Quản lý sức khỏe cá nuôi Các yếu tố có tác động xấu đến sức khỏe cá: Thời tiết thay đổi như nhiệt độ giảm thấp, mưa nhiều,… sẽ làm thay đổi môi trường nước ao và có thể ảnh hưởng x
Trang 1QUY PHẠM THỰC HÀNH TỐT HƠN (BMP) CHO NUÔI CÁ TRA THƯƠNG PHẨM
Năm 2009
Trang 21 Trách nhiệm đối với cộng đồng
2 Bảo vệ môi trường
3 An toàn vệ sinh thực phẩm
4 Truy xuất nguồn gốc
Hình ảnh sử dụng trong tài liệu này là của Khoa Thủy sản,
Trang 3Hút bùn đáy khi ao bơm cạn nước (trên) và ao không bơm cạn nước (dưới)
- Bón vôi và phơi ao 1 tuần trước khi lấy nước
- Thả cá nuôi khoảng 2 tuần sau khi lấy nước
Ao không thể bơm cạn nước
- Hút bùn đáy chuyển
đến mương vườn cây
ăn trái hoặc ao chứa
Trang 4Bón vôi quanh bờ ao
1.3 Bón vôi cải tạo
Ao bơm cạn được nước thì bón vôi nung (CaO)
từ 10-15 kg/100 m2 cho cả ao và bờ
Ao không thể bơm cạn
được nước thì bón vôi
nung (CaO) trên bờ từ
Trang 5Ghe đục vận chuyển cá giống và
Không cho cá ăn 24 giờ trước khi vận chuyển
Thời gian vận chuyển tốt nhất là không quá 6 giờ
Nếu thời gian vận
chuyển hơn 6 giờ thì
cần hút cặn ở đáy
ghe và thay nước
Khối lượng cá vận
chuyển khoảng 5%
tải trọng ghe (hay khối lượng cá vận chuyển và
khối lượng nước chứa trong ghe là 1:5)
2.3 Xử lý và thả cá giống
Xử lý muối cho cá ngay khi thả vào ao, nhúng cá vào trong nước muối 50%o trong thời gian 0,5-1
phút (50 kg muối/m3 nước)
Trang 6Lấy nước vào ao nuôi qua
Mùa vụ nuôi cá quanh năm
Không thả quá 60 con/m2 hay 15 con/m3 nước
Trao đổi thông tin về lịch thay nước (cấp và thải) giữa các trại nuôi với
nhau qua phương pháp
truyền thông đơn giản
(như tin nhắn)
Các trại cố gắng có
ao/mương lắng nước
trước khi thải ra ngoài
3.2 Yêu cầu về thay nước
Nước cấp vào ao nên được lọc qua túi lưới
Trang 7Sổ ghi chép số liệu
Tháng nuôi thứ nhất thay nước 2 tuần/lần, các tháng nuôi tiếp theo thay hàng ngày tùy vào mùa khô hay mùa mưa như sau:
- Mùa khô thì nước thải nên đưa vào vườn cây
ăn trái hoặc ao chứa trước khi thải ra sông/kinh rạch
- Mùa mưa thì nước thải có thể xả trực tiếp ra sông/kinh rạch
Khi trong vùng nuôi có dịch bệnh thì hạn chế hoặc ngừng thay nước
4 Quản lý ao nuôi
4.1 Quản lý bùn đáy
Từ tháng nuôi thứ 3 thì bắt đầu hút bùn đáy ao
Bùn cần được chuyển đến vườn cây ăn trái hoặc
ao chứa riêng
Có thể hút bùn 2-3 lần trong thời gian nuôi tùy vào mức độ tích lũy ở đáy ao
4.2 Quản lý chất lượng nước và ghi chép số liệu
Kiểm tra pH và lượng khí ammonia hằng tuần
Trang 8Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp thương mại (trên) và máy làm thức
ăn viên tại gia đình (dưới)
liên quan đến vụ nuôi vào sổ nhật ký
tiếp, mưa hắt và gió
- Kiểm tra mùi trước
khi cho cá ăn và loại
Trang 9Cá bị bệnh gan thận mủ
- Khi cá đạt 50-80 g/con thì cho cá ăn tối đa 5%
và giảm dần khẩu phần ăn theo kích thước tăng lên của cá, cho ăn khoảng 2-3% khối lượng cá/ngày vào những tháng cuối
- Quản lý thức ăn khi cá có triệu chứng “vàng
toàn thân” Khi cá có dấu hiệu vàng toàn thân
thì giảm lượng thức và kết hợp kiểm tra cá trong ao, mổ cá quan sát và gởi mẫu xét nghiệm Ngoài ra, kiểm tra lại thức ăn xem có quá hạn hay bị ôi thối, nếu có thì thay thức ăn mới còn hạn
5 Quản lý sức khỏe cá nuôi
Các yếu tố có tác động xấu đến sức khỏe cá:
Thời tiết thay đổi như nhiệt độ giảm thấp, mưa nhiều,… sẽ làm thay đổi môi trường nước ao và
