáng thân đẹp, ít thót ngọn và vỏ mỏng hơn) kết hợp với nhau thì chắc chắn PCB
có thể cho lượng sinh khối có khả năng sử dụng lớn hơn PCH khi được trồng ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam Hơn nữa, PCB vẫn được biết về khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh hại có thể cũng là một ưu thế hơn PCH trên một số khảo nghiệm ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam
Loài và xuất xứ trong các khảo nghiệm loài được trồng từ năm 1980 – 1984:
Vào đầu những năm 1980, 4 khảo nghiệm loài và xuất xứ đã được trồng bởi RCFTI và các đơn vị hợp tác khác – 2 khảo nghiệm ở miền Bắc Việt Nam (tạo Đại Lải) và 2 ở miềm Trung (tại Đông Hà) (Bảng 2, khảo nghiệm 5 -8)
Trong 2 khảo nghiệm được xây dựng tại Đông Hà, mặc dù khảo nghiệm đầu tiên không bố
trí lặp, sinh trưởng của P elliottii chỉ bằng khoảng một nửa P merkusii (Bảng 6) ở giai
Trang 8đoạn 19 tuổi Ở miền Trung Việt Nam, P elliottii thể hiện khả năng thích nghi kém Khảo
nghiệm không có lần lặp tại Đông Hà chỉ gồm giống (PCC) của Cuba sinh trưởng chậm và
cũng không có xuất xứ tốt nhất của P merkusii Khảo nghiệm thứ 2 tại Đông Hà (Bảng 7)
chỉ gồm PCH và P merkusii, trong đó PCH có sinh trưởng chiều cao và thể tích lớn hơn
P merkusii, nhưng đường kính lại nhỏ hơn ở giai đoạn 15 năm tuổi Một chiều hướng
tương tự cũng quan sát thấy ở khảo nghiệm không có lần lặp giai đoạn sớm hơn (Bảng 6)
nơi mà PCC có sinh trưởng chiều cao tốt hơn xuất xứ tốt nhất của P merkusii nhưng đường
kính lại nhỏ hơn
Bảng 6: Sinh trưởng trung bình giai đoạn 19 tuổi của khảo nghiệm loài/ xuất xứ
trồng tại Đông Hà năm 1980 (khảo nghiệm 5 trong Bảng 2)
Loài Xuất xứ/ nguồn gốc Đường kính (cm) Chiều cao (m) (dmThể tích 3 /tree)
Chú ý: Khảo nghiệm này chỉ có một lặp cho mỗi loài/ xuất xứ Trong khảo nghiệm đầu tiên của 2 khảo nghiệm được xây dựng ở Đại Lải miền Bắc Việt
Nam, xuất xứ Honduras của PCH có sinh trưởng chiều cao vượt trội hơn hẳn tất cả các loài
khác; tuy nhiên, tỷ lệ sống lại rất kém (Bảng 8) Thông đuôi ngựa (P massonianna) là
nhóm thứ 2 sau PCH,tiếp đến là P oocarpa6 và PCC.Sinh trưởng của P elliottii ở đây khá
hơn ở Đông Hà (Bảng 6) nhưng vẫn kém so với PCH,PCC và P massoniana Thông nhựa
(P merkusii) được coi là cây lá kim bản địa đã không sinh trưởng tốt hơn so với P
caribaea hay P massoniana ở Đại Lải, với sinh trưởng chiều cao về căn bản là thấp hơn
(Bảng 8)
Khảo nghiệm cuối cùng của bộ 4 khảo nghiệm này không có bât kỳ một loài thông địa
phương nào – chỉ có những loài từ Americas (Bảng 9) Một lần nữa xuất xứ Honduras của
PCH lại có sinh trưởng chiều cao vượt trội hơn so với các xuất xứ khác và tương đương với
P oocarpa, song vượt rõ ràng so với PCC và P elliottii
Kết luận này chứng tỏ rằng PCH chắc chắn sinh trưởng vượt trội cả về chiều cao và đường
kính so với P merkusii và P massoniana ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, và vượt hơn về
sinh trưởng chiều cao so với P merkusii của miền Trung Việt Nam PCC có sinh trưởng
kém hơn so với các loài thông địa phương và PCH trên tất cả các điểm khảo nghiệm ở miền
Bắc và miền Trung Việt Nam P elliottii có khả năng thích nghi kém trên các điểm khảo
nghiệm ở miền Trung
