1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề tiểu luận triết quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trường học trường đại học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 27,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI NIỆM LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT, NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNG ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, VẬN DỤNG 1. Quá trình nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và 1. Quá trình nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc xây dựng đất nước quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến của mỗi quốc gia Mà lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dược biết đến là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng luôn cùng tồn tại, không thể tách rời nhau và chúng luôn tác động qua lại lẫn nhau theo cách biện chứng, việc đó tạo nên quy luật phù hợp của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cùng với quan hệ săn xuất.Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mật thiết tạo nên nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất cùng phát triển Tóm lại, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tình chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một điều kiện không thể thiếu nếu muốn phát triển một nền kinh tế

II Đặt vấn đề

Trong lịch sử nhân loại sự phát triển của nền sản xuất xã hội là sự phát triển của những phương thức sản xuất chúng thể hiện cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Trong đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt phương thức sản xuất, chúng cùng tồn tại không thể tách rời, chúng luôn tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo nên quy luật thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng, đó

là quy luật cơ bản nhất vận hánh sự vận động phát của xã hôi loài người

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử của nhân loại

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Do đó, việc giải quyết mâu thẫu giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất không phải là đơn giản

Trang 3

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây chúng ta đã không có được sự nhận thức đúng đắn về quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Cơ chế quan liêu, bao cấp đã bóp méo các yếu tố của quan hệ sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất, kết quả của sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã làm cho mâu thẫu giữa chúng trở nên gay gắt Điều đó khiến cho nền kinh

tế Việt Nam phải ở trong tình trạng khủng hoảng, trì trệ một thời gian dài

Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

Trang 4

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.KHÁI NIỆM LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

1.1LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ở một thời kỳ nhất định Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội

Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dung khái niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn, chắc chắn trái với niềm tin phổ biến Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuất mới và làm cho năng suất lao động tăng lên gấp bội, nhìn chung là khá đáng kể Năng suất lao động được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và suy giảm cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một xã hội trật tự này đối lập với một quy tắc tự xã hội khác nhau, chứng tỏ năng lực lao động được coi là tiêu chí quan trọng nhất như thế nào để đánh giá quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và suy giảm cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một trật tự xã hội này chống lại một trật tự xã hội khác

1.2QUAN HỆ SẢN XUẤT Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội

Trang 5

Trong đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không muốn cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra xong nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội

Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất

là những quan hệ mang tính vật chất của đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội; là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan

hệ khác Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm Xét về mặt lịch sử quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất

- Quan hệ tổ chức quản lý sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội

- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất

Trang 6

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau

Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng có tác động trở lại quan hệ sản xuất

-Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan hệ ý chí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinh tế

-Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

2 NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNG ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng luôn tồn tại không thể tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội

Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn

từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm

và kĩ năng lao động của con người , trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

Trang 7

Gắn liền với trình độ lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa

Sự vận động, phát triển quá trình sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất

Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động và tư liệu sản xuất và

do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở nên không phù hợp Khi đó quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kiềm hãm lực lượng sản xuất phát triển

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, tác động đến thái độ con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phản công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ,… và do đó tác đọng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác Động trong toàn bộ quá trình lịch sử nhân loại Sự thay thế phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là

Trang 8

do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

II VẬN DỤNG

1 Quá trình nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất

Sau giải phóng miền Bắc năm 1954, nước ta bắt đầu một thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất ở miền Nam Trải qua nhiều năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trên cả nước, Đảng ta đã chủ động, sáng tạo thay đổi tư duy về xây dựng CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, trong đó xác định phải đồng thời tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất trong mối quan hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên, trong những năm đầu của thời kỳ này, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò "tích cực" của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất

Trước thời điểm đổi mới (năm 1986), việc vận dụng, giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội, bảo thủ và trì trệ; không tuân theo các quy luật khách quan, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong xác lập quan hệ sản xuất, chúng ta tuyệt đối hoá vai trò của công hữu, làm cho quan hệ sản xuất chỉ còn tồn tại giản đơn dưới hai hình thức toàn dân và tập thể; kỳ thị, nóng vội xoá bỏ các thành phần kinh tế khác, không chấp nhận các hình thức sở hữu hỗn hợp, sở hữu quá độ; xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân một cách ồ ạt, dẫn đến lực lượng sản xuất không phát triển, tình trạng trì trệ kéo dài, sản xuất đình đốn, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn Nền kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển Sản xuất không có tích luỹ, chỉ số giá bán lẻ hàng hóa năm sau

so năm trước luôn tăng ở mức hai con số

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định: Phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, coi đó là tiêu chuẩn đánh giá việc xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định phải giải phóng sức sản xuất, đồng thời đưa ra chủ trương điều chỉnh lớn cơ cấu sản xuất, bố trí lại cơ cấu đầu tư; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc bảo đảm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động

Trang 9

Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm:

Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu… không đạt chỉ tiêu đề ra Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ trong cả nước và nước ngoài Hệ thống tài chính-ngân hàng còn yếi kém và thiếu lành mạnh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công tác này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót Quan hệ một số mặt chưa phù hợp Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước

Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất Những chính sách mới của đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế nước

ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa nền kinh tế nước ta sang một bước đi mới Mọi người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước pháp luật…Tất cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà

Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: “Cần phải nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết Công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mô phù hợp trên từng địa bàn” Trong sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng và nhờ đó, tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất Điều đó càng khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 10

Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trước hết sự phù hợp đó thể hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trước), mặc dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế trong khu vực

và trên thế giới Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của nông dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề ra, đời sống của nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con em nông dân cũng khá hơn trước

2 Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ đổi mới của nước ta

a) Thành tựu

Người lao động nước ta không ngừng được nâng cao về cả chất lượng và số lượng Năm 2005, dân số lao động hoạt động kinh tế ở nước ta là 42,53 triệu người, chiếm 51,2 tổng số dân, mỗi năm nước ta có thêm khoảng 1 triệu lao động Về chất lượng lao động, nếu như năm 1996, tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo là 12,3% thì đến năm

2005 là 25%, như vậy số lao động đã qua đào tạo tăng 2,5 lần,…

Số lao động có chuyên môn kĩ thuật đang làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh chiếm khoảng 21% so với tổng số lao động trong cả nước Đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc Số trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trường phổ thông, 226 trường dân tộc nội trú được mở

Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân , kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản, manh mún của quan hệ sản xuất phong kiến… được công nhận

Ngày đăng: 01/01/2024, 18:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w