có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cá
Các dấu hiệu bất thường ở cá nuôi: cá ăn ít, bơi
lơi bất thường,
Các dấu hiệu bệnh ở cá nuôi:
- Bệnh gan thận mủ (BNP): biểu hiện bên
ngoài là cá bơi lờ đờ, cá từ đáy phóng và xoay vong vòng, giảm ăn
Trang 10Cá bị bệnh trắng gan, mang (hình trên)
- Bệnh trắng gan,
trắng mang: biểu
hiện bên ngoài là
mang và gan có màu
trắng nhạt Xử lý
bệnh bằng cách giảm
cho ăn kết hợp xử lý
nước
- Bệnh xuất huyết: biểu hiện bên ngoài là hậu
môn đỏ, mỏ đỏ, mắt lồi, các kỳ/vây đỏ Bên trong thì gan đỏ bầm, xuất huyết các mạch máu ở đường ruột, thành bụng bên trong bị xuất huyết Xử lý bằng cách cải thiện môi trường và dùng kháng sinh phù hợp
- Theo dõi chất lượng nước thường xuyên
- Khi thời tiết thay đổi (nhiệt độ giảm, mưa nhiều) nên xử lý môi trường ao bằng muối và vôi
Quản lý khi cá bệnh/chết
- Thường xuyên quan sát các dấu hiệu bất thường và cách bơi lội của cá
Trang 11Thu họach cá (trên) và ghe đục vận chuyển cá
(dưới)
- Ghi chép cẩn thận các dấu hiệu bệnh lý, kích
cỡ cá bị nhiễm bệnh và tiến triển của bệnh
- Chôn cá chết với vôi ở vị trí nhất định trong trại
- Không nên bán cá bệnh chết để làm thức ăn cho các loài cá nuôi khác
- Gửi mẫu cá có dấu hiệu bệnh hay sắp chết đến phòng thí nghiệm gần nhất để phân tích/chẩn đoán bệnh
- Không nên sử dụng thuốc hay hoá chất trị bệnh khi chưa biết nguyên nhân gây bệnh Chỉ
xử lý khi có kết quả chẩn đoán bệnh
- Thông báo cho các hộ nuôi lân cận khi thải nước từ ao cá bị nhiễm bệnh ra ngoài
6 Thu hoạch
Ngưng cho cá ăn 2-3
ngày trước khi thu họach
Trang 12 Nên cá thu hoạch khi cá đạt kích cỡ trung bình
900 g/con và thời gian nuôi khoảng 6 tháng
Tổng thời gian thu hoạch không nên quá 7 ngày, tốt nhất nên thu hoạch cá trong vòng 4 ngày
Vân chuyển cá đến nhà máy chế biến bắng ghe đục, khối lượng cá vận chuyển không nên vượt 5% tải trọng của ghe
Trang 13NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN BMP
1 Trách nhiệm đối với cộng đồng
Quyền sở hữu tài sản và tuân thủ các qui định:
các trại nuôi phải có quyền hợp pháp về sử dụng đất, nguồn nước, xây dựng, hoạt động và xử lý chất thải ao nuôi
Quan hệ với cộng đồng: tạo mối quan hệ tốt đẹp
với cộng đồng có liên quan,; không được xâm phạm khu vực chung, đất công, ngư trường khai thác và nguồn lợi truyền thống của cộng đồng địa phương
An toàn lao động cho công nhân và mối quan hệ với người lao động: các trại nuôi cá phải tuân
theo luật lao động để đảm bảo an toàn và điều kiện làm việc của người lao động
2 Bảo vệ môi trường
Bảo tồn vùng đất ngập nước và bảo vệ sự đa
dạng sinh học: các trại nuôi cá không nên đặt ở
vùng đất ngập nước nhạy cảm Hoạt động của trại không được gây hại vùng đất ngập nước hoặc làm giảm đa dạng sinh học của hệ sinh thái
Quản lý chất thải: trại nuôi nên theo dõi và tìm
được cách xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường nước công cộng
Trang 14 Sự bảo tồn việc sử dụng bột cá và dầu cá: trại nên
theo dõi thành phần thức ăn và hạn chế nhiều nhất sử dụng bột cá và dầu cá làm từ nguồn cá khai thác
Bảo tồn đất và nước: trại phải được thiết kế và
hoạt động sao cho không làm mặn hóa đất và nước và làm suy giảm vùng nước xung quanh khu vực trang trại Trang trại nên quản lý chặt chẽ việc thải chất thải từ các ao nuôi
