1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " 7 Lĩnh vực Cơ hội Nghiên cứu và Phát triển (EPRO) đối với KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH " pdf

109 340 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp 7 lĩnh vực cơ hội nghiên cứu và phát triển (epro) đối với kinh tế và chính sách
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÂY DỰNG KHUNG ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP H ỘI THẢO TIỂU NGÀNH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH NN BẢN THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU 7 Lĩnh vực Cơ hội Nghiên cứu và Phát triển EPRO đối

Trang 1

XÂY DỰNG KHUNG ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT

TRIỂN NÔNG NGHIỆP

H ỘI THẢO TIỂU NGÀNH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH NN

BẢN THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU

7 Lĩnh vực Cơ hội Nghiên cứu và Phát triển (EPRO) đối với

KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH

EPRO 1: Nghiên cứu ngành hàng, phân tích tích thị trường, phân tích và

dự báo chính sách

EPRO 2: Tài nguyên thiên nhiên và quản lý môi trường nông thôn

EPRO 3: Phát triển nghiên cứu, công nghệ và các hệ thống thực hiện

chuyển giao đối với NN và PTNT

EPRO 4: An sinh xã hội đối với người dân nông thôn và xoá đói giảm

nghèo bền vững

EPRO 5: Biến đổi khí hậu

EPRO 6: Phát triển nông thôn

EPRO 7: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp cận thị trường đối

với thương mại nông nghiệp Việt Nam

Tháng 07/2010

Trang 2

EPRO 1: NGHIÊN CỨU NGÀNH HÀNG, PHÂN TÍCH THỊ

TRƯỜNG, PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CHÍNH SÁCH

1 XÁC ĐỊNH EPRO1

1.1 Mục tiêu quốc gia

Để nâng cao khả năng phân tích và dự báo thị trường và tăng cường khả năng cạnh tranh của các mặt hàng chính của Việt Nam ở thị trường trong và ngoài nước đồng thời sử dụng khả năng phân tích dự báo đó làm cơ sở trong việc tư vấn chính sách ngành hàng cho Chính Phủ, bao gồm an ninh lương thực

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1 Để xây dựng bộ cơ sở dữ liệu và hệ thống đánh giá giám sát hiệu quả cho : thông tin thị trường, an ninh lương thực và chiến lược các ngành hành nông sản

2 Để thiết lập 1 nhóm chuyên gia về ngành hàng nông sản tiến hành phân tích và dự báo thị trường ngành hàng, phân tích chính sách của BNN và tư vấn chính quyền và các tổ chức kinh doanh ở địa phương

3 Tiến hành phân tích sâu và thực hiện mô hình thay đổi thị trường ở tầm vĩ mô cả về ngắn hạn và dài hạn, giúp cho công tác dự báo và lập kế hoạch của Bộ NN&PTNT, các nhà chức trách địa phương và các tổ chức kinh doanh nông nghiệp

4 Cung cấp thông tin và nhận định về kết quả phân tích ngành hàng kịp thời thông qua các diễn đàn thảo luận chính sách, hội thảo triển vọng ngành hàng, các ấn phẩm để hỗ trợ khu vực công và tư phát triển thị phần ổn định và có lợi nhuận

Trong quá trình đổi mới, khu vực nông nghiệp đã tăng trên 4,5% hàng năm trong nhiều năm Nông nghiệp Việt Nam đã chuyển sang sản xuất hàng hóa bằng cách khai thác triệt để các lợi thế các tài nguyên đa dạng sinh học Lương thực, thủy sản, chăn nuôi, rau, quả và sản xuất cây công nghiệp đã tăng đáng kể Sản xuất lương thực (bao gồm: thóc, ngô, sắn, và khoai lang) tăng hàng năm Giai đoạn 1996- 2001, tổng sản lượng lương thực đã tăng từ 31,48 triệu tấn lên 39,43 triệu tấn (tương ứng với 5,05% / năm) Từ 2002-2006 sản lượng tăng mạnh hơn, từ 43,1 triệu tấn lên

Trang 3

48,9 triệu tấn (tương đương 2,69%/năm) Cùng thời gian này gia tăng sự cạnh tranh về sử dụng đất và nước giữa sản xuất lúa và cây công nghiệp hoặc các sử dụng khác do quá trình công nghiệp hóa tiếp tục diễn ra đối với nền kinh tế Việt Nam Giai đoạn 2001-2007, hơn 500.000ha (1,2 triệu mẫu Anh) đất trang trại đã bị chuyển đổi thành các khu công nghiệp Đến năm 2008, 125.000ha đất trồng lúa đã bị mất

Theo Bộ NN&PTNT tổng doanh thu xuất khẩu của khu vực nông nghiệp ước tính đạt 13,6 tỉ USD tính đến 10/2008, cao hơn 25,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó các sản phẩm nông nghiệp đạt tới 7,4 tỉ USD, tăng 42,5%; thủy sản đạt 3,8 tỉ USD, tăng 24,2%; sản phẩm lâm nghiệp đạt 2,46 tỉ USD, tăng 16,7% Cũng trong thời gian đó, khu vực nông nghiệp có 5 sản phẩm trong

11 sản phẩm của cả nước có doanh thu hơn 1 tỉ USD ( như: thủy sản, gạo, sản phẩm nông nghiệp,

cà phê và cao su)

Tuy nhiên, các thị trường nông nghiệp đã phải đối mặt với nhiều thay đổi khôn lường trong năm

2008 Trong suốt quý II và III, giá lương thực thế giới tăng mạnh và chỉ dừng lại khi ở giá đỉnh- tăng 300% so với giá lương thực cùng kỳ năm 2007 và sau đó giảm xuống Ví dụ như, cuối tháng

4 năm 2008, giá gạo xuất khẩu đạt mức cao ở ngưỡng 800đôla/tấn kéo theo giá gạo trong nước tăng mạnh, xấp xỉ mức 20.000VND/kg (tương đương 1,3đôla/kg) Trong năm 2009, giá gạo lại giảm Các sản phẩm thịt và các sản phẩm công nghiệp như cao su cũng chịu hoàn cảnh tương tự : đầu năm 2009, giá cao su (1.500USD/tấn) đã giảm gần như ½ so với giá đỉnh điểm trong năm

2008 (2.900USD/tấn) Việc bình ổn giá lương thực là rất quan trọng do việc giá lương thực tăng nhanh sẽ làm giảm sức mua Năm 2007, giá lương thực tăng 14,6% Đầu năm 2008, giá lương thực tăng chóng mặt, dẫn đến việc chi dùng cho lương thực chiếm 43% tổng chi tiêu của hộ gia đình

Trong các nông sản của Việt Nam, gạo chiếm 15%, thủy sản chiếm 30%, cà phê và cao su chiếm tới 80% tổng doanh thu xuất khẩu hàng năm Song song với việc đáp ứng nhu cầu trong nước, xuất khẩu nông nghiệp cũng tăng nhanh cả về chất lượng và giá trị Trong suốt 2 thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông nghiệp lớn nhất trên thế giới bao gồm: gạo, cà phê, hạt điều, tiêu, cao su, trà, thủy sản, Các sản phẩm xuất khẩu nông –lâm nghiệp chiếm từ 30-35% tổng sản xuất nông nghiệp Tỷ lệ xuất khẩu theo từng ngành cụ thể: khoảng 20% cho gạo, 95% cho cà phê, cao su 85%, hạt điều 90%, trà 80% và hạt tiêu 95% Một

số các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đã khẳng định vị trí dẫn đầu trên thị trường thế giới (như: gạo, cà phê, hạt điều, tiêu, và thủy sản) Các thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đã được mở rộng, bên cạnh các thị trường truyền thống như: Trung Quốc, ASEAN, Nga, các quốc gia Đông Âu, Việt Nam đã bước đầu tiến vào một số thị trường tiềm năng như: Trung Đông, EU, Hoa Kỳ và Châu Phi

Việt Nam đang chuyển đổi nhanh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế toàn cầu Cung- cầu đối với nông sản phụ thuộc hầu hết vào sức mạnh thị trường chứ không phụ thuộc vào quyết định áp đặt từ trên xuống như thời kỳ kinh tế nhà nước tập trung Sự chuyển đổi từ lập kế hoạch theo mục tiêu sản xuất tập trung sang theo nhu cầu của các nhà sản xuất, các nhà máy chế biến và các nhà xuất khẩu dựa trên các cơ hội thị trường sẽ mất nhiều thời gian, nhưng nếu không có những dự báo đáng tin cậy thì quá trình chuyển đổi này khó có thể diễn ra Do đó, việc tiến hành các nghiên cứu về phân tích và dự báo thị trường là hết sức cần thiết đồng thời tạo ra các lợi thế

so sánh, sau đó cung cấp hướng dẫn và tạo động lực cho năng lực thị trường nhằm tái cơ cấu sản xuất và hệ thống thị trường dựa trên lợi thế so sánh

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức, đặc biệt là việc xuất hiện dư cung trong nhiều mặt hàng nông nghiệp như: cà

Trang 4

phê, các sản phẩm từ sữa, rau, mía,…Người nông dân rất dễ bị tổn thương do sự biến đổi khôn lường của giá cả gây ra bởi dư cung hoặc chất lượng kém Bên cạnh đó, thiếu vắng những dự báo thị trường chính xác khiến họ không thể điều chỉnh hệ thống sản xuất nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ hàng hóa kém chất lượng bị trả lại và tận dụng nguồn vốn việc nâng cao cơ hội tiếp cận thị trường Nhiều mặt hàng (như: các sản phẩm thủy sản: tôm, cá ba sa, gạo, cà phê, tiêu, và hạt điều,…) không thể dự báo thị trường cầu, do vậy có thể phải đối mặt với tình trạng dư thừa hoặc thiếu sản phẩm Nông dân thường dựa trên các tín hiệu thị trường ngắn hạn, tự chuyển đổi các loại hàng hóa nên đã gây ra những tổn thất không chỉ cho chính họ mà còn đối với cả nền kinh tế Kết quả là, các nhà đầu tư gặp khó khăn và bất trắc trong việc đầu tư vào các nhà máy chế biến,

cụ thể như trường hợp nhà máy chế biến chè, mía, sắn và các sản phẩm sữa

Kinh nghiệm từ các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Úc và Nhật Bản đã cung cấp cho chúng ta những bài học quý báu Hoa Kỳ có Cục nghiên cứu kinh tế (ERS) thuộc

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Úc có Ban Kinh tế và nông nghiệp (ABARE) chịu sự quản lý trực tiếp của Chính Phủ với hàng ngàn nhân viên Đặc biệt ABARE có tới 300 chuyên gia làm việc trong lĩnh vực quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm Các nước như Hoa Kỳ, EU và Australia tập trung vào vấn đề kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản hơn

là thúc đẩy cung

Việc dự báo cũng bao gồm dự đoán tổng sản lượng mùa vụ, dựa trên các số liệu đáng tin cậy từ thực tế sản xuất Các số liệu thu thập từ trang trại có thể cung cấp thông tin của ngành nông nghiệp như: chi phí đầu vào, đầu ra; lợi nhuận, mức đầu tư;…) Kết quả phân tích các dữ liệu và thông tin trên có thể cung cấp thông tin đầu vào nhằm tư vấn chính sách cho lĩnh vực nông nghiệp bao gồm các chính sách liên quan đến an ninh lương thực ở cấp tỉnh và cấp trung ương

Kế hoạch 5 năm phát triển ngành nông nghiệp nông thôn (2006-2010) đã xác định kế hoạch hành động với sự tập trung phát triển cây trồng hàng hóa , sản phẩm chăn nuôi , cây lâm nghiệp có giá trị cao theo hướng cải thiện năng suất và sản lượng… Để thúc đẩy phát triển các ngành hàng đó ,

kế hoạch cũng chỉ rõ định hướng mức tăng trưởng, sản lượng, giá trị gia tăng, thị phần của các ngành hàng nông nghiệp…Đây được coi là nhiệm vụ then chốt trong kế hoạch hành động của lĩnh vực nông nghiệp Do đó, có thể nói rằng phát triển hàng hóa với các giải pháp chủ chốt của cải cách chính sách, thể chế, tổ chức và nâng cao đầu tư công là những nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của ngành Dự án này rất phù hợp với mục tiêu đã đặt ra ở trên

3 MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG

3.1 Môi trường chính trị và pháp lý

Bên cạnh Nghị định số 7 ban hành tại cuộc họp của Ban Chấp Hành TƯ tháng 7/2008 với mục tiêu phát triển toàn diện ngàng nông nghiệp theo định hướng hiện đại, bền vững và sản xuất hàng hóa hàng loạt, Việt Nam vẫn chưa cho ra đời các chính sách hoặc chiến lược toàn diện cho một mặt hàng nông sản cụ thể và cho các hoạt động đầu tư vào các mặt hàng liên quan đến thị trường tương lai, ổn định và bền vững Tác động chính sách thường chỉ thông qua các chính sách liên quan có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới ngành hàng nông nghiêp Có 3 nhóm chính sách chính tập trung vào hỗ trợ sản xuất; hỗ trợ đất đai và thương mại; các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp như: khoa học công nghệ, tín dụng và khuyến nông Phần lớn văn bản pháp quy đều liên quan đến các nghĩa vụ của Việt Nam đối với các thỏa thuận quốc tế Các thỏa thuận này hết sức quan trọng, tuy nhiên chúng có liên quan đến khả năng thương mại (xuất khẩu và nhập khẩu) hơn là những mặt hàng kinh doanh và phương thức trao quyền cho các nhà sản xuất, chế biến và

Trang 5

xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam để có thể cạnh tranh nhưng vẫn có lãi Các ví dụ liên quan đến những chính sách bao gồm:

Các chính sách liên quan đến hỗ trợ sản xuất

¾ Theo nghị định số 225/1999/QD-TTg về giống cây nông - lâm nghiệp và chăn nuôi giai đoạn 2001-2005; và nghị định số 17/2006/QD-TTg ngày 20/1/2006 về việc tiếp tục thực hiện nghị định 225/1999/QD-TTg đến 2010

¾ Nghị định số 129/2003/ND-CP (2003) liên quan đến miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp và mới nhất là nghị định 115, 2008 cho phép bãi bỏ thủy lợi phí

¾ Quyết định số 391/QD-TTg (tháng 4/2008) về rà soát, kiểm tra quản lý và sử dụng đất trong

5 năm, cho đến 2010 , tập trung chủ yếu vào diện tích trồng lúa

¾ An ninh lương thực quốc gia của Việt Nam và tầm nhìn đến 2030 (đang chờ xử lý)

¾ Nghị Định của Chính Phủ về quản lý đất trồng lúa (đang chờ xử lý )

sử dụng đất nông nghiệp, (ii) thuế chuyển đổi quyền sử dụng đất, (iii) thuế đất sử dụng quá thời hạn và giới hạn đất sử dụng Năm 2003, Chính Phủ đã ban hành quy định hợp pháp về miễn thuế

sử dụng đất nông nghiệp cho hầu hết nông dân đến 2010

Đặc biệt, các chính sách đất đai dưới đây đều liên quan đến sản xuất nông nghiệp:

¾ Nghị định 09/2000/NQ-CP của Chính Phủ ban hành tháng 6 năm quyết định bình ổn hóa 4 triệu hecta diện tích trồng lúa được tưới và các loại đất trồng lúa không có hiệu quả (so với mức trung bình của cả nước) được phép chuyển đổi sang trồng các loại hoa màu khác có hiệu quả hơn

¾ Nghị định số 03/2000/NQ-CP của Chính Phủ ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại thúc đẩy các chính sách về giao đất , cho thuê, chuyển đổi quyền sử dụng đất nhằm khuyến khích tập trung đất canh tác, phát triển nông nghiệp theo hướng quy mô trang trại, tạo điều kiện thuận lợi

phát triển tư liệu sản xuất cho các ngành hàng tập trung

Các chính sách thương mại

Nhằm đáp ứng các yêu cầu của Hiệp định Nông nghiệp (AoA), Chính Phủ Việt Nam đã ban

hành các chính sách dưới đây với mục tiêu hình thành 1 nguyên tắc cụ thể về thương mại nông nghiệp và các chính sách hỗ trợ, đồng thời tránh sử dụng các chính sách gây tổn hại đến thương mại toàn cầu của các mặt hàng nông sản

¾ Quyết định số 1042/ QD-BMT được Bộ Thương Mại ban hành ngày 29/6/2007 về việc xóa

bỏ các khoản thưởng cho các thành tích xuất khẩu Quyết định này là để thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO về việc dỡ bỏ hỗ trợ xuất khẩu

Trang 6

¾ Bộ luật số 20/2004/PL-UBTVQH 11 ngày 29/4/2004 về việc chống phá giá các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam

¾ Quyết định số 02/2008/ QD-BCT ngày 21/1/2008 về kế hoạch phát triển công nghiệp máy móc cho ngành nông nghiệp giai đoạn 2006-2015 với tầm nhìn đến 2020

¾ Quyết định số 104/2008/QD-TTg ngày 21/7/2008 về thuế quan xuất khẩu áp dụng cho gạo và phân bón