Bảng 7: Sinh trưởng trung bình giai đoạn 15.6 năm tuổi của khảo nghiệm loài trồng tại
Đông Hà năm 1984 (khảo nghiệm 8 trong Bảng 2)
Loài Đường kính (cm) Chiều cao (m) (dmThể tích 3 /tree)
6 Có khả năng là P tecunumanii – P tecunumanii đã không được phânloại rõ ràng từ P oocarpa cho đến
sau khi khảo nghiệm này được xây dựng
Trang 9Bảng 8: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 19 tuổi của khảo nghiệm
loài/xuất xứ trồng tại Đại Lải năm 1981 (Khảo nghiệm 6 trong Bảng 2)
Loài Nguồn gốc Đường kính (cm) cao (m) Chiều (dmThể tích 3 /tree) Tỷ lệ sống (%)
P massoniana
Yên Lập - Quảng Ninh 22.8 16.3 344.5 29
P massoniana
Lộc Bình – Lạng Sơn 22.2 16.7 342.0 27
Giá trị trung bình chung 22.7 14.8 23.8
Chú ý: Kết quả này đã được báo cáo bởi GS Khả (2003, Bảng 7.6, trang 182)
Table 9: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 17,8 tuổi của khảo nghiệm
loài/xuất xứ trồng tại Đại Lải năm 1982 (Khảo nghiệm 7 trong Bảng 2)
Loài
Xuất xứ/ nguồn gốc
Đường kính (cm)
Chiều cao (m)
Thể tích (dm 3 /tree)
Tỷ lệ sống (%)
P caribaea var hondurensis Honduras 16545 23.2 17.1 392 15
Giá trị trung bình chung 21.6 15.1 20
Khảo nghiệm xuất xứ của P caribaea được xây dựng giữa năm 1987 và 1991
Trong giai đoạn 5 năm từ 1987 đến 1991, RCFTI và các đơn vị công tác khác đã xây dựng
6 khảo nghiệm xuất xứ của P caribaea: 2 ở miền Bắc, 1 ở miền Trung; 2 ở Tây Nguyên và
1 ở miền Nam, Việt Nam (khảo nghiệm 9 – 14, Bảng 2) Các khảo nghiệm này khác các
khảo nghiệm trước bởi không có sự có mặt của bất cứ loài thông địa phương nào và chỉ
gồm các nguồn hạt từ Queensland (Australia) và từ địa phương cũng như từ khu phân bố tự
nhiên
Kết quả từ các khảo nghiệm này giai đoạn giữa 8,7 và 18,8 năm tuổi (Bảng 10 – 15, Biểu
đồ 2 và 3) chỉ ra rằng có khá ít biến dị giữa các xuất xứ của PCH Tất nhiên chưa có mô
hình để đánh giá sinh trưởng được quan sát cho các xuất xứ ở các khảo nghiệm này –
nguồn hạt từ những nơi có độ cao thấp như Alamicamba và Guanaja không thể xem như để
kết luận một cách phù hợp là tốt hơn hay kém hơn so với nguồn hạt từ nơi có độ cao cao
hơn như Poptun hay Mountain Pine Ridge (MPR) Không có nguồn gốc xuất xứ nào được
Trang 10coi là phản ánh sự thích nghi đối với các kiểu lập địa ở Việt Nam (đặc biệt là độ cao thấp
so sánh với độ cao cao) như kiểu nguồn hạt từ nơi có độ cao thấp của lại sinh trưởng tốt ở lập địa có độ cao cao như ở Cao nguyên miền trung và nguồn hạt ở nơi có độ cao cao hơn lại sinh trưởng tốt trên lập địa có độ cao thấp như ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam
Hai khảo nghiệm (Bảng 11 và 13) có 3 biến chủng của P caribaea Sinh trưởng tương đối
của các giống này khác nhau giữa 2 khảo nghiệm – khảo nghiệm đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam tại Hà Tây, và khảo nghiệm thứ 2 ở Tây Nguyên tại Pleiku Ở miền Bắc Việt Nam, đường kính trung bình của PCB là tương đương với PCH, nhưng các xuất xứ tốt nhất của
