Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu: kiến nghị các giải pháp tăng cường thu hút đầu tư tr nhân theo hình thức PPP trong một số lĩnh vực dịch vụ công từ bài học kinh nghiệm rút ra th
Trang 1TRUONG DAI HOC NGOAI THUONG
TOM TAT LUAN AN TIEN Si ĐẦU TƯ DƯỚI HÌNH THỨC DOI TAC CONG TU (PUBLIC- PRIVATE PARTNERSHIP - PPP) TRONG MOT SO LINH VUC DICH VU CONG: THUC TIEN TAI MOT SO NUOC TREN THE GIOI VA BAI HOC CHO VIET NAM
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Hương Lan
Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia và thư viện trường Đại học Ngoại thương
Trang 33 Đầu tư dưới hình thức đối tác công tư - PPP đối với dịch vụ
công tại Việt Nam
Tạp chí Giáo dục và Xã hội, ISSN: 1859-3917
Số Đặc biệt tháng 10/2019
4 Applying manufacturing extension partnership (MEP) in
science, technology and innovation (STI) institution in vietnam
Kỷ yếu Hội thảo Khoa học SV CTTT-CLC “Đồi mới sáng tạo
cho phát triển bền vững tại Việt Nam” NXB Bách Khoa,
ISBN: 978-604-316-255-4 Đăng tháng 6/2021
5 Đối tác công tư (Public-Private Partnership - PPP) trong lĩnh
vực dịch vụ khoa hoc và công nghệ: một số hình thức hoạt
động trên thế giới và bài hoc cho Việt Nam
Kỷ yếu Hội nghị SV NCKH Kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Đại học Ngoại thương Đăng tháng 11/2020
Trang 4MO DAU
1 Tinh cap thiét
Nhiéu nha nghiên cứu, nhà quản lý, nhà chính sách thừa nhận, hiện nay,
trong các loại hình hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân, hình thức đối tác công - tư (Public - Private - Partnership - PPP) được đánh giá là có hiệu quả, thu hút được nguồn vốn tư nhân tham gia vào các dự án công của Nhà nước, từ đó giúp giảm áp lực cho ngân sách
So với thế giới, PPP tại Việt Nam mới xuất hiện và được chú trọng
trong vòng ba thập niên trở lại đây Đầu tư PPP tại Việt Nam vẫn đang tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực như giao thông, năng lượng, số lượng dự
án hoặc nguồn vốn đầu tư cho các loại dự án thuộc các lĩnh vực khác như các lĩnh vực thuộc dịch vụ công chưa nhiều Mặc dù chủ trương của Nhà
nước là khuyến khích PPP nhưng ý định tham gia đầu tư PPP của tư nhân sẽ
quyết định đến số lượng và chất lượng của các dự án đầu tư PPP, dẫn đến
nhu cầu nghiên cứu các yéu tố thu hút đầu tư PPP của khu vực tư nhân Bên
cạnh đó, để mở rộng triển khai các dự án PPP sang các lĩnh vực thuộc dịch
vụ công, Việt Nam cần tham khảo các bài học của các quốc gia đi trước Các
quốc gia đã có kinh nghiệm về đầu tư PPP trên thế giới như Đức, Trung
Quốc rất đề tâm vào dịch vụ công, đặc biệt là các lĩnh vực thiết thực đối với
đời sống của cư dân như cung cấp điện hay cung cấp nước sạch và đã có nhiều dự án PPP về cung cấp nước sạch và cung cấp điện đã được triển khai
và thành công tại các quốc gia này Đây là lý do Luận án lựa chọn dịch vụ công và đưa ra các trường hợp điện hình của hai lĩnh vực cung cấp nước và cung cấp điện đề tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, từ đó rút ra bài
học cho Việt Nam
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: kiến nghị các giải pháp tăng cường thu hút đầu tư tr nhân
theo hình thức PPP trong một số lĩnh vực dịch vụ công từ bài học kinh nghiệm rút ra thực tiễn đầu tư dưới hình thức PPP của một số nước
Các mục nhiệm vụ cụ thể bao gồm:
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu, từ đó đề xuất các yếu tố ảnh
hưởng đến thu hút đầu tư PPP của khu vực tư nhân vào dịch vụ công
Trang 5Thứ hai, phân tích cơ sở lý luận và rút ra các yếu tố tác động đến thu
hút đầu tư tư nhân vào dịch vụ công theo hình thức PPP
Thứ ba, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam
Thứ tư, nghiên cứu thực trạng thu hút khu vực tư nhân đầu tư PPP trong lĩnh vực dịch vụ công tại Việt Nam
Thứ năm, nghiên cứu định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm
tăng cường thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực dịch vụ công nói chung và
dịch vụ cung cấp nước sạch, dịch vụ cung cấp điện nói riêng theo hình thức PPP tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, các yêu tố nào ảnh hưởng đến thu hút đầu tư PPP của khu
vực tư nhân vao dich vụ công?
