1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam - MS8 " pot

7 387 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam
Tác giả PGS.TS. Trần Khắc Thi, Robert Spooner-Hart, Oleg Nicetic, Tony Haigh, Peter Hanson
Trường học Đại học Tây Sydney
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 260,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đối tác Tên dự án Ứng dụng nông nghiệp tốt GAP để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam Đối tác phía Việt Nam Viện Nghiên cứu Rau

Trang 1

Ministry of Agriculture & Rural Development

MS8: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ 5

025/06 VIE

Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam

Tháng 3 năm 2009

Trang 2

Mục lục

1 Thông tin về các cơ quan tham gia dự án 3

5 Tiến độ thực hiện 5

5.3 Tăng cường năng lực 6

6 Báo cáo các vấn đề khác có liên quan 7

6.2 Giới và xã hội 7

7.1 Vấn đề và khó khăn 7

9 Kết luận 8

Phụ lục 10

Trang 3

1 Các đối tác

Tên dự án

Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam

Đối tác phía Việt Nam Viện Nghiên cứu Rau quả - Trâu Quỳ - Gia Lâm

Chủ trì dự án phía Việt Nam PGS.TS Trần Khắc Thi

Tổ chức phía Australia Trung tâm khoa học cây trồng và Thực phẩm – Đại học

Tây Sydney Chủ trì dự án phía Australian Robert Spooner-Hart

Oleg Nicetic Tony Haigh Peter Hanson (AVRDC)

Thời gian bắt đầu Tháng 3 năm 2007

Thời gian kết thúc (ban đầu) Tháng 2 năm 2010

Báo cáo giai đoạn Tháng 9 năm 2007

Các quan chức liên quan

Phía Australia: trưởng nhóm

Tên: Robert Spooner-Hart Điện thoại 0245 701429

Chức vụ PGS Trưởng bộ môn Hệ thống

sản xuất

Fax: 0245 701103

Cơ quan Trung tâm khoa học cây trồng

và Thực phẩm – Đại học Tây Sydney

Email:

r.spooner-hart@uws.edu.au

Trang 4

2 Tóm tắt dự án

Mục đích của dự án là tăng cường năng lực cho 3 cơ quan nghiên cứu của Việt Nam là Viện Nghiên cứu Rau quả, Trường Đại học Nông lâm Huế và Trung tâm Khoa tây, Rau và Hoa Đà Lạt về đánh giá và sử dụng các giống rau lai kháng bệnh như là một phần của quy trình GAP trong sản xuất rau Các giống cà chua lai kháng tốt bệnh do geminivirus từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau châu Á cũng như các giống rau họ bầu bí kháng bệnh sương mai và phấn trắng do Viện Nghiên cứu rau quả chọn tạo và đánh giá ở miền Bắc sẽ được đánh giá tính thích ứng ở miền Bắc, duyên hải miền Trung và cao nguyên Trung bộ trong 2 mùa vụ Các giống tốt sẽ được

sử dụng trong các thử nghiệm trình diễn tại 5 điểm của mỗi vùng, kết hợp với các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPDM sử dụng dầu khoáng và ghi chép lưu giữ số liệu Nông dân sẽ tham gia đánh giá thử nghiệm trình diễn, với sự hỗ trợ của các hoạt động tập huấn FFS do PPD tiến hành Dự án này còn có sự tham gia của các công ty thương mại chính, những công ty này cũng sẽ tham gia vào xây dựng quy trình GAP cho sản xuất hạt giống và cây giống rau Tập huấn bao gồm cả chuyến thăm quan học tập của cán bộ Việt Nam tại Úc và các hội thảo Nguồn gen tốt được tuyển chọn sẽ được chuyển giao cho các công ty giống để sản xuất và phân phối cho nông dân Dự

án sẽ giảm bớt việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau, tăng mức độ an toàn sản phẩm rau cũng như thu nhập cho người dân Dự án cũng sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm được một lượng ngoại tệ cho việc nhập khẩu hạt giống rau từ nước ngoài

