1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng lẽ công bằng trong bản án số 04

10 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Lẽ Công Bằng Trong Bản Án Số 04/2020/DS-ST
Tác giả Lê Bá Trường
Trường học Văn phòng Luật sư Phúc Cầu
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2020
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 33,75 KB
File đính kèm Áp dụng lẽ công bằng.rar (31 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp dụng lẽ công bằng là một giải pháp giải quyết tranh chấp dân sự khi các bên trong quan hệ dân sự không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, bình luận việc áp dụng lẽ công bằng trong Bản án số 042020 về việc giải quyết vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nuôi con của vợ và nhân tình (Sau đây gọi là Bản án số 042020DSST). Với cách giải quyết thuyết phục về các vấn đề pháp lý trong vụ án của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tôi mong muốn sẽ lựa chọn, phát triển bản án trên thành án lệ, bảo đảm sự thống nhất trong thực tiễn xét xử.

Trang 1

ÁP DỤNG LẼ CÔNG BẰNG TRONG BẢN ÁN SỐ 04/2020/DS-ST CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Lê Bá Trường1

TÓM TẮT:

Áp dụng lẽ công bằng là một giải pháp giải quyết tranh chấp dân sự khi các bên trong quan hệ dân sự không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, bình luận việc áp dụng lẽ công bằng trong Bản án số 04/2020 về việc giải quyết vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nuôi con của vợ

và nhân tình (Sau đây gọi là Bản án số 04/2020/DS-ST) Với cách giải quyết thuyết phục về các vấn đề pháp lý trong vụ án của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tôi mong muốn sẽ lựa chọn, phát triển bản án trên thành án lệ, bảo đảm sự thống nhất trong thực tiễn xét xử

Từ khoá: Lẽ công bằng, bình luận, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

ABSTRACT:

Applying fairness is a solution to resolve civil disputes when the parties in a civil relationship have no agreement, the law has no regulations, no customs, and cannot apply similar laws and principles basic principles of law and case law Within the scope of this article, the author analyzes and comments on the application of fairness in Judgment No 04/2020 on resolving civil cases requesting compensation for non-contractual damages due

to raising children of the wife and husband mistress (Hereinafter referred to as Judgment

No 04/2020/DS-ST) With a convincing solution to the legal issues in the case of the Council of Judges of the People's Court of Thanh Ba district, Phu Tho province, I hope to select and develop the above judgment into a precedent, ensuring justice consistency in judicial practice

Keywords: Fairness, commentary, compensation for non-contractual damages

1 Chuyên viên pháp lý, Văn phòng Luật sư Phúc Cầu, Email: lebatruong.lbt@gmail.com , SĐT: 0396744751

1

Trang 2

1 Một số vấn đề chung về lẽ công bằng theo pháp luật Việt Nam

Hiện nay, trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự các toà án gặp không ít những khó khăn Trong đó, khó khăn mà các toà án thường gặp phải đó là giải quyết các vụ việc dân sự mà không có các quy định của pháp luật để áp dụng Thực tế này đồng thời ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các cá nhân, tổ chức khi muốn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án Để giải quyết khó khăn trên và trên cơ sở kế thừa những điểm ưu điểm của hệ thống thông luật (Common Law), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) đã có quy định về việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý

do chưa có điều luật để áp dụng Theo Khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015, “Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân

sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định” Khoản 1 Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) quy định: “1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự 2 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”.

Như vậy có thể thấy, khái niệm lẽ công bằng lần đầu tiên xuất hiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam và được ghi nhận là cơ sở để Tòa án giải quyết các vụ án, vụ việc theo các điều kiện nhất định Các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam có những quan điểm nhìn nhận và đưa ra các định nghĩa khác nhau về lẽ công bằng nhưng theo Khoản 3,

Điều 45 BLTTDS năm 2015: “Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải, được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó” Theo quy định này,

lẽ công bằng có một số đặc điểm chính như sau:

Thứ nhất, lẽ công bằng phải là lẽ phải, những điều hợp lý, hợp tình, phù hợp với các

quy tắc xử sử, các chuẩn mực đạo đức; là lẽ phải và có sự hợp lý2

Thứ hai, lẽ công bằng phải là những điều được xã hội thừa nhận, tức là được sự thừa

nhận của số đông do những yếu tố được nêu trong mục thứ nhất3

Thứ ba, lẽ công bằng phải phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình

đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc, đặc điểm này của lẽ công bằng đảm bảo rằng lẽ công bằng là những giá trị tốt đẹp, nhân văn, được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan4

Để có thể áp dụng lẽ công bằng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Tòa án phải tuân theo các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 BLDS năm 2015 như sau: (i) Vụ việc được giải quyết là vụ việc phát sinh từ quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự; (ii) Các bên tranh chấp không có thỏa thuận; (iii) Pháp luật không có quy định; (iv)

2 Nguyễn Thị Minh Huệ, Áp dụng lẽ công bằng trong Án lệ số 04/2016/AL và Án lệ số 07/2016/AL, số chuyên đề bình luận án – Tạp chí Nghề luật, tr 58;

3 Nguyễn Thị Minh Huệ, Áp dụng lẽ công bằng trong Án lệ số 04/2016/AL và Án lệ số 07/2016/AL, số chuyên đề bình luận án – Tạp chí nghề luật, tr 58;

4 Nguyễn Thị Minh Huệ, Áp dụng lẽ công bằng trong Án lệ số 04/2016/AL và Án lệ số 07/2016/AL, số chuyên đề bình luận án – Tạp chí nghề luật, tr 58;

2

Trang 3

Không có tập quán được áp dụng; (v) Không thể áp dụng tương tự pháp luật; (vi) Không áp dụng được các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự; (vii) Không có án lệ

Có quan điểm cho rằng: “Khi áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, trong phần nội dung vụ án và nhận định của Toà án phải ghi rõ những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền, nghĩa vụ liên quan để qua đó căn

cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những sự kiện

để áp dụng lẽ công bằng Căn cứ phán quyết của toà án là dựa trên lẽ công bằng, các yếu tố của lẽ công bằng được mô tả, viện dẫn áp dụng Thay vì viện dẫn điều luật trong các vụ tranh chấp có luật để áp dụng hoặc có tập quán để áp dụng hoặc có luật để áp dụng tương

tự hoặc có án lệ để áp dụng, thì trường hợp lẽ công bằng được áp dụng để giải quyết tranh chấp cũng phải được toà án xác định rõ” 5 Ý kiến này có những điểm hợp lý nhất định khi

cho rằng Hội đồng xét xử cần xác định rõ ràng rằng căn cứ để Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định là dựa trên lẽ công bằng và các yếu tố của lẽ công bằng được mô tả, viện dẫn cụ thể - đây là cơ sở quan trọng để các đương sự đưa ra các lập luận để thực hiện quyền kháng cáo, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở các cấp xét xử cao hơn

Ý nghĩa của việc áp dụng lẽ công bằng khi giải quyết các vụ việc dân sự đã được thừa nhận rộng rãi tuy nhiên song hành với điều đó là những quan ngại về việc có thể có những

sự tùy tiện khi áp dụng lẽ công bằng để xét xử khi chưa có những hướng dẫn cụ thể về việc

áp dụng lẽ công bằng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Do đó, có nhiều ý

kiến cho rằng “Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có quy định (văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành điều luật) rõ các nội dung về lẽ công bằng làm căn cứ để Toa án

áp ̀ dụng giải quyết các vụ, việc dân sự khi pháp luật chưa can thiệp kịp” 6

Vậy trên thực tế, trong thời gian qua lẽ công bằng đã được áp dụng để giải quyết các

vụ việc dân sự hay chưa? Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ số liệu, thống kê nào về việc đã có bao nhiêu bản án, vụ việc đã áp dụng lẽ công bằng để giải vụ các vụ việc dân sự

Tuy nhiên, “Ở nước ta, trước khi BLDS năm 2015 ra đời, khái niệm “lẽ công bằng” chưa từng được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng trong một chừng mực nào đó, nó vẫn được ghi nhận và thể hiện trong các quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và chính từ những quyết định Giám đốc thẩm này, sau đó đã được TANDTC tuyển chọn và phát triển thành các Án lệ hiện nay” 7 Phân tích, bình luận Bản án 04/2020/DS-ST ngày 28/05/2021 về bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng thì có thể thấy lẽ công bằng đã được áp dụng khi Hội đồng thẩm phán TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ giải quyết vụ án