Thứ hai, thực trạng PPP đầu tư PPP trên thế giới đang diễn ra như thế nào? Có những khu vực, quốc gia nào có thị trường PPP phát triển có thể
học hỏi? Thực trạng đầu tư PPP tại các khu vực, quốc gia đó đang diễn ra
như thế nào?
Thứ ba, bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam khi nghiên cứu thực
trạng đầu tư PPP tại các khu vực, quốc gia nói trên là gì?
Thứ tư, từ những bài học kinh nghiệm đã rút ra, kết hợp cùng các định
hướng của Đảng, Nhà nước, có thê kiến nghị các giải pháp nào nhằm tăng
cường thu hút tư nhân đầu tư PPP vào lĩnh vực dịch vụ công
4 Tính mới và những đóng góp của luận án
- Về lý luận, luận án đã tong quan các nghiên cứu về PPP trong dịch vụ công, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hình thức PPP trong dịch vụ công, tổng hợp các lý thuyết liên quan, và xác định các yếu tố tác động đến thu hút đầu
tư của khu vực tư nhân vào dịch vụ công theo hình thức đối tác công tư
- Về thực tiễn, luận án phân tích thực trạng đầu tư PPP của một số quốc
gia trên thé giới, phân tích một số trường hợp điển hình của dịch vụ cung
cấp sạc điện và dịch vụ cung cấp nước sạch tại Trung Quốc và Đức, phân tích thực trạng thu hút đầu tư PPP của khu vực tư nhân tại Việt Nam, từ đó
Trang 6rút ra các bài học và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao việc thu hút đầu
tư PPP của khu vực tư nhân vào lĩnh vực dịch vụ công tại Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu được xác định là: (1) các yêu tố tác động đến
thu hút đầu tư PPP của khu vực tư nhân trong dịch vụ công tại Việt Nam, (2) nghiên cứu thực trạng đầu tư dưới hình thức PPP trong lĩnh vực dịch vụ
công ở một số khu vực và quốc gia (trình bày trường hợp điền hình của lĩnh vực cung cấp bốt sạc điện và cung cấp nước sạch)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Pham Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: (1) tại Việt Nam và
(2) thế giới bao gồm Châu Âu, Châu Á, phân tích cụ thể tại các quốc gia Đức, Trung Quốc là các thị trường PPP phát triển ở tầm trung, cao hơn Việt
Nam và có các nét tương đồng về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội (Đưa ra
trường hợp điền hình về trạm sạc điện tại Trung Quốc và cung cấp nước sạch tại CHLB Đức)
+ Pham vi nghiên cứu về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu các tài liệu thứ cấp về PPP nói chung và PPP trong lĩnh vực dịch vụ công trong khoảng
thời gian từ năm 2010 đến 2023 Mặc dù PPP đã được đề cập đến trong các
văn bản từ những năm 1997 trong Nghị định 77-CP của Chính Phủ về ban
hành quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyền
giao áp dụng cho đầu tư trong nước, tuy nhiên chỉ sau năm 2010, cùng với việc ban hành Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Họp đồng BOT, Hợp đồng BTO, và một số dự
án PPP đã được triển khai, hình thức PPP tại Việt Nam mới được chú ý Dữ
liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát doanh nghiệp trong năm 2022
Trang 7+ Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc
tế, luận án phân tích bối cảnh chung về đầu tư PPP, và tập trung vào các yếu
tố pháp lý, thê chế, môi trường kinh tế, chính trị, tài chính tại Châu Âu và
Châu Á, tại Đức và Trung Quốc, riêng tại hai quốc gia Đức và Trung Quốc,