3 Tóm tắt hoạt động

Cho đến nay dự án đã thực hiện được hầu hết các nội dung của mình Đã tổ chức

thành công hội thảo về thực hành nông nghiệp tốt(GAP) táng 12 năm 2008 tại Hà Nội Việc khảo nghiệm giống cà chua và dưa chuột được triển khai năm 2007 tại 3 điểm đã xác định: Đồng bằng sông Hồng(FAVRI), Duyên hải miền Trung (HUAF) và Cao nguyên Lâm Đồng (PVFC), tuy nhiên mưa lớn đã phá hỏng các thí nghiệm so sánh giống tại Huế và Lâm Đồng.Báo cáo này còn thiếu các số liệu trên cho đén khi được

bổ sung mới Đợt thí nghiệm thứ 2 đã tiến hành ngay ở vụ kế tiếp cũng tại 3 điểm trên đồng thời bổ sung thêm thí nghiệm so sánh dưa chuột tại Củ Chi (TP HCM) do IAS thực hiện Vụ thứ 2 cho kết quả tốt, trừ ở Lâm Đồng do mưa lớn và bệnh gây hại nặng Một số giống cà chua chống bệnh của AVRDC và dưa chuột mới của FAVRI cho kết quả tốt tại một số điểm trình diễn.Báo cáo chuyên đề về các kết quả khảo nghiệm giống sẽ được đính kèm trong tài liệu này Lớp đào tạo tiểu giáo viên(TOT) đầu tiên tại Đồng bằng sông Hồng và miền Trung thực hiện tháng 4/2008 và kết quả rất tốt được ghi nhận ở Lâm Đồng tháng 6/ 2008 Cũng cần bổ sung thêm kết quả khả quan về các hội thảo kỹ thuật sản xuất tại Đồng bằng sông Hồng và Lâm Đồng cũng như đợt tham quan, học tập của các cán bộ Việt Nam tại Australia tháng 9-10/2008

4 Nguồn gốc dự án và các vấn đề liên quan

Trong thập kỷ qua, sản xuất rau của Việt Nam có mức tăng trưởng khá cao khoảng 30% với diện tích canh tác năm 2005 là 614.500 ha Năng suất trung bình năm 2004 là 14,8 tấn/ha với tổng sản lượng vượt 9 triệu tấn Với khối lượng này, sản lượng cao hơn làm tăng mức tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam cũng như xuất khẩu một số loại rau chủ lực Sản phảm rau đóng góp 60% tổng kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả và cây cảnh trung bình trong 5 năm (2000-2004) là 224,4 triệu USD

Trang 5

và mục tiêu đến 2010 sẽ đạt 690 triệu USD Cà chua, dưa chuột và cây họ bầu bí khác

là những sản phẩm rau xuất khẩu ổn định nhất Cà chua có thể được trồng 9 tháng trong năm và mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với trồng lúa (30 triệu đồng/ha với trồng cà chua và 15 triệu đồng cho trồng lúa), qua đó đưa sản xuất cà chua thành sự lựa chọn phổ biến nhất của nông dân Mặc dù sản xuất rau của Việt Nam có những thành công lớn và liên tục trong những năm qua, nhưng sản xuất rau vẫn còn đang phải đổi mặt với nhiều vấn đề, đặc biệt là sản xuất hạt giống, cây giống và rau an toàn

có chất lượng Mỗi năm ở Việt Nam sử dụng hết khoảng 8000 tấn hạt giống rau Hơn một nửa trong số này được nhập khẩu, 41% do người dân tự sản xuất và chỉ có 7% là do các công ty giống trong nước cung cấp Hạt giống do người dân tự sản xuất nói chung có chất lượng kém, do vậy cho năng suất thấp, còn hạt giống nhập khẩu làm tổn thất cho nền kinh tế của Việt Nam hàng triệu đô la Cây giống sản xuất trong vườn ươm hoặc do người dân tự sản xuất sử dụng công nghệ rất đơn giản với chi phí lao động cao, điều này càng làm cho năng suất và hiệu quả sản xuất thấp hơn Với nhu cầu sản xuất rau tăng nhanh, thì những lo ngại về sự an toàn của sản phẩm rau cũng ngày càng tăng, đặc biệt là việc sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật (10 -12 lần/ vụ trồng) và phân bón cho một diện tích trồng rau nhỏ, đặc biệt là ở vùng ngoại ô, nơi đang có gắng để thúc đẩy sản xuất tăng sản lượng rau Việc thiếu các giống kháng sâu bệnh đã làm cho vấn đề này càng đáng lo ngại Những nghiên cứu gần đây cho thấy ở Hà Nội 9% các mẫu rau vượt quá ngưỡng cho phép về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật 5-10 lần và 7% mẫu rau phân tích có dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật cấm