¾ Nghị định số 39/2006/QD-BTC ngày 28/7/2006 về áp dụng thuế đối với 1 số mặt hàng xuất nhập khẩu Nghị định này có đề cập tới tất cả các mặt hàng có đánh thuế xuất, trong đó chỉ

bao gồm một vài mặt hàng nông sản đề cập trong Hiệp định Nông nghiệp AoA

Hiệp định vệ sinh và kiểm dịch động, thực vật (SPS): Các tổ chức quốc tế có liên quan hoặc các

thành viên của WTO chịu trách nhiệm xác định các biện pháp SPS và Việt Nam phải tuân thủ đáp ứng yêu cầu SPS của các quốc gia nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam Các văn bản pháp luật và các chính sách dưới đây đã được ban hành:

¾ Quyết định số 04/2008/QD-BNN ngày 10/1/2008 về các chức năng và hợp tác với cơ quan đầu mối SPS của Việt Nam

¾ Luật số 12/2003/PL-UBTVQH 11 ngày 26/7/2003 về các biện pháp vệ sinh thực phẩm

¾ Nghị định số 149/2007/QD-TTg ngày 10/9/2007 về việc thực hiện kế hoạch quốc gia về các biện pháp vệ sinh an toàn

¾ Luật số 18/2004/PL-UBTVQH 11 ngày 29/4/2004 về dich vụ thú y

¾ Nghị định số 33/2005/ND-CP ngày 15/3/2005 về việc thực hiện luật số UBTVQH 11

18/2004/PL-¾ Luật số 36/2001/Pl-UBTVQH 10 ngày 25/7/2001 về việc thanh tra và bảo vệ thực vật

Hiệp định rào cản kỹ thuật thương mại (TBT): Hiệp định TBT là rất phù hợp đối với các quy

định về kỹ thuật về mọi đặc tính cụ thể của 1 sản phẩm, bao gồm: kích cỡ, thiết kế, vận hành, đóng gói và nhãn mác Quyết định số 0975/ QD-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 15/2/2008 phê duyệt dự án hỗ trợ kỹ thuật sau khi gia nhập WTO giai đoạn 1 Dự án nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện cam kết WTO của các cơ quan về phân phối, kinh doanh, kiểm tra, quản lý hàng hóa

Hiệp định Thương mại liên quan tới các lĩnh vực của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS): hiệp định

này bắt buộc các thành viên có trách nhiệm bảo vệ sự sáng tạo của sản phẩm và quy trình sản xuất Hiệp định bao gồm tất cả các quyền sở hữu trí tuệ với đầy đủ công cụ để bảo vệ các tác giả, các nhà đầu tư, nhãn hiệu và tên các sản phẩm tránh bị bắt chước hoặc tái sản xuất Các giống cây trồng và các chỉ số địa lý liên quan đến nông nghiệp cũng được đề cập trong hiệp định này

Các điều khoản dưới đây buộc các thành viên WTO áp dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm là các giống cây trồng và các chỉ số địa lý:

¾ Luật số 50/ 2006 ngày 29/11/2006 về quyền sở hữu trí tuệ

¾ Nghị định số 104/2006/ND-CP ngày 22/9/2006 về các quyền sở hữu trí tuệ đối với các giống cây trồng, rượu vang và các đồ uống có cồn

¾ Nghị định số 54/2000/ND- CP ngày 13/10/2000 về bí quyết thương mại và địa lý

Trang 7

Ngoài các hiệp định WTO, Việt Nam cũng ký kết một số hiệp định trong khu vực có khả năng ảnh hưởng tới nông nghiệp như thỏa thuận AFTA/CEPT, hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, tự do thương mại với TQ (AFTA-China), và tự do thương mại với Hàn Quốc (AFTA-Korea) Tất cả các hiệp định này về cơ bản tập trung vào việc giảm thuế nhập khẩu và các hàng rào thương mại cũng như phi thương mại, buộc tất cả các thành viên phải mở cửa thị trường đối với các hàng hóa nhập khẩu

Các văn bản tổng quát cấp trung ương liên quan đến các sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu

¾ Quyết định số 69/2007/QD-TTg được Thủ Tướng ban hành ngày 18/5/2007 về kế hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến nông nông-lâm sản đến 2010 và tầm nhìn 2020

¾ Quyết định số 27/2007/QD-BNN của Bộ NN và PTNT ban hành ngày 12/4/2007 về các quy định quản lý kế hoạch quốc gia về xây dựng và thực hiện công nghệ sinh học nông nghiệp đến năm 2020

¾ Luật số 05/2007/QH12 ngày 21/11/2007 về chất lượng sản phẩm Luật này bao gồm các quy định về chất lượng sản phẩm xuất khẩu chung và buộc tất cả các nhà xuất khẩu phải tuân thủ theo quy định của luật cũng như các cam kết quốc tế và khu vực khác

¾ Nghị định số 151/2006/ND-CP ngày 20/12/2007 về việc điều tiết các nguồn tín dụng quốc gia cho đầu tư và xuất khẩu

¾ Quyết định số 08/2007/QD-BTC ngày 2/3/2007 về tầm quan trọng của tín dụng cho việc đầu

tư và xuất khẩu

Nhìn chung, ngoài các ảnh hưởng tích cực, các chính sách liên quan đến mặt hàng nông nghiệp đều mang tính tạm thời và bị động, thường chỉ được ban hành trong các giai đoạn khủng hoảng (khủng hoảng lúa gạo, cà phê, an toàn thực phẩm, thức ăn vật nuôi, vv ) Các chính sách về hàng hóa đều chủ yếu hỗ trợ cho sản xuất, và các quy định chi tiết liên quan tới các thỏa thuận quốc tế Việt Nam tham gia có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu, hỗ trợ nông nghiệp, các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, vệ sinh và kiểm dịch động, thực vật Có ít chính sách toàn diện theo một chuỗi hàng hóa cụ thể: lập kế hoạch, dự báo đầu tư, tổ chức sản xuất, tư liệu đầu vào, sản xuất, chế biến, thương mại, kiểm soát chất lượng, quản lý rủi ro và hỗ trợ cho người tiêu dùng Quá trình xây dựng chính sách là quá trình có tác động ngược lại và thường không dựa trên cơ sở khoa học và không tham khảo ý kiến của nhiều bên liên quan như các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, khu vực tư nhân, nông dân, Kết quả là, dự báo về thị trường ngành hàng nông sản để có cơ sở xây dựng chính sách là một nội dung hết sức cần thiết

3.2 Môi trường kinh tế

Việc lập kế hoạch được dựa trên diện tích sản xuất và năng suất với trong tâm tạo cơ cấu ngành bất cân đối rủi ro xuất khẩu Nông dân được khuyến khích đầu tư vào các mặt hàng xuất khẩu mạnh như cà phê, hạt tiêu, điều, gạo và tôm hùm Các ngành hàng yếu hơn như chăn nuôi, gia cầm, các sản phẩm lâm nghiệp với sản lượng lớn và thường không đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước dường như không nhận được sự hỗ trợ đầy đủ Đầu tư vào các mặt hàng xuất khẩu mạnh thường rất lớn mà không quan tâm đầy đủ đến thị trường Cung ứng, thường là chất lượng thấp, nhanh chóng vượt quá cầu đối với một số loại có dư sản phẩm như: cà phê, gạo, cá ba

sa trong những năm gần đây đã ảnh hưởng đáng kể đối với đời sống của người sản xuất Cũng trong thời điểm này, đầu tư và lợi thế cạnh tranh tại các sản phẩm/ lĩnh vực định hướng tiêu thụ

Trang 8

nội địa bị giảm, làm tăng nguy cơ rủi ro mất thị trường trong nước do phải cạnh tranh gay gắt với các mặt hàng nhập khẩu

Nông dân là những người yếu thế nhất trong chuỗi giá trị So với các bên liên quan khác trong thị trường, nông dân hưởng lợi ít nhất từ chuỗi giá trị Không có chính sách nào phù hợp mặc dù tất

cả các chính sách hiện hành đều ưu tiên cho nông dân Một số chính sách cung cấp hỗ trợ vật chất hơn là hỗ trợ về mặt phương pháp để khuyến khích nông dân Giá trị gia tăng từ chuỗi giá trị hầu hết là từ quá trình chế biến, đóng gói, quảng cáo và các chiến dịch tiếp thị trong khi phần lớn nông dân Việt Nam chỉ có thể tiếp cận với sản xuất thô Điều này đặc biệt đúng đối với các nông dân sản xuất qui mô nhỏ hay những người sống ở khu vực vùng sâu vùng xa

3.3 Môi trường xã hội

¾ Việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp có ảnh hưởng tới đói nghèo và lao động vì các gia đình nông dân bắt buộc phải tìm kiếm các việc làm phi nông nghiệp Theo ước tính của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã hội, trung bình 1 hộ nông dân có 1,5 lao động

bị thất nghiệp do đất sản xuất bị thu hồi trong khi đó phần lớn những người dân này đều không được học hành và hướng nghiệp đầy đủ

¾ Các quyết định của nông dân về hệ thống nông nghiệp họ sử dụng cũng như kết hợp sx các sản phẩm nông nghiệp thì bị giới hạn bởi việc qui hoạch sử dụng đất cho những cây trồng cụ thể ví dụ như lúa Trong khi sản xuất lúa gạo có thể đảm bảo an ninh lương thực, nó cũng gây ảnh hưởng đáng kể tới thu nhập của hộ nông dân vì họ không có khả năng chuyển sang các hệ thống sản xuất có giá trị cao hơn

¾ Việc chạy mô hình sẽ xác định tác động đối với phân bổ thu nhập của sử dụng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng như tự do hóa thương mại ở phạm vi ngành và khu vực và sẽ giúp xác định các nhóm yếu thế và xây dựng chính sách phù hợp để có thể giúp đỡ họ Điều đó cũng giúp Chính Phủ Việt Nam xác định rõ các vướng mắc, sau đó lựa chọn có mục đích các chính sách phúc lợi xã hội nhằm tránh lãng phí đầu tư vào các lĩnh vực không hiệu quả

4 CÁC THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN (R&D)

4.1 Các lĩnh vực nghiên cứu chính

Nghiên cứu về cung-cầu của ngành hàng nông sản

¾ Nghiên cứu về phương pháp cung –cầu cho ngành lúa gạo mô tả cách áp dụng hệ thống thông tin chỉ dẫn địa lý (GIS) và mô hình vào phân tích sự cân bằng của cung-cầu của ngành lúa gạo cho 7 vùng sinh thái của Việt Nam Kết quả đầu ra quan trọng bao gồm (i) xác định các khu vực có lợi thế cạnh tranh về sản xuất lúa gạo; (ii) các phương pháp cải thiện khả năng ước tính sản lượng gạo, tổng sản lượng cũng như dự báo cầu cho mỗi vùng sinh thái bao gồm một số tỉnh; (iii) ước tính với diện tích trồng lúa là 4 triệu hecta, so với mức dự tính nhu cầu trong nước của Việt Nam thì Việt Nam vẫn có thể duy trì xuất khẩu từ 2-4 triệu tấn mỗi năm với giá thành giảm 20%, do đó lượng xuất khẩu sẽ đạt gần 2 triệu tấn mỗi năm; (iv) nhu cầu của hộ về gạo trong năm 2010 với tốc độ đô thị hóa là 33% là khoảng 13,8 triệu tấn Sự biến đổi giá gạo sẽ làm tăng hoặc giám khối lượng tiêu thụ gạo khoảng 1 triệu tấn

¾ Các xu hướng phát triển chăn nuôi ở Việt Nam đều bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn định và giá thịt lên cao, giá thức ăn gia súc tăng, chi phí chăn nuôi tăng, và dịch vụ thú y kém hiệu quả Đầu ra bị hạn chế bởi thu nhập thấp, chất lượng thịt không cao, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng không hoàn chỉnh, thiếu thông tin, và thiếu hệ thống phân phối cho người tiêu dùng

Trang 9

Vai trò của Chính Phủ trong việc tạo hành lang pháp lý, quản lý tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là những vấn đề rất quan trọng và cần thiết phải được tăng cường để

hỗ trợ, thúc đẩy ngành chăn nuôi

¾ Tiêu dùng cà phê trong nước, sử dụng bộ số liệu điều tra dựa trên mức sống cho thấy nhu cầu

cà phê tăng, đặc biệt là ở khu vực thành phố

Điều tra về khả năng cạnh tranh

¾ Năm 2002, Nielsen3 đã tiến hành một cuộc nghiên cứu về ngành gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới, tổng hợp sản lượng, cơ cấu và xu hướng thương mại của thị trường gạo thế giới đồng thời đánh giá các chính sách hiện có áp dụng cho ngành lúa gạo, đặc biệt là các chính sách liên quan đến tiếp cận thị trường, trợ cấp xuất khẩu, sử dụng sản phẩm biến đổi gen và hỗ trợ trong nước của các quốc gia khác

¾ Nghiên cứu về sức cạnh tranh của ngành công nghiệp cà phê Robusta ở Việt Nam đã đưa ra kết luận rằng sức cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam trong những năm qua là dựa vào giá sức lao động thấp, sản lượng cao do nhiều phân bón và tưới tiêu, các chính sách phát triển cơ

sở hạ tầng cho tất cả các bên liên quan đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê Những xu hướng gần đây trong thị trường cà phê đã cho thấy khó có thể duy trì sức cạnh tranh cao của

cà phê Việt Nam do xu hướng của thị trường cà phê thế giới là chất lượng cao, sản phẩm hữu

cơ và sạch cùng với sự quan tâm cao đối với GAP và các tác động của môi trường

Nghiên cứu về tác động của hội nhập thương mại thế giới

¾ Nielsen (2003)5 đã đưa ra 3 chính sách thương mại có ảnh hưởng trực tiếp tới ngành lúa gạo của Việt Nam: (i) dỡ bỏ hạn ngạch xuất nhập khẩu phân bón cho lúa gạo có xu hướng tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế

(ii) Chính sách đất đai và giao đất- là những công cụ hạn chế thay đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, tạo khó khăn cho các hoạt động sản xuất, xuất khẩu và đa dạng sản phẩm nông nghiệp thông qua điều chỉnh việc giao đất nông nghiệp và điều đó sẽ giảm lợi thế so sánh và lợi ích kinh tế xã hội của các đối tác khác nhau

(iii) Hiệp định thương mại ưu đãi với EU- các đối tác thương mại của Việt nam dường như không có lợi cho ngành sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam vì họ đặt Việt Nam vào

vị trí sân chơi cạnh tranh đối với tất cả các quốc gia xuất khẩu vào thị trường EU

¾ Một nghiên cứu về tự do hóa thương mại trong ngành công nghiệp chăn nuôi áp dụng mô hình cân bằng chung để đánh giá tác động của tự do hóa thương mại đã cho thấy (i) nhìn chung, tự do hóa thương mại không có ảnh hưởng tiêu cực đối với ngành chăn nuôi của Việt Nam do lượng thịt được mua bán trên thị trường thế giới thấp; (ii) những ảnh hưởng của tự do hóa thương mại quốc tế như sốc về đơn giá dường như chỉ có ảnh hưởng nhẹ tới Việt Nam do Việt Nam là nước tự cung tự cấp thịt lợn và gia cầm với một lượng tiêu thụ thịt bò khá thấp; (iii) việc miễn, giảm thuế cho các nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp, đặc biệt là các sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi lợn và gia cầm mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp chăn nuôi trong nước

¾ Một trong những tác động tiêu cực của tự do hóa thương mại và gia tăng tính lệ thuộc vào xuất khẩu là do biến động về giá cả trong nước vì tính không ổn định của giá cả không những gây thiệt hại cho nông dân đồng thời ảnh hưởng tới các ngành công nghiệp chế biến và các bạn hàng Giá cà phê đạt đến đỉnh điểm trong lịch sử vào năm 1990, gây ra hiện tượng sản xuất dư thừa tràn lan, do đó làm giá cà phê giảm mạnh Kết quả là sinh kế của người trồng cà

Trang 10

phê bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là là ở tỉnh Daklak – khu vực trồng cà phê lớn nhất của Việt Nam Giá cả trên thế giới thấp và sự tiến triển của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, người nông dân đặc biệt là nông dân nghèo là những người dễ bị tổn thương nhất

Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng

Kết luận từ một nghiên cứu toàn diện về chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo Việt Nam cho thấy (i) (i) Việt Nam đang phải gánh chịu thiệt hại do thiếu môi trường cơ sở hạ tầng và cơ chế chính sách để tăng cường an ninh lương thực, giảm nghèo nông thôn và tăng thu nhập từ xuất khẩu; (ii) các phương pháp tạo ra giá trị cho ngành lúa gạo gồm: tăng năng suất, đặc biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, đồng thời tăng sản xuất và xuất khẩu các loại gạo đặc biệt có chất lượng cao Vai trò của khu vực nhà nước trong việc đầu tư trực tiếp nhằm nâng cao sản lượng chỉ nên giới hạn trong việc cung cấp tưới tiêu, nâng cấp cơ sở hạ tầng và tăng cường xây dựng chính sách Khu vực tư nhân cần phát triển các mặt hàng đặc sản và các thị trường có giá trị cao Ngoài

ra, việc đầu tư vào với ngành lúa gạo cũng nên kết hợp với các chính sách đa dạng cây trồng nhằm giả quyết vấn đề nghèo ở nông thôn