luận án đưa ra hai lĩnh vực dịch vụ cung cấp sạc điện công cộng (tại Trung Quốc) Và cung cấp nước (tại Đức) đề phân tích Đối với Việt Nam, luận án
phân tích bối cảnh chung và phân tích kết quả khảo sát trên cở sở các yếu tố theo mô hình nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng cách tiếp cận kết hợp định tính và định lượng: Phương pháp định tính được thực hiện thông
qua các phương pháp nghiên cứu tại bàn, thu thập, tông hợp, phân tích các
dữ liệu thứ cấp từ các nguồn học thuật, tin cậy Phương pháp case study, trình bày trường hợp điển hình về PPP trong cung cấp bốt sạc điện tại Trung Quốc và cung cấp nước tại Đức Phương pháp định lượng được thực hiện thông qua việc khảo sát doanh nghiệp lấy đữ liệu sơ cấp và kiểm định độ tin cay thang do Cronbach’s Alpha
7 Bồ cục của Luận án
- _ Chương l: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đầu tư dưới hình thức
đối tác công tư trong một số lĩnh vực dịch vụ công
- _ Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư dưới hình thức đối tác công tư
trong một số lĩnh vực dịch vụ công và đề xuất mô hình nghiên cứu
- _ Chương 3: Thực tiễn đầu tư dưới hình thức đối tác công tư tại một
số nước trên thế giới
-_ Chương 4: Đầu tư theo hình thức PPP trong một số lĩnh vực dịch
vụ công tại Việt Nam và kết quả nghiên cứu về các yếu tô tác động đến thu
hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực dịch vụ công theo hình thức PPP
- _ Chương 5: Định hướng phát triển và giải pháp khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực dịch vụ công theo hình thức
PPP tại Việt nam
CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trang 81.1 Tống quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư vào
lĩnh vực dịch vụ công
1.1.1 Nhóm yếu tô liên quan tới khu vực Nhà nước
Luận án tông quan dựa trên các nghiên cứu của Weiling Jiang và cộng
sự (2019), Jeff Youssef và Rayan Nahas (2017), Marian Moszoro và các cộng sự (2015), Maria Basilio (2020)
1.12 Nhóm yếu tố liên quan tới khu vực tư nhân
Luận án tổng quan dựa trên các nghiên cứu của Gil và Beckman (2009),
Torrance (2009), Zhang (2018), McKinsey (2016), Hambros (1999), Walker
(1995)
1.1.3 Nhém yéu té lién quan toi dự án
Luận án tổng quan dựa trên các nghiên cứu của Chege L (2003), Thân
Thanh Son (2014), Reinhardt (2011), Walker (2010), Panayotou (1998)
1.2 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới thu hút đầu
tư tư nhân vào lĩnh vực dịch vụ công theo hình thức PPP
1.2.1 Nhóm yếu tố liên quan tới Nhà nước
Luận án tổng quan dựa trên các nghiên cứu của Haavelmo (1960),
Greene và Villanueva (1991), Elena Vasilyeva (2018), Muzenda (2009), Mona Hammami và cộng sự (2006), PanayIotou (2013), Bogado (2015), Basilio (2011), Sharma (2012), Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), Phan Thị Bích Nguyệt (2013), Zhang (2018) và Phạm Diễm Hằng (2018), Trần Thanh Phương (2022) Robert và cộng sự (2017), Hyun và cộng sự (2018), Hammami va cong su (2006), Kawamura (2020), Yang va cong sự (2020),
Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2013), Nguyễn Thị Hồng Minh (2016), Ye và các cộng sự (2018)
1.2.2 Nhóm các yếu tô liên quan tới khu vực tư nhân