2 Áp dụng lẽ công bằng trong Bản án số 04/2020/DS-ST

2.1 Nội dung vụ án

5 Phùng Trung Tập, Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01, tháng 01/2020;

6 Nguyễn Hương (2015), Một số vấn đề về “Lẽ công bằng” theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015,

http://trungcapluatdonghoi.edu.vn/vi/news/Nghien-cuu-trao-doi/Mot-so-van-de-ve-Le-cong-bang-theo-quy-dinhcua-Bo-luat-To-tung-dan-su-2015-1057.html ;

7 Hồ Ngọc Điệp (2019), Tòa án và nguyên tắc xét xử theo lẽ công bằng, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/toaan-va-nguyen-tac-xet-xu-theo-le-cong-bang ;

3

Trang 4

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã đưa

vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nuôi con của vợ và nhân tình giữa nguyên đơn là anh Đinh Hồng V và bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh H Nội dung vụ án như sau:

Anh Đinh Hồng V và chị Nguyễn Thị Thanh H kết hôn với nhau năm 2009 Trong quá trình kết hôn anh chị có 02 người con chung là cháu Đinh Thị Hồng G sinh ngày 01/3/2010 và cháu Đinh Tùng L sinh ngày 15/12/2015 Sau khi kết hôn anh V làm nghề buôn bán lâm sản và lái xe, chị H ở nhà nuối con và không có việc làm ổn định Đến ngày 06/02/2020 anh V và chị H ly hôn Sau khi ly hôn do nghi ngờ cháu Đinh Tùng L không phải là con ruột của mình nên anh V đã đi xét nghiệm ADN và biết rằng cháu L không phải

là con ruột của anh Anh V cho rằng việc nuôi con của người khác là điều anh không thể chấp nhận được nên anh V đã khởi kiện ra Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ yêu cầu chị H bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho việc anh V đã nuôi cháu L không phải là con của anh

2.2 Quan điểm và lập luận của nguyên đơn

Trong đơn khởi kiện và tại phiên toà anh Đinh Hồng V trình bày việc lấy vợ sinh con

là hoạt động vốn có của con người với mục đích là được hưởng lợi về tình cảm và sinh con

để cậy nhờ khi tuổi già Tuy nhiên, việc cháu L không phải là con ruột của anh nên anh cảm thấy thất vọng và việc anh nuôi cháu L từ khi chị H sinh ra là không phù hợp Vì vậy anh yêu cầu chị H phải bồi thường cho anh tiền nuôi dưỡng đối với cháu Đinh Tùng L với số tiền

là 121.000.000 đồng, cụ thể:

- Tiền ăn: 40.000 đồng/1 ngày (1.200.000 đồng/tháng);

- Tiền sữa: 10.000 đồng/ 1 ngày (300.000 đồng/tháng);

- Tiền bỉm: 450.000đồng/tháng (trong 02 năm);

- Tiền quần áo: 3.000.000 đồng/tháng (250.000 đồng/tháng);

- Tiền thuốc men khi ốm đau: 2.000.000 đồng/năm (166.000 đồng/tháng);

- Tiền chi phí mổ đẻ cho chị H: 15.000.000 đồng/tháng;

- Tiền học nhà trẻ từ 3 tuổi: 7.000.000 đồng/năm (600.000 đồng/tháng);

- Tiền công chăm sóc: 2.000.000 đồng/tháng

2.3 Quan điểm và lập luận của bị đơn

Tại phiên toà chị Nguyễn Thị Thanh H đưa ra quan điểm và lập luận rằng: Trong thời gian hôn nhân với anh Đinh Hồng V, chị có đi buôn bán và có quan hệ ngoài luồng và có thai với người khác Tuy nhiên anh V chấp nhận việc chị có thai với người khác và sinh ra cháu Đinh Tùng L, anh V chấp nhận nuôi để làm phúc Chị không đồng ý bồi thường vì trong thời kỳ hôn nhân anh V cũng có quan hệ ngoài luồng và anh V đã chấp nhận sự kiện trên