¾ Một nghiên cứu toàn diện về các bên liên quan trong thị trường chăn nuôi như: người chăn nuôi, người kinh doanh thức ăn chăn nuôi, người chế biến, người kinh doanh thịt, người chế biến thịt, người tiêu dùng, người bán lẻ và các cơ quan thú y đã phân tích nhu cầu thịt và tính toán biến động giá ở thị trường Hà Nội và Hồ Chí Minh

Nghiên cứu về dự báo cung ngành hàng

¾ Một nghiên cứu về dự báo cung dài hạn của 5 vùng trồng cà phê chính ở Việt Nam có sử dụng mô hình của Vintage và phân tích các tác động của nhiều yếu tố (giá cà phê, giá đầu vào, tuổi cây, sản lượng, ) liên quan đến hoạt động cung cấp cà phê Nghiên cứu đã đưa ra những dự đoán chi tiết về việc cung cấp cà phê của mỗi vùng ở mỗi khu vực nghiên cứu

4.2 Các vấn đề chính

¾ Thiếu nguồn dữ liệu (dữ liệu và hình ảnh) để phân tích thị trường đầy đủ theo chuỗi thời gian và thường xuyên cập nhật Mặc dù đã có khá nhiều nguồn thông tin thị trường nhưng các nguồn thông tin này chỉ được thực hiện trong khuôn khổ các dự án, do vậy không thể duy trì tính ổn định lâu dài và các đơn vị nghiên cứu không có cơ chế để trao đổi và sử dụng thông tin hiệu quả

¾ Thông tin thị trường đơn thuần là thông tin về giá- chủ yếu là giá bán lẻ, trong khi các thông tin quan trọng khác để phân tích thị trường như: sự khác biệt thị trường, lợi thế so sánh, các xu hướng thị trường và các cơ hội tương lai thường dễ tìm nhưng hiếm khi được đưa vào nghiên cứu ngành hàng

¾ Các thông tin thu thập được không đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiên cứu thị trường ngành hàng, đặc biệt là các thông tin cần thiết để đánh giá cung- cầu của các loại hàng hóa

¾ Tính kịp thời của thông tin về ngành hàng chiến lược được thu thập theo hệ thống từ trên xuống của Tổng Cục Thống Kê (GSO) cho thấy dự báo về sản lượng cây trồng thường không có cho đến thời điểm sau thu hoạch và thông tin này không giúp các nhà sản xuất, chế biến và xuất khẩu đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn

¾ Việt Nam vẫn chưa có khả năng xây dựng cơ chế cũng như kế hoạch phát triển dựa trên nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh và so sánh của các ngành hàng chính trong các vùng cũng như giữa Việt Nam và các quốc gia khác

Trang 11

¾ Nghiên cứu phân tích thị trường đối với một số ngành hàng chiến lược đã có nhưng chưa toàn diện và chưa cụ thể đối với thị trường quốc tế, thị hiếu của các thị trường tiềm năng và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt, Điều này hoàn toàn đúng đối với các nghiên cứu thực hiện trong khuôn khổ dự án, không mang tính cập nhật liên tục và có hệ thống

¾ Triển vọng thị trường cho các ngành hàng nông sản của Việt Nam hầu như vẫn chưa được các nhà nghiên cứu chú ý đến Mặc dù Viện Chiến Lược Chính sách Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn (IPSARD) đã tiến hành một số nghiên cứu nhằm phân dự báo kinh tế ngành hàng cà phê, một số nghiên cứu đã áp dụng mô hình cân bằng, trong đó có 1 phần cho ngành lúa gạo và 1 phần cho chăn nuôi gia súc; các nghiên cứu này chỉ đơn thuần mang tính thực nghiệm và sơ khai Các ngành chiến lược khác vẫn chưa có những nghiên cứu tương

tự

¾ Để tiến hành các nghiên cứu tương tự cho các ngành hàng khác, cần phải có một hệ thống các phương pháp nghiên cứu chuẩn hóa áp dụng đồng thời cho tất cả các ngành Tuy nhiên

hệ thống chuẩn hóa này vẫn chưa được hình thành

¾ Các chuyên gia trong lĩnh vực của chúng ta không thực sự giỏi về các phương pháp nghiên cứu hiện đại và ở trình độ cao nhằm phục vụ cho phân tích và dự báo thị trường; ngoài ra, các chuyên gia này đến từ các cơ quan nghiên cứu khác nhau, vấn chưa được tập trung thành một tổ chức thống nhất và hiệu quả

¾ Do vậy, nghiên cứu thị trường nói chúng về các ngành hàng chiến lược của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng và tính thời sự của các sản phẩm

để tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp kinh doanh nông sản

¾ Tổ chức ngành trên quy mô lớn của từng ngành hàng chiến lược tới nay vẫn được coi là một khái niệm mới đối với Việt Nam Một cơ chế thống nhất cho 1 ngành hàng sẽ mang lại sự hợp tác tốt nhất để nắm bắt thời cơ và giảm tối đa chi phí giữa các bên liên quan trong chuỗi giá trị của ngành hàng, đã tự khẳng định rằng đây là một cách hiệu quả được áp dụng ở nhiều quốc gia Cụ thể, nếu một tổ chức ngành hàng được thiết lập, nó sẽ thực hiện các chức năng sau: (i) quản lý ngành; (ii) tổ chức nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực; (iii) đề xuất chính sách; và (iv) tư vấn đầu tư,…

¾ Không có thông tin kịp thời cho nông dân, cán bộ khuyến nông và các bên liên quan khác

để họ có thể xây dựng kế hoạch và hoạt động đầu tư nhằm tăng thu nhập và lợi nhuận

¾ Không có thông tin về “sức khỏe/khả năng” của mảng sx nông nghiệp quy mô nhỏ Có thể thu thập thông tin và dữ liệu hàng ngày thông qua xây dựng hệ thống giám sát cho các ngành hàng quan trọng nhất Những thông tin như vậy có thể giúp hỗ trợ xây dựng chính sách nông nghiệp và nông thôn để giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội quan trọng trong việc ổn định nông hộ

¾ Yếu kém trong việc lập kế hoạch, thông tin thị trường, kiểm soát chất lượng, quản lý an toàn thực phẩm và cây trồng nông nghiệp, bình ổn giá đầu vào, đầu ra,… đã phản ánh năng lực yếu kém trong quản lý, xây dựng, thực hiện các chính sách ngành hàng nông sản Tuy nhiên, khả năng nghiên cứu chính sách nông nghiệp, việc thực hiện và quản lý vẫn còn yếu Cần phải vạch ra những chương trình ở quy mô rộng và lâu dài để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sản xuất Vì vậy, sự hỗ trợ từ dự án này là hết sức quý giá và cần thiết; tuy nhiên, đây mới chỉ là bước sơ khai Cần có những nỗ lực và tiếp tục đầu tư để đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường

Trang 12

Các đơn vị thực hiện nghiên cứu

Hiện nay, Bộ NN&PTNT vẫn chưa có bất kỳ một hệ thống tổ chức hay quy trình nào để thực hiện phân tích cập nhật các thị trường ngàng hàng Nghiên cứu ngành hàng và thông tin thường liên quan đến các dự án, có tính chất ngắn hạn và thiếu khung tổ chức Xây dựng và phát triển các kỹ năng này đòi hỏi nhiều thời gian và cần sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế

Hiện nay, IPSARD là một trong số ít các tổ chức đang tiến hành nghiên cứu chính sách về các ngành hàng nông sản của Việt Nam Các nhà nghiên cứu của IPSARD hiện vẫn còn yếu và thiếu

về số lượng để thực hiện công tác phân tích và dự báo sử dụng các mô hình kinh tế tiên tiến Vì vậy, cần tăng cường năng lực trong lĩnh vực này để thực hiện dự án Các nguồn thông tin và các chuyên gia dự báo sử dụng mô hình kinh tế mà IPSARD đang sử dụng, tập trung vào việc học hỏi kinh nghiệm, bao gồm:

- Dịch vụ nghiên cứu kinh tế- ERS của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ;

- Cơ quan kinh tế và nông nghiệp của Úc - ABARE;

- Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế – IFPRI; và

- Viện nghiên cứu chăn nuôi quốc tế – ILRI

5 PHÂN TÍCH SWOT

• Các phương pháp nghiên cứu (phân tích thị

trường, các mô hình dự báo) hiện có

• Quan hệ đã được thiết lập với các tổ chức

quốc tế có kinh nghiệm về phân tích ngành

hàng

• Có nhiều báo cáo chuyên nghiệp về các

ngành hàng chủ yếu và rất dễ truy cập qua

internet

• IPSARD tập trung đội ngũ chuyên gia về

nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp, nhiệt

tình

• Các chức năng tư vấn chính sách của

IPSARD sẽ là cầu nối tốt nhất với Bộ Nông

nghiệp và Chính Phủ

• Các ngành hàng ưu tiên đóng vai trò quan

trọng trong doanh thu xuất khẩu, nhu cầu lớn

về nghiên cứu thị trường và dự báo

sự ủng hộ trong việc thiết lập hệ thống giám

• Không có nhiều nghiên cứu thị trường áp dụng các phương pháp tiêu chuẩn quốc tế

• Nghiên cứu thị trường ngành hàng (nếu có) không tuân theo các tiêu chuẩn đồng nhất mà thường là kết quả của các dự án ngắn hạn

• Các chuyên gia của Bộ NN chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất như: giống, thủy lợi và

mở rộng canh tác trong khi chỉ có một vài chuyên gia về thị trường ngành hàng nông nghiệp

• Kinh nghiệm thực tế của các nhà nghiên cứu của Viện CS và của một số cơ quan khác ở Việt Nam vẫn còn yếu

• Các dữ liệu trong nước không được cập nhật đầy đủ phù hợp với những thay đổi của thông tin dự báo và phân tích thị trường

• Không có đủ thông tin dữ liệu quốc tế từ những thị trường lớn, việc trao đổi và tiếp cận với nguồn thông tin này khá tốn kém

• Các nghiên cứu thường sử dụng nguồn dữ liệu cũ, tốn thời gian; do đó, không đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp

• Thiếu kinh phí và các chuyên gia thống kê để thiết

lập hệ thống giám sát sản xuất

Trang 13

sát và hợp tác với chính quyền địa phương • Thiếu mạng lưới liên hệ với các lãnh đạo địa

phương

• Các nhà hoạch định chính sách thiếu thông tin khoa học về dự báo thị trường, vì vậy các khuyến nghị chính sách từ các nghiên cứu khoa học thường chưa được cân nhắc khi đưa ra quyết định

• Dự báo thị trường đóng vai trò ngày càng

quan trọng trong quá trình hoạch định chính

sách

• Dữ liệu với các phân tích chính xác sẽ cung

cấp những thông tin giúp cải thiện quyết

định đầu tư của các nhà sản xuất, chế biến

và xuất khẩu đồng thời giúp xây dựng chính

sách, kể cả chính sách an ninh lương thực

• Sự chuyển đổi từ lập kế hoạch theo hướng mục

tiêu sản xuất sang lập kế hoạch dựa trên nghiên

cứu ngành hàng sẽ cung cấp các cơ sở khoa học

cho việc đưa ra quyết định

nhận được sự phối hợp từ các tổ chức quốc tế có

kinh nghiệm về giám sát thị trường nông

nghiệp

ninh lương thực là vấn đề ưu tiên quốc qua

• Ngày càng có nhiều các tổ chức quan tâm đến

nghiên cứu dự báo thị trường, đặc biệt là các

nghiên cứu tác động của thị trường tới phát triển

kinh tế xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn

và trên cả nước

• Nghị quyết “Tam nong” đã chỉ ra những vấn đề

quan ngại của Chính phủ đối với nông nghiệp

thông tin về ngành hàng sẽ giúp xây dựng

phương pháp tiếp cận lập kế hoạch dài hạn cho

phát triển công nghiệp-nông nghiệp

• Sự phát triển của phân tích ngành hàng và việc

giám sát liên tục sẽ giải quyết được nhu cầu của

các nhà hoạch định chính sách thông qua tham

vấn lấy ý kiến đóng góp nhanh và thường

xuyên

• Sự phối hợp giữa dự báo ngắn hạn và dài hạn sẽ

đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp

trong việc đưa ra quyết định đầu tư

• Thiếu nguồn kinh phí hỗ trợ dài hạn cho việc phát triển và duy trì các dự báo ngành hàng sẽ đồng nghĩa với việc mọi hoạt động cấp ngân sách ngắn hạn đều không mang lại hiệu quả cao

• Tình trạng thiếu năng lực hoặc thiện chí của các cơ quan nhà nước hoặc cơ quan có kinh nghiệm đáng

kể trong khảo sát nông hộ và dự báo thị trường nông nghiệp sẽ ảnh hưởng không tốt tới việc cung cấp kết quả phân tích và khuyến nghị ngành hàng

• Các sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng yêu cầu của

Bộ NN, các cơ quan liên quan và doanh nghiệp

Trang 14

EPRO 2: TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ QUẢN LÝ MÔI

TRƯỜNG NÔNG THÔN

1 XÁC ĐỊNH EPRO2

1.1 Mục tiêu quốc gia

Xây dựng khung pháp lý và môi trường chính sách để tăng cường việc(i) quản lý và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên trong nông nghiệp và (ii) môi trường lành mạnh

ở nông thôn đảm bảo phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; và (iii) giảm tác động tiêu cực trong sản xuất nông nghiệp đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn

• Nghiên cứu giải pháp/ phương pháp tiếp cận để Bộ NN&PTNT và chính phủ có thể áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn lành mạnh

• Kịp thời cung cấp thông tin, kiến thức, kết quả nghiên cứu trên thông qua diễn đàn đối thoại chính sách, hội thảo, ấn phẩm nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động của khu vực nhà nước và tư

1.3 Nội dung nghiên cứu

Trọng tâm gồm:

• Quản lý và sử dụng đất trong nông nghiệp và khu vực nông thôn

• Quản lý và sử dụng nước trong nông nghiệp và khu vực nông thôn (thủy lợi và nước sinh hoạt)

• Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp và

• Bảo vệ môi trường nông thôn

Trang 15

kiệt tài nguyên thiên nhiên Những nguy cơ này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ hệ thống sinh thái nông nghiệp và nông thôn, làm suy giảm hiệu quả sản xuất của các yếu tố môi trường, suy giảm năng suất cây trồng và chăn nuôi và đe dọa sức khỏe người nông dân

Mặc dù chính phủ đã xây dựng một lọat các chính sách để giải quyết những vấn đề này, song tác động của chính sách đó vẫn còn rất hạn chế Dường như không có một giải pháp duy nhất nào có thể giải quyết được mọi vấn đề trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn Thay vào đó, cần có sự kết hợp cẩn trọng các chính sách tổng hợp và nhất quán trên cơ sở căn cứ khoa học vững chắc và định lượng

Quản lý nhà nước đối với đất đai ở Việt Nam được thực hiện ở 4 cấp: Trung ương, tỉnh, quận, xã Nhà nước quản lý về mặt chính sách và pháp lý, giao Ủy ban Nhân dân các cấp tỉnh, huyện và xã thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai

Người sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

• Quyền: Người sử dụng đất được giao đất để sử dụng lâu dài và ổn định và được trao 7 quyền

sử dụng đất: chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, trao tặng và dùng quyền sử dụng đất để vốn góp

• Nghĩa vụ: Người sử dụng đất phải (i) trồng trọt luân canh hợp lý; (ii) chăm sóc, cải tại giữ cho đất màu mỡ; (iii) trả thuế và phí sử dụng đất nông nghiệp

Giao đất

Luật đất đai năm 1993 và Nghị định 64 CP 27/09/1993 giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài Nguyên tắc quan trọng nhất của việc giao đất là đảm bảo tính công bằng Nhìn chung, nhiều địa phương ở miền Bắc giao một diện tích đất nhất định cho mỗi người dân Cần tính đến những điều kiện khác khi giao đất như chính sách xã hội, chất lượng đất, hệ thống thủy lợi, khoảng cách đến thửa đất và năng suất luân canh

Quy hoạch sử dụng đất

Việc khoanh vùng và quy hoạch sử dụng đất là quá trình từ dưới lên dựa trên điều kiện địa lý Quá trình này bắt đầu từ cấp xã Ở cấp này, việc khoanh vùng và sử dụng đất được tính toán chi tiết dựa căn cứ trên lô đất Phương án sản xuất ở địa phương và kế hoạch đầu tư được xây dựng dựa trên khung quy hoạch tự nhiên Sau đó, các phương án đó được trình lên hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân huyện Quá trình sau đó sẽ chuyển từ cấp xã lên cấp quận, tỉnh/ thành phố và cấp quốc gia Chu kỳ khoanh vùng sử dụng đất là 10 năm và quy hoạch sử dụng đất

là 5 năm

Đất nông nghiệp được phân loại theo 6 tiêu chí sau: (i) Đất trồng cây hàng năm; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất lâm nghiệp (rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng); (iv) Đất nuôi trồng thủy sản; (v) Đất làm muối; (vi) Các loại đất nông nghiệp khác theo qui định của nhà nước