sử dụng Và kết quả là hàng năm có hàng ngàn vụ ngộ độc thực phẩm do ăn phải rau

có dư luợng thuốc bảo vệ thực vật cao (MALICA, 2003) Bên cạnh đó, việc sử dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật cũng là nguyên nhân làm gia tăng sâu bệnh hại vì nó làm hủy diệt nguồn thiên địch tự nhiên và phát triển những loài có khả năng kháng thuốc

Quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP), cùng với kết quả của một số dự án quốc tế mà đặc biệt là dự án CARD 004/04VIE “ Nghiên cứu xây dựng mô hinh sản xuất rau an toàn dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm tra chất lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành sản xuất rau của Việt Nam", dự án ACIAR CS2/1998/078 “ Phòng trừ bọ phấn – một loài côn trùng – một vecto truyền bệnh Virus ở châu Á (pha 2) và pha III của dự án phòng trừ tổng hợp bọ phấn vùng nhiệt đới được điều phối bở trung tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT) tại Columbia, cung cấp những cơ sở vững chắc để sản xuất hạt giống, cây giống sẽ tăng cường năng lực sản xuất rau an toàn chất lượng cao Mục đích của dự án là sẽ sử dụng những kết quả của dự án trước

để phát triển những mô hình sản xuất hạt giống và cây giống cà chua, dưa chuột, có sử dụng những giống cà chua kháng tốt với bệnh xoăn vàng lá do Virus mà nguồn gen được cung cấp từ trung tâm Rau Thế giới (AVRDC) và giống dưa chuột kháng bệnh sương mai, phấn trắng được cung cấp từ Viện Nghiên cứu rau quả (FAVRI) Dự án

Trang 6

Tập huấn

Vụ FFS thứ 2 được tiến hành trong giai đoạn này Theo kế hoạch có 18 lớp FFS được tổ chức Các lớp FFS đã hoàn thành gồm: Thái Bình (1 cà chua, 1 dưa

chuột,xong) Hải Phòng (1 cà chua, 1 dưa chuột, xong ), Hà Nam (1 dưa chuôt, 1 cà chua, xong), Hà Nội (1 cà chua, 1 dưa chuột, xong ) Vĩnh Phúc (1 cà chua, 1 dưa chuột, xong) Hưng Yên (1 cà chua, 1 dưa chuột, xong tháng 1/2010) Quảng Nam (2

cà chua, xong) Lâm Đồng (2 cà chua, xong) và Đà Nẵng (2 cà chua xong tháng

1/2010) FAVRI sản xuất và cung cấp cây con cà chua gép và hạt dưa chuột cho tất cả

các điểm FFS tại Đồng bằng sông Hồng Trang trại cây con Phong Thúy ở Lâm Đồng cung cấp cây giống cà chua gép cho miền Trung và Tây Nguyên Hạt giống cho nông dân xây dựng mô hình do FAVRI cung ứng

Sản xuất hạt lai

Hạt F1 các giống lai cà chua WVCT2 và WVCT8 được sản xuất tại FAVRI trên

cơ sở các dòng bố mẹ do TS Perter Hanson, công tác viên của dự án làm việc tại Trung tâm rau thế giới (AVRDC) tại Đài Loan cung cấp

Dự án CARD 025 đã hỗ trợ FAVRI sản xuất hạt lai giống dưa chuột CV 25 được trồng tại đồng bằng sông Hồng ( tuy vậy, giống này không phù hợp trồng ở các tỉnh phía Nam)

Hoạt động của tổ dự án

Trong giai đoạn này, Oleg Nicetic đã 2 lần đến làm việc tại FAVRI vào tháng 6

và tháng 9 Tại đây ông đã thảo luận với nhóm nghiên cứu về việc hoàn chỉnh sổ tay hướng dẫn GAP và các hoạt động FFS