Về thu nhập nuôi con chị H trình bày: Trong thời gian chung sống, từ tháng 10/2009 -tháng 11/2011, chị ở nhà chăm con, phụ với bố mẹ chồng không có thu nhập, khi đó anh V đang trong quân đội Tháng 12/2011 đến tháng 7/2015 chị và anh V buôn bản quế cùng nhau, trung bình thu nhập của cả hai anh chị là 20.000.000 đồng/tháng Từ tháng 8/2015 đến tháng 5/2016 chị nghỉ ở nhà sinh con, chăm con, lo trông thợ xây nhà, không có thu nhập Tháng 6/2016 đến tháng 02/2020 chị kinh doanh quần áo sau đó chuyển sang kinh doanh quán bia, thu nhập bình quân 6.500.000đ/ tháng Còn anh V làm nghề lái xe, có thu nhập

4

Trang 5

Trong thời gian chị đi làm có thu nhập thì anh V không đưa tiền cho chị trang trải cuộc sống mà chỉ có trả tiền lãi, tiện điện Thời gian chị nghỉ ở nhà không có thu nhập, anh

V có để cho chị chỉ tiêu trung bình 3.000.000đ/ tháng Khi chị sinh cháu L là sinh mổ chi phi hết 12.000.000đ, anh V đã chi trả cho bệnh viện khoản tiền này Chi phí nuôi cháu L hàng tháng: Tiền ăn, tiền sữa, tiền bim 1.000.000/ tháng (ở nhà và trường) Tiền học ở trường 2.200.000₫/ năm Tiền mua quần áo 2.000.000đ

Đến nay anh V yêu cầu tôi bồi thường 2.100.000đ chị không đồng ý, vì khi chị có bầu, anh V nói là không phải con của anh anh vẫn nuôi làm phúc cho con anh sau này, anh V cũng thừa nhận là con anh bằng cách đăng ký khai sinh, nuôi dạy con Hơn nữa chị cũng là người chăm sóc, nuôi dưỡng con, không riêng mình anh V Chị không đồng ý thanh toán bất

kỳ khoản tiền nào cho anh V

Tại phiên toà chị chấp nhận bồi thường chi phí nuôi cháu Đinh Tùng L là 50.000.000 đồng Xác nhận chi phí khi sinh là 12.000.000 đồng

2.4 Hướng giải quyết của Toà án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thứ nhất, về thủ tục tố tụng: Theo quy định của khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân

sự (BLTTDS) năm 2015, Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa

có điều luật để áp dụng Quy định này được cụ thể hóa từ Điều 26 đến Điều 33 BLTTDS Tòa án có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, trừ trưởng hợp tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Do yêu cầu của nguyên đơn không có cơ quan nào giải quyết, do vậy Toà án nhân dân huyện Thanh Ba căn cứ nơi cư trú của bị đơn theo Điều 43 BLTTDS và các nguyên tắc chung theo khoản 2; 3 Điều 45 BLTTDS để giải quyết vụ án

Thứ hai, về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và áp dụng pháp: Nội

dung tranh chấp do nguyên đơn yêu cầu là: Bồi thường khoản tiền chi phí nuôi dưỡng cháu Đinh Tùng L do anh bị lừa dối vì cháu Đinh Tùng L không phải là con đẻ, đồng thời yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần Mặc dù hiện nay chưa có Án Lệ về vụ việc tương tự, pháp luật không quy định đầy đủ trong trường hợp này, nhưng xét thấy:

Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Đinh Hồng V là vợ chồng (đã li hôn ngày 06/2/2020), quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Thanh H đã vi phạm khoản 1 Điều 19

Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Từ việc vi phạm nghĩa vụ trên dẫn đến vụ việc Toà án giải quyết hiện nay Tại bản tự khai

ngày 10/12/2020 chị Nguyễn Thị Thanh H thừa nhận không chung thuỷ và cháu Đinh Tùng

L không phải là con của anh Đinh Hồng V Chị cho rằng khi chị mang thai anh Đinh Hồng

V biết cháu L không phải là con của anh nhưng anh vẫn chấp nhận để nuôi làm phúc Nhưng chị không đưa ra được chứng cứ nào Do vậy, việc anh Đinh Hồng V yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần vì anh bị tổn thương về danh dự, nhân phẩm, uy tín do hành vi của chị Nguyễn Thị Thanh H gây ra là có căn cứ

Thiệt hại về vật chất và tinh thần của anh Đinh Hồng V đương nhiên được mọi người trong xã hội thừa nhận, do vậy cần buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải có trách nhiệm bồi thường

5

Trang 6

Thứ ba, về căn cứ bồi thường: Ngoài căn cứ theo khoản 1 Điều 584 BLDS Toà án

còn áp dụng quy định chung theo Điều 3 BLDS và Lẽ công bằng theo quy định của BLDS

để buộc bồi thưởng Điều 6 Bộ luật dân sự quy định:

“1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

2 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”.

Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, mọi việc làm đều có mục đích Anh Đinh Hồng V nuôi dưỡng chăm sóc cháu Đinh Tùng L là được hưởng lợi về mặt tình cảm và trông cậy lúc tuổi già, nhưng mục đích ấy đã không đạt được Vì vậy, người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường là phù hợp với quy định chung của pháp luật và vì lẽ công bằng

Xét về mức bồi thường: Trong quá trình nuôi dưỡng cháu Đinh Tùng L (51 tháng) anh Đinh Hồng V trình bày chị Nguyễn Thị Thanh H không có nghề nghiệp, không có thu nhập Chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày chị có kinh doanh buôn bán và có thu nhập Các bên có lời khai khác nhau, tuy nhiên theo Luật Hôn nhân và gia đình việc nội trợ gia đình được coi là lao động có thu nhập do đó thu nhập của anh Đinh Hồng V và trách nhiệm nuôi dưỡng cháu L được tính cho cả chị Nguyễn Thị Thanh H Do vậy mức chi phí nuôi dưỡng được tính bằng 2 tổng chi phí

Theo kê khai của anh Đinh Hồng V thì tổng chi phí là 121 triệu đồng Theo xác nhận của UBND xã M chi phí nuôi dưỡng một cháu nhỏ từ 0 tuổi đến 5 tuổi là từ 2.000.000 đồng đến 2.200.000 đồng/tháng Toà án lấy mức bình quân là 2.100.000 đồng làm cơ sở để bồi thường

Về chi phí khi sinh cháu Đinh Tùng L: Anh Đinh Hồng V khai chi phi 15 triệu đồng, chị Nguyễn Thị Thanh H thừa nhận chi phí là 12 triệu đồng do anh V chi trả Sổ tiền này cần buộc chị H phải thanh toán cho anh Đinh Hồng V bằng 1/2 Về mức bồi thường tổn thất tinh thần: Anh Đinh Hồng V yêu cầu bồi thường ở mức cao nhất là 10 tháng lương cơ bản, Hội đồng xét xử quyết định ở mức 08 tháng lương cơ bản

Về tiễn công chăm sóc: Thực tế chị Nguyễn Thị Thanh H giành nhiều thời gian chăm sóc cháu Đinh Tùng L hơn, do vậy cần buộc chị Nguyễn Thị Thanh H thanh toán một phần cho anh Đinh Hồng V

Thứ tư, về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu

án phí

3 Bình luận một số vấn đề pháp lý về lẽ công bằng được áp dụng trong vụ án

Như đã nói ở trên việc áp dụng lẽ công bằng là một giải pháp giải quyết tranh chấp dân sự khi các bên trong quan hệ dân sự không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật,

án lệ Trong quá trình giải quyết vụ án trên Hội đồng xét xử đã viện dẫn các cơ sở pháp lý và

áp dụng lẽ công bằng để giải quyết một cách khách quan và thuyết phục đối với vụ án Toà

án đã viện dẫn quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để căn cứ cho việc chị H vi phạm nghĩa vụ của người vợ, ngoài ra toà án còn nhận định rằng chị

H không thể đưa ra được chứng cứ nào chứng minh rằng anh V chấp nhận nuôi con để làm

6

Trang 7

phúc Do vậy, việc anh V yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần do ông bị tổn thương về danh

dự, nhân phẩm, uy tín do hành vi của chị H gây ra là có căn cứ Thiệt hại về vật chất và tinh thần của ông V đương nhiên được mọi người trong xã hội thừa nhận, do vậy chị H phải có trách nhiệm bồi thường