Trang 16

Thời hạn và quỹ sử dụng đất

Mục đích sử dụng đất Thời hạn Hạn mức đất

Trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, sản xuất

muối

20 năm 2 ha (miền Trung và miền Bắc)

3 ha (Đồng bằng sông Cửu Long)

Thuế đất nông nghiệp

Các loại thuế hiện hành liên quan đến đất nông nghiệp ở Việt Nam bao gồm (i) thuế sử dụng đất nông nghiệp, (ii) thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất, và (iii) thuế đất vượt hạn mức Năm 2003, Nhà nước đã thông qua luật miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho hầu hết người nông dân đến năm 2010

Thị trường đất nông nghiệp

Chuyển nhượng đất: Có 9 hình thức giao dịch liên quan đến đất bao gồm chuyển nhượng,

trao đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, trao tặng, đấu thầu, cho thuê và sử dụng đất để vốn góp Để thực hiện những giao dịch này cần phải được nhà nước thông qua Khi đó, nhà nước sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất

Định giá đất: Nhà nước quyết định giá đất hàng năm nhưng những mức giá này cần phải

sát với mức giá thị trường Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương sẽ xây dựng khung giá đất cụ thể cho địa phương mình và trình hội đồng nhân dân đóng góp ý kiến trước khi ra quyết định

Thế chấp đất: Có hai cách để hộ gia đình dùng quyền sử dụng đất vay tiền từ Ngân hàng:

(i) Thế chấp giá trị của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( khoảng 50-70% giá trị đất): và (ii)

‘tín chấp’ (lấy quyền sử dụng đất làm tín chấp cho khoản vay với sự đảm báo của chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị xã hội) Theo quy định hiện hành, Ngân hàng NN & PTNT cho vay không vượt quá 10 triệu đối với hộ gia đình và không quá 20 triệu đối với nông trại

thương mại

2.2.2 Quản lý và sử dụng nước

Luật Tài nguyên nước năm 1998 quy định “tài nguyên nước thuộc về toàn dân dưới và được Nhà nước thống nhất quản lý’ Trước năm 2002, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ nguồn tài nguyên nước của quốc gia, nhưng chính phủ có thể giao quyền quản lý sử dụng nước vào các mục đích cụ thể cho các bộ khác Tuy nhiên, từ khi Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) được thành lập năm 2002, chức năng quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước được chuyển từ Bộ NN&PTNT sang cho Bộ TN&MT

Thủy lợi

Ở cấp tỉnh có các công ty quản lý thủy lợi (IMC) trực thuộc BỘ NN&PTNT và ủy ban nhân dân tỉnh quản lý các cống thoát nước, các kênh chính, các kênh thứ cấp và kênh phụ của các

Trang 17

công trình thủy lợi lớn và vừa Một vài tỉnh đã cổ phần hóa các IMC theo Nghị định 95/2006/ND-CP của chính phủ

Ở cấp xã, có các tổ chức hộ sử dụng nước (WUO) quản lý các kênh phụ và kênh qua nông trại để cung cấp một phần hoặc toàn bộ dịch vụ thủy lợi theo nhu cầu của nông dân Có 6 loại tổ chức WOU: hợp tác xã nông nghiệp (loại hình chính), nhóm hộ sử dụng nước, ban quản lý nước, ban quản lý nước thôn, hiệp hội người sử dụng nước và các thôn

Phí cung cấp dịch vụ thủy lợi được thu từ các tổ chức và cá nhân sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất lúa, rau màu, vụ đông, cây công nghiệp ngắn ngày và sản xuất muối Nhà nước ban hành khung mức phí và mỗi tính có thể tự quyết định mức cụ thế theo thực tế Phí được tính bằng đồng Việt Nam và được thu căn cứ theo diện tích đất được tưới tiêu và loại cây trồng thay cho căn cứ theo lượng nước được sử dụng

Thông thường, các nhóm dùng nước đứng ra thu phí và sẽ trích lại một phần phí làm công thu phí Phần còn lại được chuyển cho IMC Tuy nhiên, phần phí này thường không vượt quá một nửa chi phí quản lý và vận hành của IMCs Nếu tính cả chi phí giảm nhẹ thiên tai và phục hồi công trình quy mô lớn, phần phí này chỉ đáp ứng khoảng ¼ tổng chi phí quản lý và vận hành Gần đây, Nghị định 154/2007/ND-CP của chính phủ đã miễn phí thủy lợi cho nông dân từ kênh

do IMC cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, nông dân vẫn phải trả phí thủy lợi nội đồng Chính sách này đã dấy lên nhiều lo ngại về hiệu quả và tác động kinh tế xã hội

Nước sạch ở khu vực nông thôn

Ở cấp trung ương, Trung tâm quốc gia cung cấp nước uống và vệ sinh nông thôn trực thuộc Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm: (i) Xây dựng kế hoạch và chiến lược quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn; (ii) Ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình cung cấp nước sạch; (iii) giám sát chất lượng nước Ở cấp tỉnh, có các trung tâm cung cấp nước uống

và vệ sinh nông thôn dưới quyền quản lý của Sở NN & PTNT tỉnh Hàng năm, những trung tâm này lựa chọn vài xã trong tỉnh để xây dựng các công trình cung cấp nước sạch (bao gồm công trình cung cấp nước sạch cộng đồng, hồ chứa nhỏ, giếng sâu và công trình cung cấp nước tư nhân) cho người dân nông thôn Kinh phí xây dựng công trình nước sạch được đóng góp từ ngân sách nhà nước, ngân sách tỉnh và người sử dụng nước Phần đóng góp của người sử dụng nước ít nhất là 25% tổng chi phí Họ có thể xin vay tín dụng của ngân hàng (Tổng ngân sách của Chương trình quốc gia cho vay tín dụng là 5649 tỉ VND) Các công trình nước sạch sau khi hoàn tất việc xây dựng được chuyển giao cho cộng đồng nông thôn quản lý Bên cạnh hệ thống của nhà nước,

ở một số tỉnh, các công ty tư nhân cũng tham gia cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn Người sử dụng nước phải trả phí sử dụng nước cho các công ty này

Tiêu chuẩn nước uống cho khu vực nông thôn do Bộ Y tế quy định Bộ TNNN & MT, Bộ

NN & PTNT và Bộ Y tế quản lý chất lượng nước Tuy nhiên, giữa các bộ này chưa có sự phối hợp chặt chẽ

2.2.3 Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Văn kiện đầu tiên là Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học năm 1995 được xây dựng để bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học quốc gia Năm 2007 và 2008, Kế hoạch hành động

Đa dạng sinh học quốc gia giai đoạn 2007-2010 với tầm nhìn đến năm 2020 và Luật đa dạng sinh học được thông qua với mục tiêu xây dựng khung chính sách cho bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững nhằm hài hòa với các quy định trong các văn kiện khác Bên cạnh đó, vấn đề

đa dạng sinh học cũng được đưa vào các chiến lược và kế hoạch chính ở cấp quốc gia như Chiến

Trang 18

lược tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo toàn diện giai đoạn 2001-10, Kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội giai đoạn 2006-10; Chương trình nghị sự quốc gia số 21 về chiến lược định hướng hướng tới phát triển bền vững (2002) và các luật khác: Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật thủy sản 2003, Luật thương mại 2005, Luật hình sự 2005, Pháp lệnh Thú y 2004, Pháp lệnh Bảo vệ thực vật 2004

Các vấn đề liên quan đến bảo vệ đa dạng sinh học trong nông nghiệp gồm:

Hệ thống quản lý đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Bộ TNTN & MT chịu trách nhiệm điều phối hoạt động của các bộ ngành, cơ quan và địa phương liên quan về bảo tồn đa dạng sinh học nói chung Bộ NN & PTNT có trách nhiệm phối hợp với Bộ TNTN & MT, các bộ, ngành và chính quyền địa phương để thực thi các văn bản pháp

lý liên quan về vấn đề đa dạng sinh học như bảo tồn giống cây trồng, bảo tồn giống vật nuôi, bảo tồn hải sản, nông sản biến đổi gen, lâm nghiệp và thủy lợi

Bảo tồn đa dạng hệ sinh thái

Bảo tồn đa dạng hệ sinh thái gồm 2 loại:

Bên trong khu bảo tồn (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài – khu bảo tồn cảnh quan) Hơn 40 năm qua, diện tích hệ thống khu bảo tồn quốc gia đã gia tăng đáng

kể Hệ thống này gồm 126 rừng đặc dụng được cấp phép gồm 28 vườn quốc gia, 59 khu bảo tồn thiên nhiên và 39 khu bảo tồn cảnh quan với tổng diện tích là 2.541.675 ha

Bên ngoài khu bảo tồn (vùng đệm, cảnh quan, khu quy hoạch và lồng ghép khu bảo tồn trong khu vực sản xuất)

Bảo tồn đa dạng loài

Bộ NN & PPTNT phối hợp với các bộ, ngành khác điều tra, đánh giá những giống thực vật và vật nuôi đặc hữu đang bị đe dọa để đưa vào danh sách các loài cá giá trị đang bị đe dọa cần được bảo vệ

Cơ quan hải quan phải kiểm tra, xác định và xử lý các lô hàng nhập lậu giống loài ngoại lại Ủy ban nhân dân tỉnh phải lập danh mục các giống ngoại lai là cây xâm chiếm để báo cáo Bộ

NN & PTNT và Bộ TNTN & MT Chỉ được phép lai tạo giống ngoại lai sau khi kết quả kiểm định cho thấy các loài đó không gây hại đến đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng gen

Các bộ ngành phải bồn tồn và bảo vệ các yếu tố di truyền của loài và danh sách giống cây trồng và vật nuôi đang bị đe dọa phục vụ cho mục đích nghiên cứu Nhà nước khuyến khích các

tổ chức và cá nhân bảo vệ và bảo tồn các yếu tố di truyền để thiết lập hệ thống ngân hàng gen góp phần bảo tồn đa dạng sinh học Cho đến nay, nhiều cơ sở nghiên cứu của Bộ NN & PTNT đã có ngân hàng gen riêng cho các lĩnh vực nghiên cứu của mình, như Viện nghiên cứu ngô, viện nghiên cứu cây lương thực, v.v

Bộ TNTN & MT quản lý hệ thống dữ liệu gen bị biến đổi và yếu nhân tố di truyền của các loài biến đổi gen liên quan đến đa dạng sinh học Các tổ chức và cá nhân tiến hành nghiên cứu để tạo ra những loài biến đối gen phải đăng ký với Bộ Khoa học và Công nghệ

2.2.4 Bảo vệ môi trường nông thôn

Nhìn chung, việc bảo vệ môi trường nông thôn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp quy như Luật bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 67/2003/ND-CP về phí bảo vệ môi trường

Trang 19

đối với nước thải, và Nghị định 174/2007/ND-CP về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, v.v Ngoài ra, vấn đề này cũng được quy định trong các chiến lược (Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, Chương trình quốc gia 21 về chiến lược định hướng hướng tới phát triển bền vững 2002), Chương trình quốc gia của chính phủ về nước sạch và vệ sinh nông thôn (NPCWRHD), và các chỉ thị của Bộ NN&PTNT như Chỉ thị 36/2008/CT-BNN về tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trong NPCWRHD, hộ gia đình nông thôn được hỗ trợ một phần kinh phí để xây dựng nhà hố xí hợp vệ sinh Năm 2005, 50% hộ gia đình nông thôn đã có hố xí hợp vệ sinh

Bộ NN& PTNT phối hợp với Bộ TNTN & MT, ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp Đối với cây trồng, Bộ NN & PTNT ban hành danh mục hóa chất bảo vệ thực vật được phép sử dụng (thuốc trừ sâu, hóa chất diệt cỏ) Các

sở NN & PTNT phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ việc mua bán và sử dụng những sản phẩm này của nông dân và các tổ chức Bộ NN& PTNT xây dựng quy trình tiêu chuẩn sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, đảm bảo an toàn cho sản phẩm và sức khỏe cho nông dân Tuy nhiên, do thiếu hệ thống giám sát và cơ chế thưởng phạt có hiệu quả, việc tuân thủ các quy định này còn hạn chế

Đối với nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi, Bộ NN& PTNT cũng ban hành một danh mục thuốc thú được phép sử dụng và xây dựng quy trình sản xuất (thức ăn, xây dựng chuồng trại, vv.)

để bảo vệ môi trường nông thôn Bên cạnh đó, dịch vụ khuyến nông của các dự án cũng dành nhiều kinh phí cho hoạt động quảng bá sử dụng khí sinh học Tuy nhiên, năm 2005, chỉ có 7 % chuồng trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải so với chỉ tiêu 30% của Bộ NN&PTNT Gần đây, kiểm soát dịch bệnh là một phần quan trong của chính sách của ngành chăn nuôi với những chính sách đặc thù cụ thể như Quyết định 719/QĐ-TTg 2008 của Thủ tướng về chính sách hỗ trợ phòng chống và đối phó với bệnh dịch ở gia xúc, gia cầm

Đối với làng nghề, cho tới tận bây giờ, vẫn chưa có một văn bản nào hướng dẫn bảo vệ môi trường trong các làng nghề Vài văn bản như Nghị định 66/2006/ND-CP về phát triển làng nghề đã đề cập đến vấn đề này song vẫn thiếu quy định cụ thể về hệ thống xử lý chất thải Hệ lụy

là, năm 2005, chưa đến 1% làng nghề có hệ thống xử lý chất thải so với chỉ tiêu 10% của Bộ NN&PTNT

3 MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỐT LÕI

3.1 Quản lý và sử dụng đất

Chia cắt đất manh mún Việc giao đất theo hạn mức bình quân khiến cho ruộng đất bị

phân chia manh mún Cho đến nay, ở Việt Nam chỉ có 700 xã ở 20 tỉnh đã thực thi việc trao đổi luống đất (BỘ NN&PTNT 2002) Ở Việt Nam, theo ước tính, có 70 – 100 triệu lô hay mảnh đất, trong đó khoảng 10% số mảnh đất có diện tích chỉ 100m2 hoặc thấp hơn (Ngân hàng Thế giới 2003) Tình trạng này làm giảm năng suất và cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, áp dụng công nghệ tiên tiến, do dó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình Quyền sở hữu đất không rõ ràng cộng với thị trường mua bán chuyển nhượng đất kém phát triển, ruộng đất bị chia cắt nhỏ lẻ manh mún khiến cho những hộ nông dân

có điều kiện không muốn bỏ vốn đầu tư vào nông nghiệp Mặc dù những chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa, tích tụ đất đai dẫn đến tình trạng một bộ phận nông dân mất đất và phân hóa nông thôn ở một mức độ nào đó, người ta trông đợi những chính sách như vậy có thể thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, cơ giới hóa, và tạo động lực đổi mới

Trang 20

công nghệ vốn được xem là những yếu tố then chốt cho ngành nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng bền vững

Sử dụng đất không hiệu quả của các nông trường quốc doanh Vào thời điểm này, Việt

Nam có 314 nông trường, và 353 lâm trường quốc doanh, quản lý khoảng 4.6 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó phần lớn tập trung ở vùng miền núi và vùng sâu vùng xa Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng đất của các nông lâm trường còn thấp do cơ chế quản lý không tạo ra động lực cho hộ nông dân tăng năng suất Năm 2006, khoảng 70% nông trường quốc doanh kinh doanh thua lỗ

Thị trường đất bị đóng băng Trên thực tế, bên cạnh hệ thống giá chính thức do nhà nước

quy định, có một hệ thống giá “ngầm” phản ánh giá trị thực của thị trường và thường cao hơn giá nhà nước quy định Quyền sử dụng đất chưa phản ánh đúng giá trị thực của nó trên thị trường, điều này đã những hộ nông dân làm ăn hiệu quả tận dụng cơ hội thị trường đẩy mạnh sản xuất, và khuyến khích những nông dân làm ăn kém hiệu quả ra khỏi ngành

Miễn thuế sử dụng đất Chính phủ đã miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp vào năm 2000

Trên thực tế, khoản thuế này chỉ đóng góp không đáng kể vào ngân sách nhà nước với tỷ lệ chỉ

khoảng 2-3 % Mặc dù đã giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người nông dân, chính sách miễn thuế sử dụng đất có thể dẫn đến việc quản lý đất lỏng lẻo và gây ra tác động tiêu cực đến việc sử dụng đất (Anh 2007) Năng suất nông nghiệp thấp cộng với miễn thuế đất và ruộng đất bị phân chia nhỏ lẻ manh mún làm nông dân thiếu động lực sử dụng và đầu tư vào những mảnh đất nhỏ

lẻ Thêm vào đó, để bù đắp khoản ngân sách thiếu hụt do miễn trừ thuế, chính quyền có thể yêu cầu người nông dân phải trả them các khoản phí hoặc đối mặt với việc cắt giảm các dịch vụ công