Luận án tổng quan dựa trên các nghiên cứu của Azjen (1991), Cheng (2016), Tang (2016), Zhang (2018), Yang va cộng sự (2020), Ramli (2021)
Robert va Chan (2017), Ye và các cộng sự (2018) Jing Du va cong su (2018)
1.2.3 Nhóm các yếu tô liên quan tới dự án
Luận án tông quan dựa trên các nghiên cứu của Koppenjan và Enserink
(2009), Dada va Oladokun (2011), Fleta-Asin (2021), Waziri va Isa (2017),
Trang 9Schaufelberger & Wipadapisut (2003), Xueqing Zhang (2005), Robert va
Chan (2017); Qiao va cong su (2001); Hardcastle va cong su (2006), Hyun
va Tian (2018), Liu va Wang (2019), Xu (2014), Almarri va Abuhijleh (2017), Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), Trần Thanh Phương (2021)
1.3 Đánh giá chung và khoảng trống nghiên cứu
Từ những đánh giá về tông quan tình hình nghiên cứu ở trên, có thê khẳng định rằng cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu kết hợp phân
tích thực trạng thu hút đầu tư vào PPP trong dịch vụ công tại Việt Nam và
phân tích bối cảnh quốc tê dé rút ra bài học và khuyến nghị giải pháp cho
Việt Nam Do đó, tiếp cận theo hướng này là một hướng đi mới đề tác giả
nghiên cứu chuyên sâu nhằm đưa ra những giải pháp tăng cường thu hút
được khu vực tư nhân tham gia đầu tư dưới hình thức PPP đề thúc đây sự
phát triển địch vụ công tại Việt Nam
CHUONG 2 CO SO LY LUAN VE ĐẦU TƯ DƯỚI HÌNH
THUC BOI TAC CONG TU TRONG MOT SO LINH VUC DICH
VU CONG
2.1 Khái quát chung về đầu tư dưới hình thức đối tác công tư trong
dịch vụ công
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về dau tu PPP
Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Public Private Partnership -
sau đây gọi là đầu tư theo hình thức PPP) là phương thức đầu tư được thực
hiện trên cơ sở hợp tác có thời hạn giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân
thông qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng dự án PPP nhằm thu hút nhà
đầu tư tư nhân tham gia dự án PPP (Luật đầu tư theo phương thức đôi tác
công tư số 64/2020/QH14) Các lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP bao gồm:
(1) Giao thông vận tải; (2) Lưới điện, nhà máy điện; (3) Thủy lợi; cung cấp
nước sạch; thoát nước và xử lý nước thải; xử lý chất thải; (4) Y tế; (5) Giáo
dục - đào tạo; (6) Hạ tầng công nghệ thông tin (Điều 2, Nghị định
35/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021)
Trang 102.1.1.2 Khái niệm về đầu tư PPP trong dịch vụ công
Từ các khái niệm nêu trên, đầu tư PPP trong dịch vụ công có thể hiểu đơn giản là hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực thuộc dịch vụ công thông qua hình thức dự án PPP
2.1.1.3 Khái niệm về thu hút đầu tr PPP trong dịch vụ công trong phạm vi luận an
Trong nội dung của luận án, tác giả đề xuất khái niệm thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP vào lĩnh vực dịch vụ công nhu sau: thu hut đầu tư
tư nhân dưới hình thức PPP vào dịch vụ công là hoạt động lôi kéo, khuyến
khích các nhà đâu tư tư nhân tham gia đầu tư vào các dự án PPP trong lĩnh
vực dịch vụ công nhờ vào sự hấp dẫn của các dự án này, từ đó làm cho khu vực t nhân hình thành nên ý định đâu tư Từ đó, việc nghiên cứu thu hút đầu tư tư nhân vào các dự án PPP trong địch vụ công có thể được xác định