Về căn cứ bồi thường, ngoài khoản 1 Điều 584 BLDS thì tòa án còn áp dụng quy định chung theo Điều 3 BLDS và lẽ công bằng theo quy định của BLDS Theo Hội đồng xét xử, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, mọi việc làm đều có mục đích Anh V nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L là để được hưởng lợi về mặt tình cảm và trông cậy lúc tuổi già, tuy nhiên mục đích ấy đã không đạt được Vì vậy, người gây thiệt hại phải bồi thường là phù hợp với quy định chung của pháp luật và vì lẽ công bằng

Nghiên cứu nội dung vụ án và hướng giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử tác giả thấy bản án có các điểm tích cực sau đây:

Thứ nhất, hiện nay pháp luật quy định chưa rõ ràng, chưa có án lệ về vụ việc tương

tự, tòa án nhân dân huyện Thanh Ba đã mạnh dạn áp dụng lẽ công bằng để giải quyết Việc này cho thấy sự chính trực, mạnh dạn của Hội đồng xét xử trong việc áp dụng pháp luật và điều này là rất cần thiết để áp dụng các nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Thứ hai, bản án không chỉ tuyên buộc người vợ trả chi phí nuôi dưỡng, công chăm

sóc đứa trẻ mà còn ghi nhận cả về bồi thường tinh thần cho người chồng Điều này là rất hợp

lý bởi người chồng không chỉ bỏ tiền, thời gian, công sức chăm sóc mà còn là tình yêu thương đối với đứa con và cả vợ Vì vậy, việc nuôi con của vợ với nhân tình còn gây tổn thương về tinh thần khi sự yêu thương, chăm sóc đã trái với ý muốn của người chồng

Thứ ba, từ bản án này các tòa án khác sẽ mạnh dạn hơn trong việc áp dụng lẽ công

bằng đối với những vụ việc tương tự và đối tượng áp dụng không chỉ có người vợ mà cả người chồng nếu có hành vi vi phạm tương tự

4 Kiến nghị nội dung phát triển án lệ

Sau khi phân tích, bình luận về việc Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

áp dụng lẽ công bằng trong quá trình giải quyết vụ án trên Tác giả thấy rằng cách giải quyết của Hội đồng xét xử là khách quan, phù hợp và thuyết phục về các vấn đề pháp lý trong vụ

án Chính vì vậy, tác giả kiến nghị phát triển Bản án số 04/2020/DS-ST làm án lệ để có sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng Cụ thể nội dung cần phát triển thành án lệ là:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định của khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015,

“Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” Quy định này được cụ thể hóa từ Điều 26 đến Điều 33 BLTTDS Tòa án có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, trừ trường hợp tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Do yêu cầu của nguyên đơn không có cơ quan nào giải quyết, do vậy Toà án nhân dân huyện Thanh Ba căn cứ nơi cư trú của bị đơn theo Điều 43 BLTTDS và các nguyên tắc chung theo khoản 2; 3 Điều 45 BLTTDS để giải quyết vụ án

[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và áp dụng pháp luật:

Nội dung tranh chấp do nguyên đơn yêu cầu là: Bồi thường khoản tiền chi phí nuôi dưỡng cháu Đinh Tùng L do anh bị lừa dối vì cháu Đinh Tùng L không phải là con đẻ, đồng

7

Trang 8

thời yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần Mặc dù hiện nay chưa có Án Lệ về vụ việc tương tự, pháp luật không quy định đầy đủ trong trường hợp này, nhưng xét thấy:

Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Đinh Hồng V là vợ chồng (đã li hôn ngày 06/2/2020), quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Thanh H đã vi phạm khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” Từ việc vi phạm nghĩa vụ trên dẫn đến vụ việc Toà án giải quyết hiện nay

Tại bản tự khai ngày 10/12/2020 chị Nguyễn Thị Thanh H thừa nhận không chung thuỷ và cháu Đinh Tùng L không phải là con của anh Đinh Hồng V Chị cho rằng khi chị mang thai anh Đinh Hồng V biết cháu L không phải là con của anh nhưng anh vẫn chấp nhận để nuôi làm phúc Nhưng chị không đưa ra được chứng cứ nào Do vậy, việc anh Đinh Hồng V yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần vì anh bị tổn thương về danh dự, nhân phẩm,

uy tín do hành vi của chị Nguyễn Thị Thanh H gây ra là có căn cứ

Thiệt hại về vật chất và tinh thần của anh Đinh Hồng V đương nhiên được mọi người trong xã hội thừa nhận, do vậy cần buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải có trách nhiệm bồi thường

Về căn cứ bồi thường: Ngoài căn cứ theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự Toà án còn áp dụng quy định chung theo Điều 3 BLDS và Lẽ công bằng theo quy định của BLDS

để buộc bồi thường Điều 6 Bộ luật dân sự quy định:

“1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

2 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”.

Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, mọi việc làm đều có mục đích Anh Đinh Hồng V nuôi dưỡng chăm sóc cháu Đinh Tùng L là được hưởng lợi về mặt tình cảm và trông cậy lúc tuổi già Nhưng mục đích ấy đã không đạt được Vì vậy, người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường là phù hợp với quy định chung của pháp luật và vì lẽ công bằng

Xét về mức bồi thường: Trong quá trình nuôi dưỡng cháu Đinh Tùng L (51 tháng) anh Đinh Hồng V trình bày chị Nguyễn Thị Thanh H không có nghề nghiệp, không có thu nhập Chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày chị có kinh doanh buôn bán và có thu nhập Các bên có lời khai khác nhau, tuy nhiên theo Luật Hôn nhân và gia đình việc nội trợ gia đình được coi là lao động có thu nhập do đó thu nhập của anh Đinh Hồng V và trách nhiệm nuôi dưỡng cháu L được tính cho cả chị Nguyễn Thị Thanh H Do vậy mức chi phí nuôi dưỡng được tính bằng ½ tổng chi phí

Theo kê khai của anh Đinh Hồng V thì tổng chi phí là 121 triệu đồng Theo xác nhận của UBND xã Mỹ Lung chi phí nuôi dưỡng một cháu nhỏ từ 0 tuổi đến 5 tuổi là từ 2.000.000 đồng đến 2.200.000 đồng/tháng Toà án lấy mức bình quân là 2.100.000 đồng làm

cơ sở để bồi thường

Về chi phí khi sinh cháu Đinh Tùng L: Anh Đinh Hồng V khai chi phí 15 triệu đồng, chị Nguyễn Thị Thanh H thừa nhận chi phí là 12 triệu đồng do anh V chi trả Số tiền này cần buộc chị H phải thanh toán cho anh Đinh Hồng V bằng 1/2

8

Trang 9

Về mức bồi thường tổn thất tinh thần: Anh Đinh Hồng V yêu cầu bồi thường ở mức cao nhất

là 10 tháng lương cơ bản, Hội đồng xét xử quyết định ở mức 08 tháng lương cơ bản

Về tiền công chăm sóc: Thực tế chị Nguyễn Thị Thanh Hương giành nhiều thời gian chăm sóc cháu Đinh Tùng Lâm hơn, do vậy cần buộc chị Nguyễn Thị Thanh H thanh toán một phần cho anh Đinh Hồng V

9

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ luật Dân sự 2015;

2 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

3 Bản án 04/2020/DS-ST ngày 28/05/2021 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,

https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-ve-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong-vo-ngoai-tinh-phai-boi-thuong-ton-that-tinh-than-cho-217626?

fbclid=IwAR3O6hxy1xVAeg9BMHpc5eXXPSjBXrOyvWYqd1TozwYVR-IQ4ExCfgQmlhg, truy cập ngày 01/11/2023;

4 Nguyễn Thị Minh Huệ, Áp dụng lẽ công bằng trong Án lệ số 04/2016/AL và Án lệ số 07/2016/AL, số chuyên đề bình luận án – Tạp chí nghề luật, tr 58;

5 Phùng Trung Tập, Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01, tháng 01/2020;

6 Nguyễn Hương (2015), Một số vấn đề về “Lẽ công bằng” theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, http://trungcapluatdonghoi.edu.vn/vi/news/Nghien-cuu-trao-doi/Mot-so-van-de-ve-Le-cong-bang-theo-quy-dinhcua-Bo-luat-To-tung-dan-su-2015-1057.html, truy cập ngày 05/11/2023;

7 Hồ Ngọc Điệp (2019), Tòa án và nguyên tắc xét xử theo lẽ công bằng,

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/toaan-va-nguyen-tac-xet-xu-theo-le-cong-bang, truy cập ngày 05/11/2023;

10

Ngày đăng: 02/01/2024, 14:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w