Tích tụ đất đai và phân hóa nông thôn Việt Nam phải đối mặt với tình trạng tiến thoái

lưỡng nan Một mặt, các nhà hoạch định chính sách đồng ý rằng tích tụ đất đai là có lợi vì nó giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Mặt khác, tích tụ đất đai có thể dẫn đến người dân mất đất và đây có thể là nguồn gốc gây ra

những bất ổn kinh tế và xã hội

Phát triển khu công nghiệp và sinh kế bền vững của nông dân Chính phủ đang nỗ lực

lấp đầy tất cả diện tích của các khu công nghiệp đã được xây dựng và đang xem xét việc thành lập ngành công nghiệp mới có chọn lọc ở Việt Nam để tăng tổng diện tích các khu công nghiệp lên khoảng 40.000 đến 45.000 ha vào năm 2010 Hiện tại, các khu công nghiệp thường bồi thường một lượng tiền lớn cho nông dân và hứa hẹn sẽ tuyển dụng họ về làm việc trong các công

ty của mình Tuy nhiên, do trình độ học vấn và tay nghề chuyên môn yếu, hầu hết nông dân chưa

đủ điều kiện để làm việc trong các khu công nghiệp Sau một thời gian, tiêu hết tiền bồi thường,

họ sẽ trở thành nông dân không có đất

Bảo vệ rừng và xóa đói giảm nghèo Đất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng miền

núi, vùng sâu vùng xa, nơi có nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống Các cộng đồng này không tích cực tham gia vào quá trình giao đất giao rừng, nhận khoán bảo vệ rừng do sinh kế của

họ không được bảo.Có thể thấy rằng để có nguồn thu từ khai thác gỗ rừng phải mất một thời gian

dài, những nguồn lợi khác từ lâm sản ngoài gỗ và hỗ trợ của chính phủ còn hạn chế

Suy thoái đất Với mục đích cải thiện thu nhập, người nông dân đã mạnh dạn áp dụng các

biện pháp thâm canh tăng năng xuất sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, các biện pháp này cũng làm suy thoái chất lượng đất và suy giảm năng suất, bao gồm:

• Lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp

Xói mòn đất do thâm canh trên đất dốc; và

Trang 21

• Xâm nhập mặn do chuyển đổi đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản và việc sử dụng

nguôn nước ngầm cho tưới tiêu không bền vững và hậu quả là xâm nhập mặn đã xảy ra

Biến đổi khí hậu và an ninh lương thực Theo IUCN (2007), Việt Nam là một trong năm

quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Theo ước tính đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất 40 % đất nông nghiệp Hơn nữa, tổng sản lượng lương thực của Việt Nam sẽ giảm

12 % (khoảng 5 triệu tấn) Tuy vậy, có vẻ như là Việt Nam chưa xây dựng quy hoạch và khoanh

vùng đất tổng thể để đối phó với hiểm họa này

3.2 Quản lý nước

Sử dụng nước kém hiệu quả Khi nước cho tưới tiêu và sinh hoạt hàng ngày được sử

dụng miễn phí hoặc định giá thấp, thì hệ lụy là người nông dân sẽ sử dụng lãng phí Một số nghiên cứu điển hình ở đồng bằng sông Hồng cho thấy sản xuất lúa gạo đã sử dụng quá nhiều

lợi hiện nay chỉ đạt 55-65 % công suất thiết kế

Thâm hụt ngân sách chính phủ cho các dịch vụ cấp nước Tại thời điểm này, vì cả thủy

lợi và việc cấp nước sạch nông thôn đều được bao cấp, chính phủ đã dành một khoản ngân sách lớn để duy trì các dịch vụ này

Dịch vụ Khối lượng

Thủy lợi Ngân sách nhà nước: từ 2000 - 3000 tỉ đồng hàng năm Cấp nước sạch nông thôn Ngân sách nhà nước: 4500 tỉ đồng năm 2006-2010

Ngân sách địa phương: 2300 tỉ đồng năm 2006-2010

Thiếu nước uống cấp cho sinh hoạt ở nông thôn Thiếu nước uống cho sinh hoạt ở nông

thôn đã gây ra sự bất bình đẳng giữa dân cư nông thôn và thành thị UNICEF và Bộ Y tế (2008) chỉ rõ, trong khi 76 % dân số đô thị đã sử dụng nước ngọt, thì chỉ 48 % nông dân sử dụng nước ngọt và nước giếng khoan Mặc dù Việt Nam được công nhận là một quốc gia dư thừa nước, thì

có đến 60-70 % nguồn nước được lấy là từ bên ngoài Các quốc gia ở thượng nguồn như Trung Quốc và Thái Lan đang chuẩn bị xây dựng đập thủy điện quy mô lớn, điều này có thể thay đổi

nghiêm trọng chế độ và lưu lượng nước ở Việt Nam

Suy giảm chất lượng nước Do cả Bộ NN & PTNT và Bộ TN & MT chưa xây dựng được

chính sách giám sát và kiểm soát hiệu quả các nguy cơ ô nhiễm thải vào nguồn nước, nên chất lượng nước ngày càng suy giảm Phân gia cầm và lợn được sử dụng để nuôi cá Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm ao, sông và hồ chứa Hơn nữa, việc lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật cũng làm giảm nghiêm trọng chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm Hơn nữa, do

Trang 22

quy hoạch và quản lý hệ thống đê điều, xâm nhập mặn đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đặc

biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long

Tác động của biến đổi khí hậu Theo Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam sẽ bị ảnh

hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu Mực nước biển có thể tăng 0,3-1 mét, hậu quả là nhiều vùng trũng ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung sẽ bị ngập chìm trong nước Nếu mực nước biển tăng lên 1 mét, diện tích đất ngập lụt sẽ là 40.000

km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu và khoảng 17 triệu người sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Hiện nay chưa có kế hoạch hay phân vùng tài nguyên nước nào để đối phó với hiểm họa này

3.3 Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp\

Chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân chính làm mất đa dạng

sinh học trên toàn vùng Mỗi năm Việt Nam mất 50.000 ha rừng do bị chuyển đổi sang đất nông nghiệp một cách bừa bãi, cháy rừng cũng làm mất một diện tích tương đương, và phần còn lại là

do khai thác gỗ và chặt cây làm củi Nhằm bù đắp diện tích rừng bị mất, một chương trình trồng rừng quy mô lớn đang được thực hiện Thật không may, hầu hết diện tích rừng bị phá là rừng tự nhiên, trong khi việc trồng rừng chủ yếu là trồng cây công nghiệp như thông, cao su và bạch đàn vốn chỉ góp phần không đáng kể vào việc phục hồi hệ sinh thái Bất chấp những nỗ lực lớn của chính phủ để bảo tồn đa dạng sinh học, các chương trình bảo vệ rừng nói chung và rừng phòng hộ đầu nguồn nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý rừng bền vững, đồng bộ để phát

triển rừng cộng đồng

Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Do quá trình công nghiệp hoá và

đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp đã giảm xuống Điều này đã gây tổn hại nghiêm trọng đến

đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Chuyển đổi sang các giống và loài mới Điều này bộc lộ mối hiểm họa đối với các giống

và loài truyền thống đã thích nghi với điều kiện địa phương, mà có thể đem lại lợi ích dài hạn hơn là lợi ích ngắn hạn Phương thức canh tác hiện đại phụ thuộc nhiều vào thuốc bảo vệ thực vật

và phân hóa học làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học Ở nhiều địa phương, phương thức này thế chỗ cho cánh đồng lúa truyền thống nơi mà cá, ếch, và các loài khác đã từng được bổ sung làm thực phẩm ở địa phương Rất ít các loài này có thể sống sót khi thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học được sử dụng Các vấn đề như sinh vật biến đổi gen chưa được quản lý chặt chẽ và đã bộc lộ nguy cơ, đặc biệt nếu Việt Nam đang được sử dụng

làm nơi thử nghiệm sinh vật biến đổi gen

Độc canh cây lúa Hệ thống canh tác chủ yếu tại Việt Nam là nền nông nghiệp dựa vào

sản xuất lúa Sản xuất lúa thâm canh đã làm suy giảm chất lượng đất, giảm lượng nước và tăng khả năng chống chọi và kháng hóa chất bảo vệ thực vật của các loại côn trùng và bệnh dịch gây

hại

Buôn bán động vật hoang dã Hoạt động giao thương lương thực và thực phẩm, cây

thuốc, nguyên liệu chế biến hàng thủ công mỹ nghệ và sản xuất công nghiệp với các nước láng

giềng đang gia tăng và gây khó khăn cho công tác quản lý bền vững

Định nghĩa đa dạng sinh học trong nông nghiệp còn hạn chế Một bất cập chủ yếu

trong việc giải thích các vấn đề đa dạng sinh học nông nghiệp là tài liệu quốc gia có vẻ chỉ hạn chế định nghĩa về tính đa dạng sinh học đối với cây trồng vật nuôi và các loài hoang dã có quan

hệ gần với chúng, chứ không định nghĩa về hệ sinh thái rộng lớn hơn mà trong đó những lòai đó tồn tại Quan điểm này loại trừ các loài hoang dã cung cấp dịch vụ cho nông nghiệp, chẳng hạn

như loài thụ phấn, thiên địch, sinh vật đất, và các loài khác tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp

Trang 23

3.4 Bảo vệ môi trường nông thôn

Thiếu hệ thống giám sát Không có sự phân biệt rõ ràng về trách nhiệm giữa Bộ NN &

PTNT, Bộ TN & MT và Bộ Y tế liên quan đến quản lý môi trường nông thôn về: kiểm soát chất

lượng nước, quản lý chất thải rắn, kiểm soát dịch bệnh, vv

Thiếu cơ chế thưởng - phạt Hiện nay, không có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát tập quán

của nông dân mà có ảnh hưởng đến môi trường, như sử dụng hóa chất và phân bón, việc xử lý

chất thải chăn nuôi vv

Thiếu quỹ đất để kiểm soát ô nhiễm Do các chính sách phát triển thâm canh nông

nghiệp, ô nhiễm từ thuốc bảo vệ thực vật, chất thải chăn nuôi và của ngành tiểu thủ công nghiệp

đã trở nên nghiêm trọng ở nhiều địa phương Theo báo cáo chính quyền địa phương không thể thực hiện những chính sách liên quan đến y tế công cộng, như di dời trang trại chăn nuôi, cơ sở

tiểu thủ công nghiệp, do không có sẵn quỹ đất để phục vụ cho mục đích này

Công nghiệp hóa Các khu công nghiệp ngày càng gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi

trường nông thôn và ảnh hưởng tới sức khỏe của nông dân

Biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển sẽ bị ngập nước trong

tương lai do biến đổi khí hậu Điều này sẽ gây thiệt hại đáng kể cho môi trường nông thôn do thiếu nước sạch, dịch bệnh, vv

4 THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

Lĩnh vực nghiên cứu chính

4.1 Quản lý và sử dụng đất

Quy mô trang trại và năng suất

Một số nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát tại một số địa điểm cho thấy, việc phân phối sở hữu đất nhỏ lẻ và rải rác cản trở việc áp dụng công nghệ, dẫn đến tăng thời gian và chi phí nhân công cho các hoạt động nông nghiệp, chi phí sản xuất cao hơn và tranh chấp, những điều này làm giảm năng suất sản xuất nông nghiệp (Hưng et al 2004 , Blarel et al 1992, Lan năm 2001, Bentley

1987)

Bằng cách sử dụng dữ liệu khảo sát tại một số tỉnh miền Bắc, Sally et (2006 al), ước tính mối quan hệ giữa năng suất, đất đai bị chia cắt manh mún và quy mô trang trại dựa trên phương pháp tiếp cận hàm sản xuất Các kết quả thực nghiệm cho thấy số lượng các lô/ trang trại có tác động tiêu cực tới năng suất cây trồng, gia tăng sử dụng lao động gia đình và chi phí trang trại khác Hơn nữa, họ cũng cho thấy đất đai bị chia cắt manh mún là một yếu tố chính dẫn tới việc buộc phải đa dạng cây trồng

Hưng et (2006 al) điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị ròng của sản xuất nông trại Bằng cách sử dụng phân tích hồi qui, nghiên cứu cho thấy giá trị ròng của sản xuất nông là dương, nhưng không liên quan tuyến tính với quy mô của trang trại, và tỷ lệ đất canh tác có chất lượng càng cao, chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì càng ảnh hưởng tích cực đến giá trị ròng này Nghiên cứu cũng đề xuất cần có các chính sách khuyến khích tích tụ đất đai đối với các thửa đất nhỏ lẻ

Tarp et (2007 al) sử dụng số liệu hộ gia đình từ Khảo sát tiếp cận nguồn tài nguyên ở hộ gia đình của Việt Nam năm 2006 để đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm cây trồng đối với sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Họ thấy rằng các hạn chế đó là phổ biến và cản trở việc đa dạng hóa

Trang 24

cây trồng Mặc dù họ không tìm thấy ảnh hưởng trực tiếp của việc hạn chế này đối với thu nhập

từ canh tác, nghiên cứu khám phá ra một hiệu quả gián tiếp đã phát huy tác dụng khi quay lại với việc đăng ký quyền sử dụng đất

Hiệu quả so với sự bình đẳng trong cơ cấu đất và quá trình phân hóa nông thôn

Mất đất là một vấn đề đáng quan tâm tại Việt Nam vì mất đất hoặc gần như không có đất thường đi đôi với đói nghèo (ADB et al 2004; Lan năm 2001; Ngân hàng Thế giới 2000) Sử dụng phương pháp định tính, Oxfam (1999) và AusAid (2003) xác định 8 lý do dẫn đến mất đất tại Việt Nam như không có khả năng hoàn trả các khoản vay, sản xuất mất mùa do thiên tai, và

vấn đề sức khỏe, vv

Sử dụng số liệu Khảo sát mức sống hộ của Việt Nam (VLSS), các cán bộ nghiên cứu công tác tại Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ quốc tế đã lập luận rằng không có tín hiệu rõ ràng rằng cho thấy thị trường đất đai đã phát triển chin muồi để thúc đẩy quá trình tích tụ đất mạnh mẽ, và việc phân chia đất hiện tại không thể tạo sự phân hóa nông thôn nghiêm trọng Van

de Walle và Cratty (2003) cho rằng các hộ gia đình sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn có sác xuất rất lớn không thuộc diện hộ nghèo

Ravallion & van de Walle (2001) phân tích VLSS 1993 và đưa ra kết luận rằng quá trình giao đất theo chủ trương Khoán 10 năm 1988 và Luật đất đai năm 1993 không bị chi phối bởi người giàu có hay những người có tầm ảnh hưởng và là kết quả của quá trình phân chia đất đai theo hình thức bình quân Tuy nhiên, họ cũng nhận thấy sự khác biệt khi sử dụng VLSS năm 1997-1998 và cho rằng mức độ tích tụ đất đã bắt đầu diễn ra ở những hộ giàu có và có trình độ học vấn cao

Các nghiên cứu khác cho thấy thị trường đất đai ở Việt Nam là vì người nghèo (Deininger and Jin 2003; Ravallion và van de Walle 2003) Các tác giả này sử dụng VHLSS

1993, 1998 và 2002 để đánh giá tác động của quá trình giao đất đối với sự phân hóa nông thôn ở Việt Nam Họ cho rằng việc phân chia đất đã được cải thiện theo hướng có lợi cho các hộ tương đối nghèo theo chi tiêu bình quân của 1/5 số hộ Tương tự, Schipper (2003) tìm thấy bằng chứng dựa trên VHLSS 1993 và 1998 cho thấy rõ việc phân chia đất đã trở nên bình đẳng hơn vào thập niên 90 Hơn nữa, kết luận này dường như đã được xác nhận trong một số nghiên cứu kinh tế lượng về thị trường đất đai Việt Nam, các nghiên cứu này đã kiểm chứng số liệu trong VHLSS (Báo cáo chung của nhà tài trợ năm 2003; ADB, 2002)

Ravallion và van de Walle (2003) cho rằng thị trường đất giúp giải quyết một số yếu kém của quá trình giao đất phát sinh từ các quyết hành chính ban đầu Deininger và Jin (2003) củng cố phát hiện này, và lập luận rằng thị trường đất đã bên cạnh việc cải thiện tính công bằng còn góp phần nâng cao hiệu quả chuyển nhượng đất do nhu cầu đất tăng lên, thông qua mua hoặc thuê, đối với những hộ có năng lực sản xuất cao nhưng lại có ít đất

Trái lại, Akram-Lodhi (2005) lập luận rằng phân hóa nông thôn về mặt sở hữu đất ở Việt Nam vẫn tiếp tiễn trong thập niên 90 Lập luận này xuất phát từ một số nghiên cứu điển hình thực hiện ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam giữa năm 1998 và 2002 Ông đặt ra câu hỏi

hộ gia đình nông thôn làm thế nào có thể đủ tiền mua đất khi giá bình quân của đất trồng trọt đã tăng vọt từ 11,9 triệu đồng/ ha vào năm 1993 lên 26,1 triệu đồng vào năm 1998 Với cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng không bình đẳng, thì các hộ nghèo sẽ không có khả năng mua đất Do đó, thị trường mua bán đất chỉ xảy ra ở phân khúc của những người giàu có

Akram-Lodhi (2004) cũng công bố 5 phát hiện về về cơ cấu đất và sự phân hóa nông thôn Thứ nhất, toàn bộ thị trường đất dường như là vì người nghèo, nhưng lại thiếu nhất quán