bằng nghiên cứu ý định dau tư của khu vực tư nhân vào các dự án PPP trong
dịch vụ công
2.1.2 Đặc điểm của đầu tư PPP trong dịch vụ công
Ngoài các đặc điểm của đầu tư nói chung, đầu tư PPP mang các đặc
điểm đặc thù của hình thức PPP, thứ nhất là sự hợp tác lâu dài, tận dụng
được lợi thế, nguồn lực (vốn, chuyên môn, kinh nghiệm, ) của khu vực công và khu vực tư; đặc điểm thứ hai là việc chia sẻ sẻ lợi ích, rủi ro giữa các bên trong quá trình triển khai các dự án PPP Bên cạnh đó, đầu tư PPP trong dịch vụ công còn mang cả những đặc thù của dịch vụ công, đó là, (1)
sản phâm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước,
cộng đồng dân cư hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh và (2) Bao gồm dịch
vụ sự nghiệp công và sản phẩm, dịch vụ công ích
2.1.3 Mục tiêu của đầu tư PPP trong dịch vụ công
Mục tiêu của đầu tư PPP trong dịch vụ công tương đồng với mục tiêu
của đầu tư PPP, Theo World Bank (2017) có thể tóm gọn các mục tiêu bao
gồm: Tăng cường đầu tư bằng cách tiếp cận nguồn tài chính tư nhân; Khuyến
khích cách tiếp cận toàn bộ chi phí; Tập trung nhiều hơn vào chất lượng dịch
vụ cho người dùng cuối; Tiếp cận năng lực quản lý bé sung thông qua hoạt động tư nhân; Đạt được giá trị đồng tiền trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng
và dịch vụ công; Nâng cao trách nhiệm giải trình trong việc cung cấp cơ sở
Trang 11ha tang va dịch vụ công cộng; Khai thác sự đổi mới và hiệu quả của khu vực
tư nhân; Kích thích tăng trưởng và phát triển đất nước
2.1.4 Vai trò cia PPP trong dịch vụ công
(1) Thứ nhất, đầu tư PPP giúp tăng vốn đầu tư vì huy động từ nhiều
nguồn hơn hình thức đầu tư truyền thống, tiết kiệm chỉ phí vì một số nhà đầu
tư tư nhân khi tham gia đã có sẵn lợi thế về kinh nghiệm và nguồn lực (2)
Thứ hai, PPP mang lại hiệu quả từ khu vực tư nhân, người ta đã biết đến
hiệu quả từ khu vực tư nhân thông qua mua sắm công theo phương thức truyền thống thuê khu vực tư nhân xây dựng, bảo trì và thiết kế (3) Thứ ba, PPP khuyến khích cải cách khu vực công (4) Thứ tư, PPP giúp giảm rủi ro cho khu vực công
2.1.5 Lợi ích và rủi ro của đầu tư PPP trong dịch vụ công
Theo World Bank (2022), các chính phủ hướng tới hợp tác với khu vực
tư nhân thông qua hình thức PPP vì những lợi ích như sau: (1) hiệu quả trong việc đưa công nghệ và sáng tạo của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các
dịch vụ công; (2) Khuyến khích được khu vực tư nhân thực hiện các dự án đúng hạn và đúng ngân sách; (3) Xác định được kế hoạch ngân sách cụ thể; (4) phát triển năng lực của khu vực tư nhân tại địa phương, tạo ra các cơ hội
ký hợp đồng thầu phụ cho các công ty địa; (5) thu hút và tăng mức độ tham gia của khu vực tư nhân (đặc biệt là nước ngoài) và nâng cao năng lực của các doanh nghiệp; (6) Góp phần xây dựng nền kinh tế bền vững bằng cách làm gia tăng sự cạnh tranh (7) Bồ sung các năng lực còn hạn chế của khu
vực công (8) Kiểm soát được rủi ro trong dài hạn
Tuy nhiên, khi thực hiện PPP, các quốc gia cũng cần cân nhắc đến
những rủi ro mà hình thức này mang lại, có thể kế đến: (1) Rủi ro về tài chính; (2) Có chi phí gắn liền với nợ vay mà khu vực tư nhân gánh chịu; (3)
Rủi ro về thị trường; (4) Rủi ro về chính trị - xã hội; (5) Rui ro các công ty