5.2 Lợi ích của người sản xuất

Những nông dân tham gia hợp phần FFS rất hào hứng tiếp nhận và sử dụng cây

con cà chua gép Tuy nhiên , đôi lúc họ vẫn cho rằng giá giống cao Họ thảo luận với

dự án giúp họ tự sản xuất lấy cây giống gép Tuy nhiên việc này đòi hỏi kỹ thuật cao

và cần các thiết bị chuyên dụng như nhà che tối, ống nối cao su cũng như hạt gốc gép (hạt cà tím chống bệnh héo xanh vi khuẩn)

5.3 Tăng cường năng lực

Trong giai đoạn thực hiện báo cáo này các cán bộ chuyên môn của FAVRI đã tập huấn cho các giáo viên các chi cục BVTV trong khuôn khổ các nội dung của dự

án CARD-25 Tháng 7/2009 có 12 cán bộ của 6 tỉnh Đồng bằng sông Hồng đã đén FAVRI học về kỹ thuật gép cà chua

5.4 Tuyên truyền, quảng bá

Một phần kết quả hoạt động của dự án đã được trình bày trong hội thảo khuyến nông “ Sản xuất rau an toàn tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng” tổ chức tại Hải Phòng ngày 30 tháng 9/2009

5.5 Quản lý dự án

Một trong số cán bộ chủ chốt của dự án phía Việt Nam Ths Phạm Mỹ Linh đã

hoàn thành luận án tiến sỹ của mình, một phần trong đó đã sử dụng số liệu của dự án này Hiện bản luận án đang chờ bảo vệ trước Hội đồng cấp Nhà nước

Trong khi các báo cáo nộp bị muộn, các hoạt động của dự án vẫn được hoàn thành đúng tiến độ Tuy nhiên, có vấn đề cần phải đề cập đó là sự thay đổi về thời tiết khí hậu nên các lớp FFS của các tỉnh như Đà Nẵng, Hưng Yên đã phải hoãn lại đến

Trang 7

tháng 12 năm 2009 hoặc tháng 1 năm 2010 Điều đó sẽ làm cho dự án không hoàn thành được trước tháng 3 hay tháng 4 năm 2010

6 Báo cáo các vấn đề phát sinh

6.1 Môi trường

Không có vấn đề gì phát sinh cho đến thời điểm báo cáo Một số lớp huấn luyện nông dân FFS ở một số tỉnh bị hoãn lại do vấn đề thời tiết khí hậu đã được trình bày ở phần quản lý dự án mục 5.6

6.2 Vấn đề về giới và xã hội

Không có gì thay đổi trong giai đoạn này

7 Tiến hành và các vấn đề giải quyết

7.1 Vấn đề và khó khăn

Chúng tôi sẽ nộp báo cáo này sớm hơn nếu không bị chậm các lớp huấn luyện nông dân ở Đà Nẵng và Hưng Yên Tuy nhiên, tất cả các lớp FFS đã được hoàn thành vào cuối năm 2009 do vậy mà sự chậm trễ của các lớp FFS không ảnh hưởng đáng kể đến

dự án Báo cáo tổng kết dự án sẽ không phải đợi tất cả các lớp FFS hoàn thành

7.2 Lựa chọn

7.3 Vấn đề cần giải quyết

Cho đến nay chưa có vấn đề gì

8 Những nội dung kế tiếp

Tổ chức các hội nghị đầu bờ bao gồm các nông dân không tham gia trong lớp FFS Kết quả hoạt động của dự án và của các lớp FFS sẽ được thảo luận trong thời gian tới Hội nghị đầu bờ sẽ được tiến hành trước khi kết thúc lớp FFS 2 tuần, kết quả hội nghị này sẽ được báo cáo trong kết quả thực hiện mô hình, nông dân có thể thăm, và tận mắt thấy được kết quả Hoạt động này sẽ được tiến hành tất cả vào cuối năm 2009 khi hầu hết các lớp FFS được hoàn thành

Ngày đăng: 22/06/2014, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w