Trang 25

Thứ hai, quan hệ thuê mướn trong đó có phát canh thu tô đã quay trở lại với khu vực nông thôn Thứ ba, tình trạng không có đất ở khu vực nông thôn đang gia tăng Bán đất và mất đất do thế chấp, cùng với sự gia tăng kinh tế phi nông nghiệp ở các hộ gia đình tương đối giàu hơn có vẻ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất đất Thứ tư, đất đai bị chia cắt nhỏ lẻ manh mún đã gia tăng đáng kể kể từ năm 1988 bất chấp sự xuất hiện của thị trường đất đai Cuối cùng, việc tập trung đất ở nông thôn Việt Nam là một xu hướng rõ rệt, cho thấy sự phân tầng đất ngày càng tăng

Akram-Lodhi (2005) lập luận rằng quá trình phân hóa tầng lớp nông dân đang diễn ra, với

sự nổi lên của tầng lớp nông dân giàu có sở hữu diện tích đất lớn, có tiềm lực về vốn và tài nguyên, sử dụng lao động làm thuê Đây là một đặc điểm điển hình trong cơ cấu phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, bằng chứng cho thấy ngày càng có nhiều người nông dân mất đất, không có phương tiện sản xuất, họ buộc phải bán sức lao động để kiếm sống và trở thành tầng lớp nghèo nhất của nông thôn Việt Nam

Hoạt động của thị trường đất đai trong mối liên kết với các thị trường khác

Hầu hết các nghiên cứu đều đề tập trung phân tích quá trình phát triển của thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam Marsh và MacAulay (2002) cho thấy, mặc dù việc chuyển nhượng quyền

sử dụng đất đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của công cuộc cải cách, nâng cao quyền sở hữu đất cho chủ đất, song thị trường này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Họ cho rằng vẫn tồn tại một số hạn chế chính thức đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhằm kiểm soát các trường hợp và đối tượng tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất Humphries (1999), Kerkvliet (2000) và Ngân hàng Thế giới (2003) nhận thấy trên thực tế chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã diễn ra, phần lớn là các giao dịch bất hợp pháp Họ lý giải nguyên nhân của các giao dịch bất hợp pháp do chi phí đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất, mất nhiều thời gian, thủ tục rườm rà, quy định không rõ ràng và những hành vi trục lợi của một số kẻ cơ hội

Mash et (2006 al) cũng nhận thấy thị trường quyền sử dụng đất đang hoạt động nhưng mức độ hoạt động có sự khác biệt đáng kể giữa các tỉnh Theo báo cáo, giao dịch cho thuê diễn ra

thường xuyên hơn ở các tỉnh miền Bắc và giao dịch mua bán phổ biến hơn ở các tỉnh phía Nam

Đất đai được cho thuê vì nhiều lý do, trong đó có: thiếu vốn đầu tư để tăng năng suất, đất đai bị chia cắt nhỏ lẻ manh mún, thiếu nguồn lao động, những biến động kinh tế ở cấp độ hộ gia đình như: bệnh tật, đa dạng hóa thu nhập và tài sản ở các doanh nghiệp gia đình phi nông nghiệp (Deininger và Jin, 2003; Ravallion và van de Walle, 2003; Haughton, 2000) Mặc dù việc cho thuê với giá cố định phổ biến hơn phát canh thu tô, có lẽ khía cạnh thú vị nhất của thị trường thuê đất là cả trong trường hợp thuê trực tiếp hay thuê lại, thì việc thuê miễn phí là phổ biến nhất, đây

là một phát hiện cần được nghiên cứu thêm nhưng có thể đó là hệ quả của việc quan chức địa phương được gia tăng quyền lực can thiệp vào thị trường đất như là kết quả của luật thị trường đất (Ravallion và van de Walle, 2003)

4.2 Quản lý và sử dụng nước

Quản lý thuỷ lợi

Quản lý có sự tham gia để kiểm soát nước nông nghiệp ở Việt Nam: Những thách thức và Cơ hội (Bryan Bruns 1997) Sau khi phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để cải thiện các cơ chế vận hành và duy tu bảo dưỡng các công trình thủy lợi ở Việt Nam, nghiên cứu đề xuất phương thức quản lý thủy lợi có sự tham gia trong đó có dự án thí điểm và lộ trình thực hiện trong một số công trình thủy lợi tương ứng

Trang 26

Khuôn khổ nâng cao hiệu quả quản lý các công trình thủy lợi ở Việt Nam (ACIAR 2004) Qua xem xét ba nghiên cứu điển hình ở tỉnh Hà Tây và TP Hồ Chí Minh, dự án tập trung vào phân tích cơ chế hoạt động và quản lý của hệ thống thủy lợi thuộc quản lý nhà nước bao gồm: vận hành hệ thống, quản lý tài sản, phân tích khía cạnh kinh tế và thể chế của hệ thống Những kết quả tìm được bao gồm:

• Hiệu suất nước thấp: rất thấp, sản lượng lúa trên một đơn vị khối lượng nước rất thấp; và

• Tính bền vững của quản lý tài chính đối với IMCs: (i) Họ phụ thuộc rất nhiều vào trợ cấp của chính phủ để duy trì hoạt động của họ; (ii) mức độ trợ cấp của chính phủ không đủ để bảo đảm tính bền vững lâu dài cho tài sản của IMC (iii) kinh phí dành cho duy tu bảo trì thường không đủ đáp ứng tiêu chuẩn cần thiết để ngăn quá trình hao mòn xuống cấp

nhanh chóng của tài sản công ty

Hài hoà chi tiêu công theo thể chế ngành để giải quyết những thách thức trong Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ngân hàng Thế giới 2005) Báo cáo này trình bày một số kết quả

chính như sau:

• Xu hướng phân cấp kinh phí thuỷ lợi và chuyển từ từ chú trọng các công trình mới sang nâng cấp và hoàn hoàn thiện các công trình hiện có;

• Công suất tưới tiêu và thoát nước còn thấp; và

Không đủ kinh phí cho vận hành và bảo trì hệ thống thủy lợi

Nghiên cứu mô hình quản lý tưới tiêu hiệu quả, bền vững cho nông nghiệp và phát triển nông thôn (Trung tâm Nghiên cứu kinh tế - Viện Khoa học Thủy lợi, 2007) Trong nghiên cứu

này, một cuộc điều tra về hiện trạng cơ cấu tổ chức và quản lý công trình thủy lợi được tiến hành tại 528 huyện thuộc 53 tỉnh ở Việt Nam Kết quả chính:

• Bộ máy quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi không đồng bộ về mặt

tổ chức, chức năng và nhiệm vụ;

• Phân cấp quản lý hành chính không rõ ràng gây khó khăn trong hoạt động và quản lý;

• Cơ cấu tổ chức và quản lý mô hình thủy lơi tồn tại dưới nhiều hình thức;

• Phạm vi quản lý của IMCs quá rộng dẫn đến hiệu quả thấp; và

• Cơ chế tài chính đối với IMC không công bằng

Hiệu quả đầu tư thủy lợi

Tác động của việc xóa đói giảm nghèo đối với chi tiêu cho hệ thống thủy lợi-thủy lợi quy

mô lớn ở Việt Nam (Ngân hàng Phát triển Châu Á và Ngân hàng Thế giới, 2004) Các nghiên cứu

đánh giá tác động của đầu tư công đối với (i) riêng việc tu bổ cơ sở hạ tầng thuỷ lợi, (ii) nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý, (iii) kết hợp giữa tu bổ cơ sở hạ tầng thuỷ lợi và nâng cao hiệu quả

hệ thống quản lý Sau khi đánh giá những thay đổi về nguồn cung cấp nước, sản lượng lúa gạo, lợi nhuận canh tác, chi phí sản xuất, yếu tố bấp bênh trong sản xuất, và tỷ lệ nghèo đói trong ba công trình thủy lợi quy mô lớn khác nhau ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy cả đầu tư tu bổ cơ sở hạ tầng và cải tiến quản lý đều mang lại hiệu quả cao hơn Các khuyến nghị chính sách gồm có: (i) tu bổ hệ thống hiện có cần đi kèm với nâng cao hiệu quả quản lý nhằm khai thác hết tiềm năng thiết kế; và (ii) vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ưu tiên

đầu tư tu bổ hệ thống thủy lợi hơn là cải thiện hệ thống quản lý

Chính sách vĩ mô và ưu tiên đầu tư cho tưới tiêu nông nghiệp ở Việt Nam (Viện Quản lý nước quốc tế, Bộ NN&PTNT và IFPRI, 2004): Các nghiên cứu đánh giá tác động của đầu tư công

cho thủy lợi đối với tăng trưởng sản lượng nông nghiệp Phân tích kinh tế lượng trên cơ sở sử

Trang 27

dụng số liệu của 54 tỉnh thành ở Việt Nam, kết quả cho thấy đầu tư công cho thủy lợi góp phần thúc đẩy tăng trưởng tổng sản lượng nông nghiệp lên 28% trong giai đoạn 1991-1999 Nghiên cứu kết luận rằng trong tương lai nếu cắt giảm đầu tư công cho thủy lợi để dành kinh phí cho các

ưu tiên khác, thì cần phải tìm các nguồn đầu tư khác

Nước ngầm

Tác động kinh tế xã hội và môi trường của việc cải cách thể chế đối với ngành nông nghiệp của Việt Nam, Đánh giá tính phù hợp của đất cho cà phê Robusta ở khu vực Đắk Gan (D'haeze et al 2004).; Và

Khai thác nước ngầm phục vụ tưới tiêu Cà phê vối ở vùng đầu nguồn Ea Tul, Việt Nam - Đánh giá rủi ro (D'haeze et al 2004)

Nhiều nghiên cứu cho thấy, phát triển diện tích cà phê ồ ạt gây hậu quả suy giảm nguồn nước

ngầm trên địa bàn tỉnh Đắk lak

Tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước

Dự án 'Biến đổi khí hậu ở châu Á: Việt Nam', do Viện Quy hoạch Thủy lợi - Bộ Thủy lợi, và Tổng cục khí tượng thủy văn thực hiện (1992-1994) được Ngân hàng Phát triển châu Á tài trợ Hoạt

động của dự án bao gồm: (i) Giám sát khí nhà kính dựa trên số liệu năm 1990, (ii) Đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp, tài nguyên nước, lâm nghiệp, y tế cộng đồng

và thiên tai; (iii) đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu về năng lượng, xây dựng, giao thông, nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất; và (iv) đề xuất chính sách ứng phó

với biến đổi khí hậu

Dự án 'Đánh giá mức độ tổn thương của các vùng duyên Việt Nam - Giai đoạn 1', do Tổng cục khí tượng thủy văn thực hiện với sự tài trợ của Chính phủ Hà Lan (1996) Nghiên cứu

đánh giá mức độ tổn thương của tất cả các khu vực ven biển của Việt Nam dưới tác động của mực nước biển dâng và đề ra một số biện pháp quản lý chung đối với các khu vực ven biển ở

Việt Nam Những tỉnh được chọn gồm: Nam Định, Thừa Thiên Huế, và Bà Rịa Vũng Tàu

Lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Hữu Ninh (2007) Nghiên cứu này trình bày

tổng quan về (i) biến đổi khí hậu và lũ lụt; (ii) hiện trạng quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Bản báo cáo chỉ ra rằng trong dài hạn, biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn và sự phát triển kinh tế xã hội của đồng bằng sông Cửu Long Mặc dù đồng bằng sông Cửu Long giàu tài nguyên thiên nhiên và có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, đói nghèo trong vùng là một thách thức lớn trong ứng phó với biến đổi khí hậu Những lĩnh vực dễ bị tổn thương nhất là nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và lâm nghiệp

4.3 Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Hannal, D, Quản lý Tài nguyên nông nghiệp phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học - nghiên cứu điển hình về Ấn Độ, Philippines và Việt Nam (2001): Ở Việt Nam, mặc dù các loài cây bản

địa được trồng phổ biến và vật nuôi được thuần hoá có nguồn giống đa dạng phong phú, và các sinh vật khác xung quanh chúng đóng vai trò then chốt đối với một hệ sinh thái khoẻ mạnh, nhưng các hoạt động như lập danh mục, bảo tồn và thúc đẩy sự phát triển của chúng hầu như chưa được thực hiện Trên thực tế, nhiều loài đang có nguy cơ do các hệ thống nông nghiệp truyền thống giàu tính đa dạng sinh học đang dần bị thay thế bởi phương thức sản xuất độc canh các loài nhập nội có năng suất cao, rủi ro cũng cao và thường để lại những hậu quả nghiêm trọng

Bộ TN&MT, Giám sát môi trường Việt Nam – Đa dạng sinh học (2005) do Ngân hàng Thế giới tài trợ : Đây là báo cáo quốc gia của Bộ TN&MT trình bày tổng quan về hiện trạng đa

dạng sinh học của Việt Nam Báo cáo Giám sát này đánh giá hiện trạng và xu hướng đa dạng sinh học, nêu bật các vấn đề then chốt, xác định các bài học kinh nghiệm nhằm hỗ trợ cấp ra quyết

Trang 28

định xác định các vấn đề ưu tiên hành động trong tương lai để nâng cao hiệu quả quản lý hệ sinh thái ở Việt Nam cũng như các loài và nguồn gen

Nguyễn Thị Ngọc Huệ, hướng dẫn bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp ở Việt Nam (2008) do IUCN và chính phủ Đan Mạch tài trợ: Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên

một nghiên cứu tương tự được thực hiện tại Thái Lan Nghiên cứu này cung cấp thông tin về hiện trạng đa dạng sinh học và các mối đe dọa với đa dạng sinh học trong tám hệ thống sinh thái nhằm giúp đội ngũ cán bộ nông nghiệp và các lãnh đạo địa phương bảo vệ và sử dụng bền vững loại tài nguyên thiên nhiên này

4.4 Bảo vệ môi trường nông thôn

Môi trường nông thôn

Dự án KC 08.05 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam, đặc biệt là các vùng sinh thái để dự báo quá trình phát triển, đề xuất chính sách và các giải pháp giám sát (2004): do Đào Cân thực hiện, nội dung của nghiên cứu

gồm các vấn đề (i) điều kiện tự nhiên của 8 vùng sinh thái; (ii) hiện trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên, (iii) Điều kiện y tế và vệ sinh môi trường nông thôn, (iv) đề xuất chính sách

Nguyễn Đinh Hương, Nguyễn Thế Chinh (1999) sử dụng mô hình đầu vào – đầu ra để nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất thải công nghiệp ở Đồng Bằng sông Hồng Kết quả nghiên cứu cho thây mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và chất thải công nghiệp theo thống kê là không đáng kể

Dự án nghiên cứu của Bộ TN&MT (2000) đánh giá tình hình ô nhiễm tại một số làng nghề của tỉnh Hà tây, Bắc Ninh và Hưng Yên và đề xuất chính sách giảm tình trạng ô nhiễm do

Đặng Kim Chi thực hiện Kết quả cho thấy chất lượng môi trường ở tất cả các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn quốc gia Công nhân phải làm việc trong điều kiện nguy hiểm: 95% tiếp xúc trực tiếp với bụi bẩn, 85% làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao và 60% với các hóa chất độc hại

Tác động của sản xuất nông nghiệp

Nguyễn Hữu Dũng (1997) điều tra tác động của việc sử dụng thuốc trừ sâu ở vùng Đồng Bằng sông cửu Long Nghiên cứu được thực hiện với 180 nông dân tham gia cuộc khảo sát trong

vụ mùa đông xuân năm 1996 Ông Dũng nhận thấy hơn 90% nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ nấm và các loại hóa chất khác), bao gồm một

số sản phẩm bị cấm sử hoặc hạn chế sử dụng vì có độc tính cao Mặc dù 65% nhóm người tham gia khảo sát có khả năng đọc nhãn hiệu, chỉ 39% thực sự hiểu và làm theo hướng dẫn Kết quả là hầu hết nông dân không sử dụng các thiết bị bảo hộ như ủng cao su, khẩu trang, áo dài tay mà lại

sử dụng quần áo ngắn và áo lót khi làm việc

Trang 29

5 CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN NGHIÊN CỨU

Bao gồm nghiên cứu và tư vấn chính sách về:

• Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hiệu quả sử dụng đất, chuyển nhượng đất, phân chia đất và phân phối thu nhập, cung cầu nước, đa dạng sinh học trong nông nghiệp, các yếu tố liên quan đến môi trường nông thôn (chất lượng không khí, chất thải rắn, sức khoẻ nông dân, vv…);

• Phân tích hiệu quả sử dụng đất : (i) đánh giá năng suất nông nghiệp và tính kinh tế của quy

mô sản xuất nông nghiệp; (ii) quy mô trang trại và diện tích thửa đất tối ưu

• Phân tích mối quan hệ tích tụ đất đai và phân hóa nông thôn: (i) đặc thù tình trạng đói nghèo nông thôn và bất bình đẳng thu nhập; (ii) mối quan hệ nhân quả giữa phân chia đất đai và phân hóa nông thôn; (iii) tác động của chính sách đất đai đối với thu nhập và bất bình đẳng ở nông thôn

• Phân tích hoạt động của thị trường đất đai: (i) chi phí giao dịch trong chuyển chuyển nhượng đất; (ii) điểm cân bằng của thị trường đất ; (iii) kiểm soát hành chính các giao dịch đất đai; (iv) sự liên kết giữa thị trường đất với các thị trường khác (hàng hóa, lao động, vốn ); (v) hành vi của các nông hộ khi trực tiếp đi thuê hoặc cho thuê đất;