Kiểm soát việc thất thoát cá nuôi và sử dụng sinh
vật biến đổi gen: trại phải hạn chế nhiều nhất việc
thất thoát cá nuôi ra môi trường và tuân theo những qui định của Nhà nước trong việc sử dụng những loài bản địa, ngoại lai và giống loài biến đổi gen
Trữ và xả bỏ chất thải trong trại: xăng dầu, nhớt,
hóa chất nông nghiệp phải được trữ và xả bỏ theo cách an toàn và có trách nhiệm
Chăm sóc cá nuôi: tất cả các hoạt động liên quan
đến nuôi cá phải được thiết kế và vận hành có trách nhiệm cao Người lao động phải được huấn luyện để có thể chăm sóc cá nuôi phù hợp
Trang 15 Khi sử dụng bất kỳ loại hoá chất nào cũng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ những cán bộ
kỹ thuật
Nên tìm hiểu rõ các hướng dẫn về các tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn và chất lượng sản phẩm thủy sản
Thuốc và hóa chất: không sử dụng kháng sinh,
thuốc và các hóa chất cấm Những thuốc và hóa chất khác phải sử dụng theo hướng dẫn ghi trên nhãn sản phẩm để trị bệnh hoặc quản lý, không được dùng kháng sinh để phòng bệnh
Sát khuẩn trại nuôi: tránh để chất thải của người
và vật nuôi trong trại làm nhiễm bẩn nước ao Các chất thải sinh hoạt trong trại nên được xử lý
và không làm nhiễm bẩn khu vực xung quanh
Thu hoạch và vận chuyển: cá nên được thu hoạch
và vận chuyển đến các nhà máy chế biến hoặc các chợ trong điều kiện ổn định nhiệt độ và giảm thiểu việc gây sốc, xay xước và nhiễm bẩn
4 Truy xuất nguồn gốc
Yêu cầu về việc ghi chép thông tin: để phục vụ
cho truy xuất nguồn gốc, các thông tin sau đây nên được ghi chép cho mỗi khu nuôi và mỗi công đoạn sản xuất:
- Mã số khu sản xuất
- Diện tích và thể tích nước ao
- Ngày thả giống
Trang 16- Số lượng và kích cỡ cá giống thả
- Nguồn cá giống (nơi sản xuất)
- Kháng sinh và hóa chất đã sử dụng
- Thuốc diệt cỏ, diệt tảo và thuốc trừ sâu
- Nhà máy sản xuất thức ăn và mã số lô hàng thức ăn sử dụng
- Ngày thu hoạch
- Sản lượng thu hoạch
- Nhà máy chế biến/người mua sản phẩm
Trang 17
Tài liệu được biên soạn dựa theo kết quả nghiên cứu của dự
án “XÂY DỰNG DỰNG QUI PHẠM THỰC HÀNH QUẢN LÝ
NUÔI TỐT HƠN (BMP) CHO NGHỀ NUÔI CÁ TRA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỨU LONG”
Dự án do Chương trình CARD, Cơ quan phát triển quốc tế Úc (AusAID) tài trợ được các cơ quan phối hợp thực hiện là:
- Vụ Công nghiệp Cơ sở (DPI), Bang Victoria, Úc
- Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Châu
Á - Thái Bình Dương (NACA)
- Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 (RIA-2)
- Trường Đại học Cần Thơ (CTU)
Trang 18This article appeared in a journal published by Elsevier The attached copy is furnished to the author for internal non-commercial research and education use, including for instruction at the authors institution
and sharing with colleagues.
Other uses, including reproduction and distribution, or selling or licensing copies, or posting to personal, institutional or third party
websites are prohibited.
In most cases authors are permitted to post their version of the article (e.g in Word or Tex form) to their personal website or institutional repository Authors requiring further information regarding Elsevier’s archiving and manuscript policies are
encouraged to visit:
http://www.elsevier.com/copyright