tư nhân tăng giá dịch vụ; (6) Rủi ro khi triển khai dự án; (7) Rủi ro về phần
trách nhiệm thuộc chính phủ; (8) Rủi ro về quyền sở hữu dữ liệu và công nghệ; (9) Rủi ro về pháp lý; (10) Các rủi ro không lường trước
Trang 122.1.6 Điều kiện để các dự án đầu tư PPP trong dịch vụ công thành
công
Một số điều kiện đã được các công trình đi trước đặt ra và được luận
án tổng hợp lại như sau: (1) chính sách nhất quán, các mục tiêu và nguyên
tắc rõ ràng, thực tế; (2) đội ngũ có đủ năng lực cần thiết; (3) đảm bảo an toàn trong khuôn khổ pháp luật, các luật, quy định cần hiệu quả hơn, đơn giản,
dễ tiếp cận, thực hiện; (4) chính phủ cần phải chấp nhận phần rủi ro của họ
và giúp làm giảm thiểu những rủi ro đã chuyên cho khu vực tư nhân trên tỉnh
thần hỗ trợ lẫn nhau; (5) minh bạch, trung lập trong đấu thầu, không tham
nhũng, lợi ích nhóm; (6) đặt con người lên hàng đầu; (7) gắn liền phát triển
bền vững vào các dự án PPP
2.2 Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết về trình độ phát triển của thị trường PPP thế giới
Theo UNECE (2022), trình độ PPP của các quốc gia chia làm ba giai
đoạn từ thấp đến cao Việc chia trình độ phát triển PPP của các thị trường
(các quốc gia) thành ba cấp độ như trên cũng đã được trình bày trong nghiên cứu của Alexiou (2017) Về góc độ tầm hoạt động, thị trường có quy mô
càng lớn về số lượng dự án, số vốn, nguồn vốn, số lượng và sự tích cực của
các nhà đầu tư càng cao thì được coi là càng phát trién
2.2.2 Lý thuyết về khung phân tích PPP ba cấp độ
Carbonara N, Costantino N, Pellegrino R (2012) cũng phát triển và trình bày khung phân tích PPP bao gồm ba cấp: quốc gia, lĩnh vực/ ngành và
dự án Theo lý thuyết nêu trên, khi đánh giá PPP ở góc độ vĩ mô, các nhà nghiên cứu thường phân tích ở cấp độ quốc gia, bao gồm các yếu tô kinh tế, pháp luật, thé ché, tai chính, trong đó, hai yếu tố đóng vai trò nền tảng là kinh tế và pháp luật, bởi hai yếu tố này quyết định đến môi trường diễn ra
hoạt động đầu tư và thực hiện các dự án PPP Ly thuyét cho rang, trong bối
cảnh thê chế phát triển, PPP ở quốc gia chỉ có thé được phân tích đầy đủ nếu
áp dụng một cách tiếp cận trên nhiều cấp độ
2.2.3 Bộ tiêu chí Inƒrascope của World Bank
Bộ tiêu chí Infrascope của World Bank là một công cụ đánh giá việc
thực hiện hoạt động đầu tư dưới hình thức đối tác công tư (PPP) của các
quốc gia Công cụ này nhằm mục đích giúp các nhà hoạch định chính sách
Trang 13xác định những thách thức đối với dau tu PPP tai timg quốc gia và từng khu vực, từ đó hình thành một thước đo tương đối về trình độ PPP giữa các quốc
gia và cũng có thê giúp chính phủ các nước nắm được điểm mạnh và điểm yếu của thị trường PPP nước mình, từ đó có thê đưa ra những chính sách hợp lý và hỗ trợ phát trin thị trường PPP hiệu quả hơn
2.2.4 Lý thuyết hành động hợp lý (TR4)
Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) do Eishbein và Ajzen xây dựng năm 1975 đã chỉ ra rằng ý định hành vi là yếu tố then chốt dẫn đến
thực hiện hành vi Trong đó, ý định hành vị được quyết định bởi thái độ cá
nhân đối hành vi, cùng sự ảnh hưởng của chuân chủ quan xung quanh việc
thực hiện các hành vi đó Hester va Yuen (1987) đánh giá thái độ va chuẩn