PCB có sinh trưởng chiều cao lớn hơn nhiều so với các xuất xứ tốt nhất của PCH (Bảng 11) Tuy nhiên, PCC lại tỏ ra sinh trưởng kém hơn với cả PCB và PCH trên các điểm khảo nghiệm ở miền Bắc Việt Nam Ngược lại, khảo nghiệm ở Pleiku, PCC lại sinh trưởng nhanh nhất so với tất cả các giống được đưa vào khảo nghiệm (Bảng 13) với đường kính trung bình lớn nhất, trong khi PCB nhìn chung lại có đường kính và thể tích trung bình nhỏ nhất Sự khác nhau này giữa 2 điểm Hà Tây và Pleiku có thể phản ánh sự sai khác về tuổi giữa các khảo nghiệm và sai khác về đường cong sinh trưởng của các giống này, hay sự sai khác về nguồn gốc hạt Như một sự lựa chọn, sự sai khác quan sát được có thể phản ảnh sự sai khác thực về khả năng thích nghi của các giống thông caribaea tại các điểm khảo
nghiệm của Việt Nam – đưa ra giả thuyết là giống bahamensis có khả năng thích nghi tốt hơn ở miền Bắc Việt Nam, trong khi giống caribaea từ Cuba thích nghi tốt hơn ở Tây Nguyên Ngược lại, giống hondurensis lại tỏ ra có khả năng thích nghi tốt hơn nhiều so với
hoặc PCB hoặc PCC, sinh trưởng tốt trên dải độ cao rộng ở Việt Nam
Nguồn hạt đã được cải thiện của Thông caribaea được nhập từ Queensland mà có trong các khảo nghiệm này có biểu hiện sinh trưởng tương đương hay tốt hơn các nguồn hạt tự nhiên của PCH đã được khảo nghiệm (Biểu đồ 2 và 3) Số lô hạt của Queensland đã được khảo nghiệm có thể được lấy từ vườn giống thế hệ 1, bao gồm phần lớn các cây đã được chọn lọc của xuất xứ Mountain Pine Ridge (MPR) từ Belize Trong chu kỳ đầu tiên của chương trình cải thiện giống ở Queensland hầu hết tập trung vào việc cải thiện hình dáng thân của thông caribaea, và đạt được mức tăng thu di truyền tương đối nhỏ về sinh trưởng (Nikles 1996) Các kết quả trình bày ở các bảng và biểu đồ này không phản ánh được sự cải thiện
về hình dáng thân, cái mà đã có bằng chứng rõ ràng khi những khảo nghiệm này ở Pleiku
và Song May được đo lại vào đầu năm 2006 Tuy nhiên, rõ ràng rằng nguồn vật liệu được chọn từ Queensland có thể và đã thể hiện khả năng sinh trưởng tốt khi được trồng ở hầu hết các loại lập địa ở Việt Nam (từ Bắc, Trung, Tây Nguyên và Nam bộ)
Khả năng sinh trưởng chung của 3 giống thông caribaea đã quan sát ở các khảo nghiệm này là hoàn toàn phù hợp với những kết quả đã được báo cáo cho các khảo nghiệm xuất xứ quốc tế, nơi mà PCH luôn thể hiện khả năng sinh trưởng nhanh hơn nhiều trên dải lập địa rộng so với hoặc PCB hoặc PCC,song lại có độ thẳng thân và khả năng chịu đựng với sự tàn phá của gió nhìn chung lại kém hơn (Birks and Barnes 1990) Tuy nhiên, với lượng khá
nhỏ biến dị xuất xứ của P caribaea var hondurensis được tìm thấy trong loạt khảo nghiệm
này và các khảo nghiệm trước tương phản với những nghiên cứu trước đây (chẳng hạn như của Birks and Barnes 1990, Dvorak et al 1993, Dvorak et al 2000, Hodge and Dvorak 2001), các sai khác lớn đã quan sát được giữa các xuất xứ của PCH Các biến dị xuất xứ hạn chế quan sát được ở các khảo nghiệm ở Việt Nam, có thể là kết quả của một thực tế là các khảo nghiệm này nhìn chung chi có những xuất xứ sinh trưởng nhanh – ví dụ như Birks and Barnes (1990) liệt kê 3 xuất xứ Guanaja, Alamicamba và Queensland như là 3 trong số 5 xuất xứ đứng đầu; báo cáo của Crockford và cs (1990) Queensland và Guanaja, Mountain Pine Ridge và Alamicamba như là 4 trong 5 xuất xứ đúng đầu; Dvorak và cs (2000, p 28) liệt kê Limón, Queensland, Guanaja, Poptún và Alamicamba nằm trong số những xuất xứ sinh trưởng nhanh nhất Ngược lại các xuất xứ mà những báo cáo trước đây