Trang 19Author's personal copy
Current status of farming practices of striped cat fish, Pangasianodon hypophthalmus
in the Mekong Delta, Vietnam
Lam T Phana, Tam M Buib, Thuy T.T Nguyenc, Geoff J Gooleyd, Brett A Ingramd, Hao V Nguyena, Phuong T Nguyenb, Sena S De Silvac,⁎
a
Research Institute for Aquaculture No 2, 116 Nguyen Dinh Chieu Street, District 1, Ho Chi Minh City, Vietnam
b
College of Aquaculture and Fisheries, Can Tho University, Can Tho, Vietnam
c Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific (NACA), PO Box 1040, Kasetsart Post Office, Bangkok 10903, Thailand
100 countries as frozenfillets, as an acceptable alternative to white fish Catfish is farmed mostly in earthenponds, up to 4 m deep, in nine provinces in the Mekong Delta in South Vietnam The results of the grow-outsystem of catfish farming in the Mekong Delta from a survey of 89 farms are presented The farm size rangedfrom 0.2 to 30 ha with a mean of 4.09 ha The frequency distribution of the yield in tonne/ha/crop andtonne/ML/crop corresponded to a normal distribution curve, where 75% of the farms yielded 300 tonnes/ha/crop or more It was found that the yield per crop was significantly correlated (p < 0.05) to stockingdensity, pond depth and volume but not to pond surface area Yields per crop was significantly different(p < 0.05) between upper and lower provinces of the Mekong Delta and water source (river versuschannels), amongst others It was evident that diseases and/or symptoms were observed to occur mostly inaccordance with the onset of rains In this paper the history of the catfish farming in the Mekong Delta isbriefly traced, and current harvesting and marketing procedures as well as pertinent social elements of thefarming community are dealt with
Crown Copyright © 2009 Published by Elsevier B.V All rights reserved
1 Introduction
The Mekong River (known in Vietnamese as the Cuu Long River),
with a mean discharge volume of 15,000 m3/s (the 10th highest in the
world), traverses 4,880 km through six countries, and divides into
seven major branches when it enters the Delta, approximately 170 km
from the South China Sea (van Zalinge et al., 2004) The Mekong Delta
(3.92 million ha), with a catchment of 49,367 km2and a population of
17.42 million (in 2004), is popularly referred to as the food basket of
Vietnam; for example, it accounted for nearly half of the national food
volume (in 2000 totalling 17.5 million tonnes), 55% of the national
fishery and fruit production and 61% of the national food export value
(Sub-Institute of Water Resources Planning, 2003)
The culture of striped catfish, Pangasianodon hypophthalmus
(Sau-vage), also known as“ca tra” in Vietnamese, or the striped catfish and
sutchi catfish, in the Mekong Delta, Vietnam, can be considered as a
unique aquatic farming system in many ways Production is the fastest