chủ quan có tác động xung quanh việc thực hiện hành vị Nói cách khác, ý
định thể hiện mong muốn được thực hiện hành vi; trong khi đó, thái độ và
chuẩn chủ quan là 2 yếu tố gây ảnh hưởng đến ý định
2.2.5 Lý thuyết hành vi dự định (TPB)
Lý thuyết hành vi dự định (TPB) được Ajzen phát triển từ Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và công bố vào năm 1988 Ajzen (1988) cho rằng
có ba yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định thực hiện một hành vi, đó 1a: Thdi
độ Hướng tới Hanh vi - dựa trên đánh giá của một cả nhân về việc thực hiện
hành vi đó là tốt hay không tốt; Chuẩn mực chủ quan (SN) - Nhận thức về
hành vi bị ảnh hưởng bởi nhận thức của người khác được cho là có liên
quan đến hành vi đó; Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) - Nhận thức của
một cá nhân về khả năng thực hiện một hành vi cụ thể của họ
2.3 Các yếu tố ảnh hướng tới thu hút đầu tư PPP của khu vực tư
nhân vào lĩnh vực dịch vụ công
2.3.1 Yếu tô thuộc khu vực Nhà nước, vĩ mô
Môi trường đầu tư
2.3.2 Yéu tô thuộc về khu vực tư nhân
(1) Thái độ của các công ty tham gia đầu tư theo hình thức đối tác công
tư (PPP); (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
2.3.3 Vếu tô thuộc dự án
Đặc điêm dự án
Trang 142.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu các yếu tô tác động đến thu hút đầu tư tư nhân vào
các dự án PPP trong dịch vụ công được trình bảy tại hình sau:
Các yêu tô liên quan đến khu vực tư nhân:
Thái độ của các công ty: lợi nhuận, quan hệ, danh
tiếng
Chuẩn chủ quan: chính sách khuyến khích từ Nhà
nước, được hỗ trợ bởi các hiệp hội, định chế tài chính |
Nhận thức kiểm soát hành ví: năng lực tài chính,
năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, khả năng tiếp cận
thong tin
Các yếu tố liên quan đến khu vực Nhà nước, vĩ mô (Môi
trường đầu tư) Khung pháp lý 3 ÀÍ Thu hút đầu tư tư nhân vào
/) dy an PPP trong dịch vụ công
Môi trường chính trị, xã hội
Các yếu tổ liên quan đến dự án (Đặc điểm dự án) /
Tính khả thi về kỹ thuật f
Tác động tích cực đến xã hội
Chia sẻ rủi ro
Nguôn: Nghiên cứu sinh tổng hợp
CHUONG 3 THUC TIEN ĐẦU TƯ DƯỚI HÌNH THỨC DOI TAC
CONG TU TAI MOT SO NUOC TREN THE GIOI
3.1 Bối cảnh đầu tư PPP trên thé giới
Dựa trên lý thuyết về trình độ phát triển thị trường PPP của Alexiou (2017) và UNECE (2022), các quốc gia có xu hướng trải qua ba giai đoạn khác nhau trong quá trình các dự án PPP đi vào hoạt động ở mức cao nhất Hầu hết các quốc gia đang ở giai đoạn đầu, nơi mà sự phát triển của các dự
án thực tế vẫn còn yếu Chỉ ở giai đoạn thứ ba, nơi hiện có tương đối ít quốc gia, PPP mới trở nên hoàn thiện nhất Ở giai đoạn này, các quốc gia sẽ phát
triển pháp lý và thé ché can thiét Alexiou, N (2017) va UNECE (2022) cho
rằng nhóm quốc gia có trình độ PPP thuộc nhóm phát triển hiện nay bao gồm Anh, Úc và Ireland Nhóm quốc gia phát triển thứ hai có thể kê đến những
quốc gia như Canada, Mỹ (tại Châu Mỹ), Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, (tại Châu Âu), New Zealand (tại Châu Úc), Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông (tại
Châu Á) Các nước thuộc nhóm đang phát triển hoặc mới bắt đầu chiếm
phần đông và đa số thuộc Nam Mỹ, Châu Á, Châu Phi và chỉ có một số ít