• Phân tích cung cầu nước tưới và nước sạch

• Phân tích hiệu quả hoạt động của các tổ chức cung cấp nước tưới và nước sạch

• Nghiên cứu hoạt động của thị trường cung cấp các dịch vụ tưới tiêu và nước sạch

• Nghiên cứu quy hoạch và khoanh vùng tài nguyên nước

• Nghiên cứu tác động kinh tế đối với đa dạng sinh học nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp (vai trò của việc thụ phấn đối với sản lượng, mối quan hệ giữa đa dạng sinh học nông nghiệp với bệnh dịch trên vật nuôi và cây trồng);

• Phân tích tác động ứng dụng biến đổi gen đối với phát triển nông nghiệp;

• Nghiên cứu tác động sản xuất nông nghiệp đối với đa dạng sinh học trong nông nghiệp

• Nghiên cứu tác động sản xuất nông nghiệp đối với môi trường nông thôn (sử dụng thuốc bảo

vệ thực vật, phân bón, chất thải chăn nuôi, rác thải các làng nghề đối với môi trường nông thôn, sức khỏe nhà nông); và

• Nghiên cứu tác động về chất lượng của môi trường nông thôn (chất lượng đất, không khí, nước trong sản xuất nông nghiệp, thu nhập của nông dân)

Các cơ quan thực hiện nghiên cứu

Hiện nay, nhiều cơ quan, tổ chức đã tiến hành các nghiên liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn, các cơ quan này gồm:

Bộ NN&PTNT: Viện nghiên cứu tài nguyên nước, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản,

Viện quy hoạch và dự báo nông nghiệp quốc gia, Viện quy hoạch và phân vùng nông nghiệp, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, Viện khoa học nông nghiệp miền Nam, Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn

Bộ TN&MT: Viện biến đổi khí hậu và khí tượng thủy văn, Trung tâm khí tượng thủy văn

quốc gia, Viện chính sách và chiến lược tài nguyên và môi trường, Viện nghiên cứu quản lý đất đai

Trang 30

Các trường đại học : ĐH quốc gia Hà Nội, ĐH Thủy lợi, ĐH Nông nghiệp, ĐH Bách

khoa, ĐH Nông Lâm TP HCM, ĐH Cần Thơ

Chính phủ : Liên hiệp các hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Viện môi trường và phát

triển bền vững (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Bộ Y tế, Bộ khoa học và công nghệ, vv…

Các tổ chức khác: ABARE, Ngân hàng thế giới, IFPRI, ACIAR, Viện quản lý nước quốc

tế khu vực Đông Nam Á, UNESCO, FAO, UNDP, WHO, IFAD, UNICEF, WMO, etc

Năng lực của Viện Chính sách Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD):

Hiện nay, các vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn còn khá

mới mẻ với các cán bộ nghiên cứu của IPSARD Viện chỉ thực hiện 3 dự án nghiên cứu định

lượng thí điểm về: (i) tác động của chính sách đất đai đối với các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây

Nguyên; (ii) chuyển đổi đất lúa sang đất công nghiệp và thương mại tại tỉnh Hà tây; (iii) tác động

của chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí đối với sinh kế của nông dân IPSARD cũng đã có báo cáo

thống kê và định tính về tranh chấp và quá trình tích tụ đất đại tại Việt Nam Ngoài ra, IPSARD

có kế hoạch cộng tác với Trường ĐH Harvard để tiến hành một số nghiên cứu điển hình phục vụ

nhu cầu cấp thiết của lãnh đạo Bộ NN&PTNT trong quá trình cải cách chính sách đất đai

Các nhu cầu này bao gồm: (i) thông tin tổng quan, kỹ năng cơ sở dữ liệu và ngoại nghiệp

để tiến hành khảo sát các vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn (ii) hỗ

trợ tích cực về chuyên môn và kinh nghiệm xác định nội dung nghiên cứu, phiếu điều tra, phương

pháp điều tra và tình hình quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn (iii) kỹ năng

hồi quy và kỹ thuật đánh giá tác động (iv) hỗ trợ kỹ thuật cho việc ứng dụng các kỹ thuật định

lượng trong phân tích hiệu quả sử dụng đất, nghèo đói, bất bình đẳng, các mô hình mô phỏng

kinh tế sinh thái về quản lý nước, đa dạng sinh học trong nông nghiệp và môi trường nông thôn

6 PHÂN TÍCH SWOT

Các vấn đề chung

• Chính phủ xây dựng nhiều chính sách chính

phủ để giải quyết các vấn đề về môi trường

và các nguồn lợi thiên nhiên

để quản lý các vấn đề đất đai, tài nguyên

nước, đa dạng sinh học nông nghiệp và môi

trường nông thôn;

• Thiết lập các thể chế cho quản lý đất đai, tài

nguyên nước, đa dạng sinh học nông nghiệp

và môi trường nông thôn

• Phát triển các dịch vụ xã hội công cho khu

vực nông thôn, khả năng đầu tư của nông

dân vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và

môi trường nông thôn đã tăng hơn so với

trước dây

• Tác động và tuân thủ các quy định chính sách còn hạn chế

• Thiếu cơ sỏ dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, tài nguyên nước nước, đa dạng sinh học nông nghiệp và môi trường nông thôn

• Quyền sở hữu tài nguyên không rõ ràng, năng lực xây dựng quy hoạch, kế hoạch quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường còn kém

• Thiếu thể chế thị trường đối với tài nguyên thiên nhiên

(đất, nước, đa dạng sinh học) và các dịch vụ môi trường;

• Quá trình cải cách chính sách quản lý tài nguyên và môi trường còn diễn ra chậm chạp

• Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chịu trách nhiệm quản

lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường

chức nhà nước và cán bộ nông trường quốc doanh, đây là các đối tượng cản trở quá trình cải cách để hướng tới xây dựng chính sách quản lý tài nguyên minh bạch theo định hướng thị trường

• Nhận thức của nông dân về các vấn đề mới nổi còn hạn chế: sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, bảo vệ môi trường

Trang 31

nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Quản lý và sử dụng đất

đẳng;

• Hiệu quả quản lý và sử dụng đất cao, nhưng

diện tích đất các hộ nông dân sử dụng hoặc

sở hữu lại giảm xuống

• Các quy định tương đối linh hoạt tạo thuân

lợi cho cho những hộ tiềm lực tài chính tích

tụ đất (thông qua chuyển nhượng, thuê đất…)

đất đang quản lý để giao lại cho dân qua đó

tăng quyền sử dụng đất cho người dân

• Giao rừng sản xuất cho các hộ và rừng phòng

hộ cho cộng đồng qua đó nâng cao hiệu quả

sử dụng đất

• Nhu cầu về đất được thúc đẩy nhờ các hộ gia

đình có có học vấn cao, có tiềm lực sản xuất

và nợ ngân hàng ít hơn

• So với các quốc gia, nông dân Việt Nam có

truyền thống sẵn sàng đóng góp nguồn lực vì

lợi ích cộng đồng cao hơn, chẳng hạn như các

hoạt động sản xuất môi trường ở khu vực

nông thôn

• Diện tích đất phân cho mỗi hộ còn nhỏ, đất đai bị chia cắt nhỏ lẻ, ít giao dịch chuyển nhượng và tích tụ đất, đây được xem như là yếu tố sự cản trở hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa cơ cấu mùa vụ và áp dụng công nghệ tiên tiến

• Diện tích đất phân cho mỗi hộ còn nhỏ, thiếu vốn tín dụng không có tác dụng khuyến khích các hộ có kinh nghiệm sản xuất mạnh dạn bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp

• Quá trình tích tụ đất đai có thể dẫn tình trạng nhiều nông dân mất đất

• Thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa phát triển, giá đất thường thấp hơn giá thị trường điều này làm giảm cơ hội của những hộ có tiềm lực mở rộng sản xuất

• Đất nông nghiệp bị bán để chuyển đổi sang các khu công nghiệp với giá bán thường xuyên thấp hơn giá thị trường, người nông dân không đủ tay nghề làm trong các khu công nghiệp, điều này góp phần làm gia tăng số nông dân không

• Nông dân khó tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng, tỷ lệ các hộ

nợ ngân hàng ở mức độ tương đối cao

Quản lý và sử dụng nước

• Phát triển các Công ty quản lý thủy lợi

một số đã được cổ phần hóa

• Phát triển các Nhóm người sử dụng nước

có khả năng đứng ra thu phí cho các

công ty quản lý thủy lơi để trang trải chi

phí hoạt động và duy tu bảo dưỡng

• Chính phủ dành ngân sách lớn cho dịch

vụ cung cấp nước tưới và nước sạch

• Nông dân được miễn phí thủy lợi gây khó khăn cho hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ thủy lơi, nguồn thu chỉ đủ trang trải được một nửa chi phí vận hành, quản lý và bảo trì, làm cho các công trình thủy lợi xuống cấp nghiêm trọng

• Ngân sách nhà nước cấp cho bảo trì và nâng cấp các công trình thủy lợi còn hạn chế dẫn đến tình trạng người nông dân khó tiếp cận được dịch vụ cung cấp nước sạch và giảm hiệu quả sử dụng nước

• So với các loại cây trồng khác cho lợi nhuận cao hơn, thì sản xuất lúa gạo và bông có năng suất thấp (sản lượng lúa trên mỗi đơn vị nước còn thấp)

• Chính sách và ý thức tuân thủ luật pháp để kiểm soát yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước ở cả đô thị (công nghiệp) và nông thôn, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước

Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp

• Thành lập ngân hàng gen • Thiếu sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các ngân

Trang 32

• Cơ sở dữ liệu biến đổi gien do Bộ

TN&MT quản lý, Bộ KH&CN quản lý

đăng ký sinh vật biến đổi gen

hàng gen dẫn đến tình trạng chồng chéo ở nơi này và thiếu hụt ở nơi khác

• Công tác quản lý và kiểm soát ứng dụng sinh vật biến đổi gen vì mục đích nghiên cứu còn chưa chặt chẽ

• Quy định liên quan đến đa dạng sinh học nông nghiệp hạn chế việc xác định các loài cây trồng vật nuôi hơn là các hệ sinh thái mà trong đó các loài đó tồn tại

Bảo vệ môi trường nông thôn

• Có quy định chặt chẽ về bảo vệ môi

trường nông thôn

• Nhà nước và các tổ chức quốc tế đẩy

mạnh phát triển sử dụng hệ thống khí

sinh học từ chất thải chăn nuôi

• So với các quốc gia khác, nông dân Việt

Nam có tinh thần đóng góp nguồn lực vì

lợi ích cộng đồng cao hơn, chẳng hạn

như các hoạt động sản xuất môi trường

tại các khu vực nông thôn

• Có sự cải thiện đáng kể trong nhận thức

của toàn xã hội về tác động của biến đổi

khí hậu đối với các phương thức sử dụng

đất trong tương lai, nhà nước và các tổ

chức quốc tế dành nguồn lực lớn cho

nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu

và tìm giải pháp khắc phục

• Hệ thống giám sát môi trường nông thôn và các cơ chế thưởng phạt chưa nghiêm làm giảm tác động và ý thức tuân thủ luật pháp

• Các cơ sở sản xuất quy mô lớn hưởng ứng sử dụng khí sinh học, chưa đến 10% cơ sở chăn nuôi ở nông thôn xây dựng hệ thống xử lý chất thải

• Quy định xử lý chất thải và bảo vệ môi trường đối với làng nghề còn chưa chặt chẽ và thực thi chưa nghiêm

• Ngân sách hạn chế, cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường nông thôn xuông cấp

• Lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật,, sử dụng không hiệu quả nước tưới tiêu, thâm canh trên đất dốc và sử dụng nước ngầm không bền vững gây hậu quả xâm nhập mặn và gia tăng suy thoái đất

• Các hộ gia đình chưa tích cực tham gia bảo vệ rừng do sinh kế không được bảo đảm

Vấn đề chung

• Chính phủ quan tâm thúc đẩy chuyển đổi

nông thôn và phân cấp công nghiệp hoá

và đô thị hóa, nhu cầu cải cách chính sách

quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi

trường nông thôn

• Chính phủ quyết tâm theo đuổi chính

sách phát triển nông thôn bền vững bằng

cách tăng cường thực thi chính sách quản

lý tài nguyên thiên nhiên và lý môi

trường nông thôn

• Năng lực quản lý tài nguyên thiên nhiên,

quản lý môi trường nông thôn của chính

phủ được cải thiện

• Chính phủ và các nhà tài trợ tăng cường

đầu tư cho ngành nông nghiệp và khu vực

nông thôn

• Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai,

tài nguyên nước, đa dạng sinh học nông

nghiệp và môi trường nông thôn

• Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hóa diễn ra mạnh

mẽ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, suy giảm chất lượng nước, đa dạng sinh học nông nghiệp và môi trường nông thôn

• Biến đổi khí hậu và khả năng của chính phủ và nông dân đối phó với thiên tai còn hạn chế

• Ngân sách chính phủ và tài trợ quốc tế đầu tư cho quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở Việt Nam còn hạn chế

• Sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế với chất lượng môi trường

• Công tác điều phối các nguồn lực cho nghiên cứu biến ứng phó với đổi khí hậu, quy hoạch sử dụng đất còn bộc lộ yếu kém

Trang 33

• Có chính sách phát triển thể chế trên

nguyên tắc thị trường cho các dịch vụ

môi trường và tài nguyên thiên nhiên

• Xây dựng các chiến dịch nâng cao nhận

thức quốc gia về bảo vệ môi trường

Quy hoạch và sử dụng đất

• Đánh giá tác động của giao dịch chuyển

nhượng đất theo cơ chế thị trường và tích

tụ đất đai để tăng năng suất, đầu tư vào

nông nghiệp và nông dân mất đất

• Thiếu ngân sách dẫn đến hạ tầng nông thôn để bảo vệ môi trường xuống cấp;

• Không có cơ chế hiệu quả để theo dõi và kiểm soát chất lượng đất ở khu vực nông thôn và ngành nông nghiệp;

• Yếu kém trong quản lý rủi ro (nợ vay ngân hàng, chăm sóc sức khỏe…), hạn mức đất nhỏ có xu hướng làm gia tăng số lượng nông dân nghèo mất đất buộc phải bán sức lao động để sinh tồn

Quản lý và sử dụng nước

• Đánh giá lợi ích tiềm năng đầu tư tu bổ

các công trình thủy lợi hiện có so với xây

dựng các công trình mới

• Đánh giá tác động của phí sử dụng nước

đối với lợi nhuận của các công ty dịch vụ

thủy lợi, năng lực tăng cường duy tu bảo

trì và nâng cấp hệ thống thủy lợi hiện có

và sự lựa các doanh nghiệp của nông dân

• Xây dựng các mô hình sử dụng nước hiệu

quả và đề xuất cây trồng để sử dụng

nguồn nước hiệu quả

• Đánh giá tác động của chất thải nông

thôn (động vật, cá, cây trồng và các hóa

chất nông nghiệp) đối với chất lượng

nước

• 60-70% nguồn nước bắt nguồn từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam

Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp

• Có chính sách, chiến lược quản lý và

điều phối hiệu quả các ngân hàng gen

nông nghiệp

• Thí điểm nghiên cứu tác động của việc

bảo tồn và quản lý hệ sinh thái đối với đa

dạng sinh học hệ sinh thái

• Quá trình công nghiệp hóa, hệ thống độc canh trong nông lâm nghiệp, lạm dụng hóa chất nông nghiệp tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học trong nông nghiệp

• Các vụ buôn bán động vật hoang dã quý hiếm chưa được ngăn chặn kịp thời và sử lý nghiêm minh cộng với lợi nhuận cao đe dọa nghiêm trọng tính đa dạng sinh học

• Sự thờ ơ của công luận

Bảo vệ môi trường nông thôn

Trang 34

EPRO 3: NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VÀ HỆ

THỐNG CHUYỂN GIAO ĐỐI VỚI NN VÀ PTNT

1 XÁC ĐỊNH EPRO3

1.1 Mục tiêu Quốc gia

Xây dựng khung pháp lý và môi trường chính sách nhằm nâng cao chất lượng, tiếp cận và tác động đến các dịch vụ nông nghiệp theo cơ chế thị trường và hiệu quả chi phí để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khác nhau (đem lại hiệu quả Đầu tư)

¾ Đề xuất phạm vi điều chỉnh và cải cách quy trình để đạt được mục tiêu quốc gia

1.3 Nội dung nghiên cứu chính

Trọng tâm nghiên cứu là các dịch vụ nông nghiệp và khuyến nông do nhà nước, các tổ chức xã hội chính trị và các doanh nghiệp cung cấp (nhà nước hoặc tư nhân) ở cấp trung ương và

cơ sở, tuy nhiên cũng cần xem xét các hệ thống cung cấp dịch vụ tương tự ở nông thôn, như:

9 Các dịch vụ sản xuất khác cho các tác nhân nông thôn (thủy lợi, thú y và bảo vệ thực vật);

9 Các dịch vụ xã hội (chăm sóc sức khỏe, điện, nước, giáo dục, vv…) và

Trang 35

trọng vào các chiến lược tăng cường khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản trên thị trường trong nước và xuất khẩu