growth recorded in any aquaculture sector, ever, based on a single species,superseding the production per unit for any form of primary production(Phuong and Oanh, 2009) Furthermore, over 90% of the farmed catfish isprocessed and exported to more than 100 countries globally (Nguyen,2007; Wilkinson, 2008; Globefish, 2009; Phuong and Oanh, 2009).The striped catfish from Vietnam has essentially become anaffordable‘white fish’ substitute to the Western world, and conceiv-ably its acceptability and popularity is growing (Intrafish, 2003;Globefish, 2009) The term‘white fish’ is commonly used to designatefish with white flesh, common in Western countries, represented byspecies such as cod, Gadus morhua However, in the early growthphases of the sector it had to overcome trade embargoes and relatedrestrictions that were imposed by some importing countries (Intra-fish, 2003) Currently, such restrictions on the export of striped catfishfrom Vietnam do not exist in most importing countries, apart fromconformity to food safety and food quality standards, but many issues
on its quality and the nature of farming system have been raised(Holland, 2007; Neubacher, 2007) However, most of these negativepublicities have been mostly unfounded thus far (Mohan et al., 2008;Orban et al., 2008; Rehbein, 2008)
Aquaculture 296 (2009) 227–236
⁎ Corresponding author Fax: +66 2 561 1727.
E-mail address: sena.desilva@enaca.org (S.S De Silva).
0044-8486/$ – see front matter Crown Copyright © 2009 Published by Elsevier B.V All rights reserved.
doi: 10.1016/j.aquaculture.2009.08.017
Contents lists available atScienceDirect
Aquaculture
j o u r n a l h o m e p a g e : w w w e l s ev i e r c o m / l o c a t e / a q u a - o n l i n e
Trang 20Author's personal copy
The catfish farming sector in its present form is a relatively new
development in the Mekong Delta It is thought to have become possible
when the artificial propagation of the catfish species, Pangasius bocourti
Sauvage (basa catfish) (Cacot, 1999; Cacot et al., 2002) developed and
was adopted for P hypophthalmus This development enabled the
traditional small scale aquaculture practices that were dependent on
wild caught seed stocks to shift to more intensified systems and depend
entirely on hatchery-produced seed (Trong et al., 2002) Also, over the
last decade the farming of striped catfish took precedence, and pond
farming became the dominant form because of its relatively faster
growth rate, flesh quality and appearance, therefore marketability
overseas (Phuong and Oanh, 2009; Sub-Institute for Fisheries
Econom-ics and Planning in Southern Vietnam, 2009)
The present paper attempts to describe the grow-out operations of
this aquaculture sector that is of immense socio-economic importance
to Vietnam, and globally as a provider of a much sought after culturedfoodfish commodity The work presented is associated with a re-search conducted to develop “Better Management Practices” forstriped catfish farming in the Mekong Delta, that is considered as a key
to attaining sustainability and food safety and marketability of thecommodity, as had been demonstrated previously for example small-scale shrimp farming in India (Umesh, 2007; Umesh et al., 2009)
2 Materials and methodsCatfish farming in the Delta occurs along two main branches, TienGiang (upper) and Hau Giang (lower) and the associated channels ofthe Mekong River (Fig 1) The catfish farming area falls within thejurisdiction of nine provincial administrations of which An Giang, CanTho, Dong Thap and Vinh Long are the most important (Sub-Institute
228 L.T Phan et al / Aquaculture 296 (2009) 227–236