2.2 Khung chính sách và pháp lý

Nghiên cứu

Chính phủ đặt ra mục tiêu là tăng cường tính phù hợp, hiệu quả và tác động của các nghiên cứu do nhà nước cấp kinh phí đóng góp cho phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Các quy định quan trọng bao gồm:

Nghị quyết 02 của Quốc hội khóa 8 của ĐCSVN năm 1996 đưa ra định hướng chiến lược cho

khoa học công nghệ nhằm góp phần đạt được các mục tiêu hiện đại hóa đất nước Nghị quyết khẳng định vai trò quan trọng của KHCN đối với công cuộc phát triển đất nước và đưa ra định hướng phát triển KHCN đến năm 2020 Nhà nước thừa nhận tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản hướng trọng tâm vào nâng cao tác động của nghiên cứu ứng dụng Các chiến lược quan trọng được đề xuất trong hướng dẫn bao gồm:

• Tăng cường đầu tư cho KHCN lên 2% tổng ngân sách quốc gia và các chính sách cũng như ưu đãi về thuế nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân và phát triển nguồn nhân lực và vốn kiến thức khoa học, cho phép các viện nghiên cứu tham gia vào các hoạt động thương mại

• Sử dụng hiệu quả trợ giúp quốc tế để cải thiện năng lực và cơ sở vật chất nghiên cứu và tiếp cận các quỹ của nhà nước và nhà tài trợ cho giáo dục và đào tạo tại nước ngoài

• Rà soát cơ chế nghiên cứu và quản trị để nâng cao hiệu suất và hiệu quả của các hệ thống chuyển giao nghiên cứu

• Phát triển năng lực, tăng cường bộ máy tổ chức và mở rộng các nguồn thông tin KHCN

• Các chính sách về cán bộ đưa ra chế độ tiền lương hợp lý, phát hiện các tài năng khoa học xuất sắc, cải thiện năng lực là cơ sở vật chất nghiên cứu và hội nhập với cộng đồng khoa học thế giới

Luật Khoa học Công nghệ năm 2000 đảm bảo vai trò của Nhà nước trong đầu tư cho xây dựng

và phát triển năng lực KHCN trong nước cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các tổ chức

và cá nhân tham gia phát triển và chuyển giao KHCN Các chiến lược quan trọng nhất bao gồm:

• Chính phủ sẽ xây dựng những chính sách ưu đãi (như tín dụng, thuế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ) nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân vào KHCN

• Xây dựng hệ thống khên thưởng để ghi nhận những đóng góp xuất sắc cho KHCN của các tổ chức và cá nhân

• Các thể chế nghiên cứu và phát triển có thể là (i) thể chế nghiên cứu và phát triển cấp quốc gia

do Chính phủ thành lập; (ii) thể chế cấp bộ, tỉnh và các tổ chức tương đương được thành lập

Trang 36

thông qua quyết định hoặc ủy quyền của Thủ tướng, và (iii) các thể chế cấp địa phương được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật

• Nhà nước sẽ ưu tiên tạo nguồn ngân sách đầu tư cho KHCN tập trung cấp kinh phí cho các nhiệm vụ KHCN được ưu tiên và nghiên cứu cơ bản ở cấp quốc gia và mở rộng tới tất cả các đơn vị và cá nhân cung cấp dịch vụ nghiên cứu (nhà nước & và tư nhân)

• Nhà nước đảm bảo việc tăng ngân sách theo lộ trình cho phát triển KHCN và đồng thời huy động vốn đầu tư từ các tổ chức và cá nhân cho các hoạt động KHCN

• Xây dựng và phát triển thị trường KHCN, thông qua các chính sách và quy định pháp luật về bảo hộ và sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, áp dụng các giải thưởng và chính sách ưu đãi đối với các tổ chức và cá nhân ứng dụng và /hoặc tạo ra phát minh sáng chế, đổi mới, cải tiến kỹ thuật

Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28 tháng 2 năm 2001 về khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng

KHCN trong dịch vụ cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn yêu cầu:

• Cơ sở chế biến nông lâm thủy sản chủ động áp dụng công nghệ mới, chuyển giao công nghệ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm;

• Nhà nước có những chính sách và cơ chế phù hợp để nâng cao trách nhiệm, khuyến khích bằng các lợi ích pháp lý, và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;

• Các trung tâm KHCN quốc gia, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chuyên môn xã hội có trách nhiệm trực tiếp tham gia vào các dự án và chương trình phát triển nông thôn theo những hình thích phù hợp;

• Nhà nước tăng cường đầu tư cho một số trung tâm KHCN chủ chốt, đặc biệt là các trung tâm công nghệ sinh học, tạo đột phá trong quy trình lai tạo giống, sản xuất, chế biến và bảo quản nhằm tăng năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh cho các mặt hàng nông sản Việt Nam

Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28 tháng 2 năm 2001 khuyển khích nghiên cứu và chuyển giao công

nghệ với vai trò là nhân tố quyết định đối với công nghiệp hóa hiện đại hóa ngành nông nghiệp Các nội dung chính bao gồm: Khuyến khích các doanh nghiệp chế biến nông sản ứng dụng công nghệ mới; chính sách ưu đãi khuyến khích sự quan tâm và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ mới/đổi mới nghiên cứu; tăng cường tập trung vào công nghệ sinh học và chiến lược

hỗ trợ phát triển các trung tâm công nghệ sinh học và phát triển kỹ năng

Nghị định 115/2005/ND-CP ngày 5 tháng 9 năm 2005 về trao quyền tự chủ, áp dụng cơ chế tự

quản lý cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Mục tiêu của nghị định bao gồm (i) tăng trách nhiệm và tính năng động, tự chủ, và sáng tạo của các tổ chức KHCN; (ii) tạo điều kiện kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh và đào tạo nguồn nhân lực; (iii) tập trung đầu tư cho các tổ chức KHCN; và (iv) cải thiện tính hiệu quả

Trang 37

hoạt động của các tổ chức KHCN, góp phần tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia Các nội dung chính bao gồm:

• Tái cơ cấu tất cả các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ và dịch vụ (i) các tổ chức khoa học công nghệ hạch toán độc lập tài chính hoặc (ii) các doanh nghiệp khoa học công nghệ, hoặc sẽ được hợp nhất hoặc giải thể

• Chỉ những tổ chức KHCN gắn với nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu chiến lược và chính sách sẽ được cấp kinh phí từ Ngân sách nhà nước cho các hoạt động thường xuyên

• Các tổ chức KHCN sẽ quyết đinh các nhiệm vụ phải hoàn thành, nguồn kinh phí (bao gồm vốn vay), đấu thầu các hợp đồng, phương pháp triển khai hoạt động, ký hợp đồng với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, hợp tác quốc tế, và tham gia vào các liên doanh Các tổ chức này cũng sẽ có quyền tự chủ nhiều hơn trong việc kiểm soát các vấn đề quyết định về nhân sự như tuyển dụng, khen thưởng và chấm dứt hợp đồng lao động với nhân viên

Quyết định 36 của Bộ NNP&TNT: Số 36/2006/QĐ-BNN ngày 15 tháng 5 năm 2006 của Bộ

NNP&TNT với quy định về Quản lý nghiên cứu khoa học và công nghệ và các dự án của Bộ NN&PTNT có thể là một văn bản quan trọng để thực hiện các chương trình nghiên cứu trong

ngành Khoa học công nghệ nông nghiệp

• Nghiên cứu được phân loại:

¾ Các nhiệm vụ cấp nhà nước (do Bộ KH&CN quản lý theo các chương trình hợp tác cấp quốc gia và quốc tế);

¾ Các nhiệm vụ cấp Bộ (các hoạt động chính của Bộ NN&PTNT); và

¾ Các nhiệm vụ cấp cơ sở (do các học viện hoặc tổ chức nghiên cứu đề xuất và đươc Bộ phê duyệt)

• Quyết định 36 không đưa ra quy định nào về hệ thống chuyển giao kết quả nghiên cứu sẽ được quản lý như thế nào nhưng có nêu rõ trong nội bộ Bộ NN&PTNT, Vụ KHCN có quyền quản lý quy trình nghiên cứu cho các đề tài cấp Bộ và cấp cơ sở

• Các quy định chỉ ra cơ cấu của hệ thống chuyển giao kết quả nghiên cứu đã cải cách trong

đó tách biệt chức năng quản lý và cung cấp dịch vụ nghiên và trình Thứ trưởng xem xét

• Đề xuất phần lớn kinh phí cho nghiên cứu của Bộ NN&PTNT sẽ được phân bổ thông qua chương trình tài trợ cạnh tranh gắn với các ưu tiên nghiên cứu cấp quốc gia cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

• Quyết định 930/2005/QĐ-TTg ngày 9 tháng 9 năm 2005 đưa ra hướng dẫn khung cho việc tái

cơ cấu các tổ chức nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ NN&PTNT” 6 viện nghiên cứu lớn, bao gồm (1) Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, (2) Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, (3) Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, (4) Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển

Trang 38

Nông nghiệp Nông thôn, (5) Viện Chăn nuôi và Thú y, và (6) Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, sẽ được thành lập

• Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007 hướng dẫn chi tiết các chính sách

hỗ trợ ưu đãi cho các doanh nghiệp khoa học công nghệ như miễn giảm thuế thu nhập, và các quy định chi tiết về thủ tục thành lập các doanh nghiệp khoa học công nghệ theo Luật Doanh nghiệp

• Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 1 năm 2006 về việc phê duyệt chương trình

trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 Quyết định cũng đưa ra tầm nhìn phát triển cho ngành công nghệ sinh học đến 2020 cũng như những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho mỗi giai đoạn, đây có thể xem như là các hướng dẫn và ưu tiên nghiên cứu cho ngành

• Nghị định 112/2003/NĐ-CP tháng 2 năm 2008 liên quan đến việc thành lập Quỹ Phát triển

Khoa học Côg nghệ Quốc gia

Có rất nhiều văn bản luật khác bao gồm thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 5 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Nghị định 115, Kế hoạch Phát triển Nông nghiệp giai đoạn 2006-2010, Kế hoạch tổng thể cho Nghiên cứu Nông nghiệp Việt Nam năm 2001, Nghị định 112/2003/NĐ-CP, vv

Khuyến nông

• Nghị định số 13/CP ngày 2 tháng 3 năm 1993, thiết lập hệ thống khuyến nông trên toàn

quốc Từ đó đến nay hệ thống này đã trải qua một số giai đoạn tái cơ cấu

• Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về các quy định cho nội dung, nguyên tắc, tổ chức, chính sách

về ngân sách cho khuyến nông khuyến ngư

• Nghị định số 86/NĐ-CP năm 2003, dẫn đến sự ra đời chính sách ‘xã hội hóa công tác

khuyến nông” Theo đó, Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập Bên cạnh đó, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia Quốc gia cũng được thành lập theo Nghị định số

43/2003/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ

• Thông tư 30/2006/TTLT-BTC-Bnn-BTS – hướng dẫn quản lý và sử dụng quỹ hoạt động

kinh tế cho khuyến nông và khuyến ngư

• Thông tư 50/2007/TTLT-BTC-BNN-BTS – sửa đổi Thông tư 30, hướng dẫn sử dụng quỹ

hoạt động kinh tế cho khuyến nông và khuyến ngư

• Thông tư 78/2007/TT-BNN – hướng dẫn triển khai khuyến nông, lâm, ngư nghiệp và hỗ trợ sản xuất giống và hàng hóa quy định tại Chương trình Ủng hộ người nghèo 2006-2010

• Quyết định 37/2008/QĐ-BNN về quy trình thủ tục quản lý các chương trình và dự án

khuyến nông quốc gia

Trang 39

• Quyết định 01/2008/NĐ-CP ngày 3 tháng 1 năm 2008 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Bộ NN&PTNT chính thức thành lập Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia trên cơ sở sáp nhập hai Trung tâm khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia trước đây

• Nghị định số 236/QĐ-BNN-TCCB ngày 29 tháng 1 năm 2008 thành lập Trung tâm Khuyến

nông và Khuyến ngư Quốc gia (NAFEC) thông qua việc sáp nhập Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia

3 MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG & CÁC VẤN ĐỀ THEN CHỐT

3.1 Phát triển và chuyển giao Khoa hoc và Công nghệ (các vấn đề chung)

¾ Đầu tư cho KHCN hiện nay chiếm gần 2% tổng ngân sách hàng năm Tổng vốn đầu tư cho KHCN vẫn còn rất thấp, đặc biệc từ các doanh nghiệp/khối tư nhân So với các quốc gia trong khu vực thì tỉ lệ này còn thấp hơn rất nhiều và mặc dù ngành KHCN đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm gần đây, hiệu quả đầu tư thấp và kém xa các nước trong khu vực

¾ Nghiên cứu KHCN chủ yếu là chức năng của Nhà nước, và nhận thức được rằng hiệu quả vốn đầu tư là rất thấp

¾ Bảm đảm có đủ nguồn nhân lực phù hợp trong lĩnh vực KHCN vẫn là một vấn đề Lĩnh vực này hiện còn thiếu các nhà khoa học, nghiên cứu hàng đầu và cán bộ khuyến nông có tay nghề, đặc biệt là ở cấp cơ sở

¾ Phương tiện và thiết bị nghiên cứu ở các viện nghiên cứu và trường đại học còn thiếu, lạc hậu và không đồng bộ Hệ thống dịch vụ KHCN, bao gồm các thông tin KHCN, dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ,

¾ Các quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp và tiêu chuẩn chất lượng đều chưa phát triển cả về

cơ sở hạ tầng và năng lực để đáp ứng nhu cầu của người dùng

¾ Có một khoảng cách lớn giữa tiềm năng và kết quả KHCN tại Việt Nam Tỷ lệ các cán bộ nghiên cứu và các nhà khoa học so với số dân thấp dẫn đến một sự đầu tư thấp trên bình quân đầu người và chỉ có vài nhà nghiên cứu và cán bộ khuyến nông có tay nghề đạt chuẩn quốc tế

¾ Cơ chế quản lý KHCN cứng nhắc và không phù hợp hạn chế các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các tổ chức phát triển và sáng tạo Thị trường công nghệ chưa phát triển một cách đầy đủ

¾ Năng lực cung cấp kết quả nghiên cứu và khuyến nông phù hợp với nhu cầu của người sử dụng và vì vậy tỷ lệ thu hút và lợi nhuận trong đầu tư nghiên cứu còn thấp

Trang 40

¾ Phát triển và chuyển giao công nghệ thúc đẩy sản xuất coi nhẹ chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng, an toàn thực phẩm và chưa giải quyết được các vấn đề đa dạng sinh học và môi trường

¾ Cơ chế giám sát đánh giá các hoạt động phát triển và nghiên cứu KHCN chưa chặt chẽ dẫn đến kết quả nghiên cứu thường không hiệu quả và không phù hợp Quyết định tài trợ không phải dựa trên các tiêu chí (ưu tiên); giám sát từ trên xuống mà không có sự đánh giá độc lập

¾ Chưa phát huy được quan hệ hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu và phát triển của nhà nước và khu vực tư nhân

¾ Đối với nhiều dịch vụ, khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ với chất lượng cao hơn và với chi phí thấp hơn so với nhà nước Tuy nhiên, khu vực tư nhân chỉ tham gia các dịch vụ mang lại lợi nhuận và trong phạm vi năng lực của họ

¾ Các quy định thúc đẩy các hệ thống quản lý nghiên cứu mở có thể kiểm tra được và theo định hướng nhu cầu dựa trên các ưu tiên nghiên cứu quốc gia với sản phẩm dựa theo hợp đồng và trách nhiệm giải trình về chất lượng của các tổ chức nghiên cứu sự nghiệp có thu, nhưng cho đến nay thực tiễn cũng không thay đổi đáng kể để đáp ứng những kết quả này

¾ Các viện nghiên cứu của Bộ NN&PTNT hiện nay là những đơn vị hưởng lợi chính khi họ được nhà nước hỗ trợ ngân sách với thu nhập đảm bảo mà không phải chú ý đến tác động những nghiên cứu của họ (ví dụ: việc cấp kinh phí cho nghiên cứu không dựa trên chất lượng sản phẩm)

¾ Thiếu sự cạnh tranh với khu vực tư nhân do chính sách ưu đãi của nhà nước có nghĩa rằng phần lớn kinh phí cho KHCN được phân bổ cho các viện nghiên cứu chính phủ hoặc doanh nghiệp nhà nước

¾ Nghiên cứu và công nghệ chưa quan tâm đến nhu cầu và do đó chưa phù hợp với nhu cầu của người sử dụng cuối cùng và là hệ quả là các đơn vị cung cấp KHCN vẫn chưa được khuyến khích và có động lực tạo ra sản phẩm KHCN mang tính thương mại

Ngày đăng: 22/06/2014, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng sau đây tóm tắt các tác động kinh tế của môi trường hoạt động hiện hành đối với các  nhóm xã hội khác nhau - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " 7 Lĩnh vực Cơ hội Nghiên cứu và Phát triển (EPRO) đối với KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH " pdf
Bảng sau đây tóm tắt các tác động kinh tế của môi trường hoạt động hiện hành đối với các nhóm xã hội khác nhau (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm