Xây dựng và phổ biến sổ tay hướng dẫn biện pháp nuôi tốt BMP cho cá tra và các tài liệu khuyến ngư liên quan nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một số bài báo đã được công bố
Trang 1Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Báo cáo tổng kết dự án
Xây dựng biện pháp nuôi tốt cho cá tra ở
đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam
CARD 001/07/VIE
Báo cáo tổng kết Ngày 30 tháng 8 năm 2010
Trang 2Mục lục
1 Thông tin chung 1
2 Tóm tắt dự án 2
3 Tóm tắt quá trình làm việc 2
4 Bối cảnh và những thông tin chung 3
5 Tiến độ thực hiện 4
5.1 Kết quả nổi bật 4
5.2 Lợi ích đối với nông hộ nhỏ 10
5.3 Xây dựng năng lực 11
5.4 Thông tin tuyên truyền 12
5.5 Quản lý dự án 14
6 Những vấn đề khác có liên quan 15
6.1 Môi trường 15
6.2 Vấn đề xã hội và giới tính 15
7 Vấn đề triển khai và tính bền vững 15
7.1 Hạn chế 15
7.2 Sự lựa chọn 16
7.3 Tính bền vững 16
8 Các hoạt động quan trọng tiếp theo 16
9 Kết luận 16
10 Chứng thực 20
Trang 31 Thông tin chung
tra ở đồng bằng sông Cửu Long (BMP), Việt Nam
Cơ quan phối hợp triển khai dự án phía
Việt Nam
Viện nghiên cứu NTTS 2
Trưởng nhóm dự án phía Việt Nam TS Nguyễn Văn Hảo
Cơ quan đại diện phía Ôx-trây-lia Vụ Công nghiệp cơ sở Vic-to-ria,
Victoria (DPI)
Nhân sự đại diện phía Ôx-trây-lia Ông Geoff Gooley
Địa chỉ liên hệ:
Tại Ôx-trây-lia: Trưởng nhóm
Địa chỉ: Tổ nghiên cứu thủy sản,
Phòng nghề cá, Vụ Công nghiệp cơ sở Vic-to-ria
Email: pam.shrimpton@dpi.vic.gov.au
Tại Việt Nam
Họ và tên: TS Nguyễn Văn Hảo Điện
thoại: +84 8 822 6496
Địa chỉ: Viện nghiên cứu NTTS 2 Email: haoria2@hcm.vnn.vn
Trang 42 Tóm tắt dự án
3 Tóm tắt
Báo cáo này sẽ trình bày các thành tựu, hoạt động mà dự án đã đạt được sau ba năm thực hiện từ tháng 1/2008 đến tháng 11/2010 theo dự kiến Báo cáo này cũng liên quan đến công tác cuối cùng (công tác số #8) (đầu ra 2.2: Báo cáo tổng kết và đánh giá dự án)
Trong giai đoạn này, các mục tiêu mà dự án đề ra đã được giải quyết và báo cáo đầy
đủ trong ba báo cáo tiến độ định kỳ 6 tháng (#1, 2 và 3) và một báo cáo hàng năm (#4) cụ thể như sau:
1 Hoàn thành việc điều tra kinh tế xã hội, điều tra chuỗi thị trường, và phân tích rủi ro của thực tế nghề nuôi cá tra cũng như công bố cơ sở dữ liệu mới có giá trị phục vụ cho các mục đích kiểm tra trong tương lai
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #1, 2, 3;
- Xem phụ lục B – Báo cáo đánh giá rủi ro
2 Xây dựng và phổ biến sổ tay hướng dẫn biện pháp nuôi tốt (BMP) cho cá tra và các tài liệu khuyến ngư liên quan nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một số bài báo đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế và trang web chuyên dụng của dự án trên website của NACA
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #3, 4;
- Xem phụ lục C – Hướng dẫn biện pháp nuôi tốt (BMP) và các tài liệu khuyến ngư
Dự án đã đạt được mục tiêu đề ra sau khi hoàn thành các hoạt động dự án chính sau đây:
• Hoàn thành việc điều tra kinh tế xã hội, điều tra chuỗi thị trường, và phân tích rủi ro để xác định những điểm yếu của nghề nuôi cá Tra cũng như công
bố cơ sở dữ liệu mới có giá trị phục vụ cho các mục đích kiểm tra trong tương lai
• Xây dựng và phổ biến sổ tay hướng dẫn biện pháp nuôi tốt (BMP) cho cá tra
và các tài liệu khuyến ngư kết hợp về nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một số bài báo đã được công bố và trang web chuyên dụng của dự án trên website của NACA
• Tổ chức thành công hai hội thảo cấp tỉnh và hội thảo quốc gia về BMP cho các bên liên quan
• Thực hiện thành công các mô hình thử nghiệm thí điểm và đào tạo các nông
hộ về trình diễn BMP Hoàn thành việc đánh giá và lập kế hoạch đánh giá
để khuyến khích sự áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng
• Nâng cao năng lực cho người nuôi cá Tra và các cán bộ tham gia thực hiện
dự án phía Việt Nam thông qua các chuyến thăm quan học tập Ấn Độ, Thái Lan và Ôx-trây-lia
• Công bố 3 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế
Trang 53 Tổ chức hai hội thảo cấp tỉnh và hội thảo quốc gia về BMP cho các bên liên quan
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #4;
- Xem phụ lục D – Dự thảo chương trình hội thảo cấp quốc gia về BMP;
4 Thực hiện các mô hình thử nghiệm thí điểm và đào tạo các nông hộ trình diễn BMP Hoàn thành việc đánh giá công tác thử nghiệm BMP và lập kế hoạch khuyến khích sự áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #4;
- Xem phụ lục E – Báo cáo đánh giá và kế hoạch (triển khai) đánh giá
5 Nâng cao năng lực cho người nuôi cá tra và các cán bộ tham gia thực hiện dự
án phía Việt Nam thông qua các chuyến thăm quan học tập Ấn Độ, Thái Lan
và Ôx-trây-lia
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #3
6 Công bố 3 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ (báo cáo hàng năm) #4;
- Xem phụ lục F – Các bài báo đã công bố dựa trên kết quả điều tra cơ sở số liệu
4 Bối cảnh và những thông tin chung
Mục tiêu của dự án là:
• Xây dựng chương trình BMP cho vùng nuôi cá tra khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong một số lĩnh vực như công tác thực hành nuôi, quản lý sức khoẻ cá, lựa chọn địa điểm, quản lý môi trường, quản lý đàn cá bố mẹ, chất lượng con giống, thức ăn, cách cho ăn
• Nâng cao năng lực cho các hộ nuôi quy mô nhỏ thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi để các hộ nuôi ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long dần thay đổi tập quán canh tác và chấp nhận áp dụng BMP
Kết quả chính của dự án:
• Đánh giá hiện trạng của nghề nuôi cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm
cả hiện trạng quản lý đàn cá bố mẹ tại trại giống và tập quán ương giống và nuôi cá tra thương phẩm (trong ao hầm và lồng bè)
• Xây dựng và triển khai BMP cho vùng nuôi cá tra khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như tuyên truyền, phổ biến đến tất cả các bên liên quan
• Đào tạo kỹ năng cho đội ngũ cán bộ làm công tác này tại Việt Nam, Ôx-trây-lia, Thái Lan trong việc ứng dụng và triển khai BMP ở vùng nuôi cá tra khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Trang 65 Tiến độ thực hiện
5.1 Kết quả nổi bật
Báo cáo này sẽ trình bày các hoạt động dự án đã triển khai trong ba năm qua, từ tháng 1/2008 đến tháng 11/2010, bao gồm cả những hoạt động thuộc mục tiêu số 8 (đầu ra 2.2) Trong giai đoạn báo cáo này, các mục tiêu của dự án được thực hiện và báo cáo đầy đủ trong ba báo cáo tiến độ 6 tháng (#1, 2, 3) và báo cáo hàng năm (#4) cụ thể như sau:
1 Hoàn thành việc điều tra kinh tế xã hội, điều tra chuỗi thị trường, và phân tích rủi ro nghề nuôi cá tra cũng như công bố cơ sở dữ liệu mới có giá trị phục vụ cho các mục đích kiểm tra trong tương lai
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #1, 2, 3
- Xem phụ lục 2 – Báo cáo đánh giá rủi ro
Điều tra khảo sát cơ sở dữ liệu trong năm 2008-2009 là một thành tựu lớn, có ý nghĩa đối với dự án vì đây là lần đầu tiên một khảo sát khoa học có quy mô lớn bao gồm công tác quản lý kỹ thuật và môi trường, và hiện trạng kinh tế xã hội của nghề nuôi cá tra tại đồng bằng sông Cửu Long Hệ thống cơ sở dữ liệu mới
và có giá trị này sẽ giúp ích cho các mục đích kiểm tra trong tương lai cũng như kết hợp với việc đánh giá rủi ro và công tác khảo sát thực địa sẽ cung cấp
cơ sở khoa học cho việc xây dựng dự thảo BMP Kết quả chính của cơ sở dữ liệu này đã được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế Báo cáo đánh giá rủi ro nghề nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long đã được hoàn thiện trong năm thứ 2 của dự án, dựa trên ý kiến của đội ngũ chuyên gia của dự án kết hợp với cơ sở dữ liệu điều tra (xem phần trước) Báo cáo đánh giá được này được hoàn thiện dựa trên một phần kinh nghiệm tập thể của nhóm chuyên gia và các chuyến đi thực địa, tiếp xúc với các thành phần khác nhau của nghề nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng như kết quả điều tra đề cập trên đây Bản đánh giá rủi ro này dự kiến được dùng làm mẫu cho các đánh giá rủi ro định kỳ khác trong tương lai nhằm hoàn thiện BMP Như vậy công tác đánh giá rủi ro được xem như là một hợp phần không thể tách rời của kế hoạch đánh giá (và triển khai) BMP
2 Xây dựng và phổ biến sổ tay hướng dẫn biện pháp nuôi tốt (BMP) cho cá tra và các tài liệu khuyến ngư liên quan đến nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một số bài báo đã được công bố và trang web chuyên dụng của dự án trên website của NACA
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #3, 4
- Xem phụ lục 3 – Hướng dẫn BMP (dự thảo 2)
Sau công tác khảo sát nghề nuôi cá tra và đánh giá rủi ro, bản dự thảo BMP đầu tiên được trình bày tại hội thảo cấp tỉnh về BMP cho các bên liên quan tại Đồng Tháp và Cần Thơ năm 2009 Sau khi lấy ý kiến tại hai hội thảo, bản dự thảo BMP trên đã được sửa đổi thành bản BMP số 2, được công bố cho các bên liên quan nhằm phục vụ cho mục đích triển khai các mô hình thử nghiệm thí
Trang 7điểm bao gồm cả tập huấn tại bốn tỉnh đồng bằng sông Cửu Long vào nửa đầu năm 2010 Dựa trên kết quả điều tra đánh giá các mô hình thử nghiệm thí điểm BMP, bản phác thảo BMP đã được sửa đổi cho phù hợp hơn và sẽ được công
bố tại hội thảo quốc gia về BMP Bản dự thảo 3 sẽ lấy ý kiến đóng góp từ những nong hộ thử nghiệm và hội nghị quốc gia, và sẽ được công bố trên trang web của NACA Chúng tôi nhấn mạnh rằng, bản BMP số 3 mặc dù được gọi là bản “cuối cùng”, vẫn sẽ được xem là bản “dự thảo” bởi vì BMP sẽ phải được liên tục đánh giá và hoàn thiện theo sự thay đổi về mặt kỹ thuật cũng như nghiên cứu phát triển cũng như sáng kiến phát sinh trong nghề trong tương lai
3 Tổ chức thành công hai hội thảo cấp tỉnh và hội thảo quốc gia về BMP cho các bên liên quan
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #4
- Xem phụ lục 4 – Dự thảo chương trình hội thảo BMP cấp quốc gia
Tổ chức thành công 2 hội thảo cấp vùng về BMP cá tra cho các bên liên quan tại tỉnh Đồng Tháp (5-6 tháng 10/2009) và tỉnh Cần Thơ (8-9 tháng 10/2009) với sự tham gia của các hội nông dân nuôi cá tra, nhà máy chế biến, và đại diện của các cấp chính quyền địa phương và trung ương (xem chương trình đính kèm) Tại hội thảo, nhóm thực hiện dự án đã trình bày bản dự thảo BMP số 1 bao gồm hướng dẫn thực hành BMP tại trại giống cá tra (quản lý và chăm sóc đàn cá bố mẹ); hướng dẫn thực hành BMP trong ương và nuôi thương phẩm cá tra (quản lý sức khỏe, dinh dưỡng và môi trường) Sau khi thu thập ý kiến phản hồi từ các đại biểu về dự thảo 1, nhóm thực hiện dự án đã chỉnh sửa và hoàn thiện dự thảo 2, phục vụ cho việc lập kế hoạch và xây dựng các mô hình trình diễn BMP thử nghiệm trong năm 2010 Những thảo luận của hội thảo đã được đăng tải trên tạp chí Uỷ ban sông Mê kông “Đánh bắt và nuôi trồng” (số 15,
mã số 3 ISSN0859-290X, tháng 12, 2008) theo đường dẫn sau:
http://www.mrcmekong.org/download/programmes/fisheries/Catch_Culture_vol15.3.pdf
Tổ chức hội thảo quốc gia về BMP dự kiến vào 23-24/11/2010 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Việt Nam; với sự tham gia của tất cả chủ hộ làm
mô hình thí điểm, đại diện của các nhà máy chế biến ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Bộ Nông nghiệp và PTNT, các hội nông ngư dân và cán bộ lãnh đạo địa phương; lên kế hoạch dự kiến về các bài trình bày liên quan đến các hoạt động và kết quả thực hiện dự án của nhóm dự án (NACA, DPI, đối tác Việt Nam), về dự thảo BMP cuối cùng, về chiến lược triển khai BMP và đánh giá dự án cuối cùng Ngoài ra, hội thảo còn bao gồm các bài trình bày của
những dự án có liên quan khác như dự án CARD số 023/06VIE về “Xử lý và
tái sử dụng nước thải và chất thải rắn từ hầm nuôi cá ở đồng bằng sông Cửu
biệt để lên kế hoạch áp dụng và triển khai BMP, xây dựng mạng lưới và tổ chức người nuôi nhằm phục vụ cho việc phát triển nghề nuôi cá tra bền vững Giấy mời và công tác tổ chức do các đối tác phía Việt Nam thực hiện với sự hỗ trợ hậu cần của NACA và DPI
Trang 84 Thực hiện thành công các mô hình thử nghiệm thí điểm và đào tạo các nông
hộ về trình diễn BMP Hoàn thành việc đánh giá và lập kế hoạch đánh giá
để khuyến khích việc áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #4
- Xem phụ lục 5 – Báo cáo đánh giá và kế hoạch đánh giá (và triển khai) Tổng số 11 mô hình trình diễn thử nghiệm được triển khai tại 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gồm: 7 mô hình nuôi thương phẩm (ở Cần Thơ: 3 mô hình, ở
An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp: mỗi tỉnh 1 mô hình), 3 mô hình ương (ở Đồng Tháp: 1 mô hình, ở Cần Thơ: 1 mô hình), 1 trại sản xuất giống ở An Giang Tài liệu khuyến ngư về BMP và những ưu điểm của phương pháp tiếp cận theo nhóm trong việc quản lý ao hầm nuôi đã được nhóm thực hiện dự án chuẩn bị và phân phát (xem phụ lục) Những mô hình trình diễn thử nghiệm này được thực hiện trong suốt một chu kỳ nuôi khép kín từ tháng 2 đến tháng 8/2010 nhằm mục đích trình diễn và đánh giá chất lượng và mức độ phù hợp của bản dự thảo BMP, phục vụ cho hội thảo quốc gia dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm 2010 Các mô hình thử nghiệm này thực hiện tại trại giống, ương
và nuôi thương phẩm ở quy mô sản xuất lớn và nhỏ, quy mô công nghiệp
Dự án đã tổ chức đánh giá hiệu quả các mô hình thử nghiệm thí điểm BMP vào tháng 6,7/2010 nhằm xác định các yếu tố về kinh tế xã hội và môi trường chính ảnh hưởng đến nghề nuôi cá tra và BMP tác động đến việc giải quyết những yếu tố trên như thế nào Khảo sát đánh giá cũng cung cấp thông tin để khuyến khích người nuôi áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng Thông tin này được sử dụng như một đầu vào chính để chuẩn bị cho kế hoạch đánh giá BMP
và như là một khung hoạt động để khuyến khích thay đổi phương thức nuôi cá tra thông qua việc áp dụng và triển khai BMP
Kết quả đánh giá này sẽ được sử dụng để xem xét và chỉnh sửa lại bản dự thảo BMP trước khi trình bày tại hội thảo quốc gia về BMP dự kiến tổ chức tại An Giang vào tháng 11/2010, cũng như đề xuất xây dựng chiến lược triển khai BMP và đánh giá toàn diện dự án CARD (sau khi hội thảo quốc gia kết thúc)
Dự án CARD đã xây dựng kế hoạch đánh giá kết hợp với truyền thông BMP
và kế hoạch quản lý rủi ro và kiểm tra sự áp dụng BMP Kế hoạch này sẽ được cân nhắc và hoàn thiện tại hội thảo quốc gia về BMP dự kiến tổ chức vào tháng 11/2010, sau đó triển khai vào giai đoạn cuối của dự án CARD
Để chuẩn bị cho việc lên kế hoạch đánh giá và triển khai kế hoạch truyền thông
BMP với tiêu đề “Hệ thống BMP” - dự án CARD đã xây dựng khung nhận
thức được thiết kế như sau:
- Truyền thông về BMP (truyền thông cái gì, tại sao phải truyền thông, truyền thông ở đâu và như thế nào v.v)
- Áp dụng và triển khai BMP (tài liệu khuyến ngư, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật, v v) và
- Kiểm tra và đánh giá (sự tuân thủ các nguyên tắc, thực hành và tác động, v.v)
Trang 9Hơn thế nữa, khung nhận thức này cũng cung cấp những hướng dẫn cơ bản
về quá trình thành lập nhóm và hội/hiệp hội cũng như các mô hình kinh doanh phù hợp với các “nhóm/hội nghề nghiệp bị thương mại hoá” với phương pháp tiếp cận theo chuỗi thị trường được đề cập trước đây
Khung nhận thức này được xây dựng dựa trên kế hoạch đánh giá kết hợp với Thuyết hành động (xem phụ lục) của dự án CARD
5 Nâng cao năng lực cho người nuôi cá tra và các cán bộ tham gia thực hiện
dự án phía Việt Nam thông qua các chuyến thăm quan học tập Ấn Độ, Thái Lan và Ôx-trây-lia
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #3
- Xem phụ lục 6 – Báo cáo chuyến thăm quan học tập Ấn Độ của nông dân nuôi cá
Dự án tổ chức thành công chuyến thăm quan học tập tại Andhra Pradesh (AP),
Ấn Độ cho các đối tác dự án ở Thái Lan và Việt Nam và đại diện nông dân nuôi cá tra tiêu biểu khu vực đồng bằng sông Cửu Long (những người được lựa chọn do vai trò xuất sắc của họ trong công tác khuyến ngư và xây dựng mô hình trình diễn BMP) Kết quả nổi bật của chuyến thăm quan học tập này được tóm tắt như sau:
• Mục đích của chuyến thăm quan học tập này là giới thiệu bà con nông dân nuôi
cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long với nông dân nuôi tôm ở AP và các hiệp hội/hội nghề nghiệp của họ (bao gồm cả Câu lạc bộ NTTS), để nắm được cách thức điều hành và hoạt động của các câu lạc bộ, hiệu quả của việc áp dụng BMP cho nghề nuôi tôm Chuyến thăm này ưu tiên tập trung thảo luận về phương thức quản lý các Hiệp hội, Hội nghề nghiệp ở AP – một hiệp hội được xem là một ví dụ tiêu biểu trên thế giới thúc đẩy việc áp dụng BMPs một cách hiệu quả, cũng như khả năng tiếp cận những thị trường chính và mới
• Tham gia chuyến thăm quan học tập gồm 8 nông dân đại diện cho những người nuôi cá tra Việt Nam ở 4 tỉnh có nghề nuôi cá tra tập trung (trong đó chỉ có một người đã từng đi nước ngoài), cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện/tỉnh, và đại diện nhóm thực hiện dự án (NACA, Đại học Cần Thơ, Viện 2)
• Thăm Hội Nghề cá Chinavasala – làng Chinavasala có 5 Hội nghề cá với 84 hội viên là nông dân tham gia Mỗi hội viên có diện tích nuôi tôm là 1 ha Làng này bắt đầu nghề nuôi tôm từ giữa những năm 80, đến đầu thập niên 90, khoảng 70-80% trang trại bị tấn công bởi virus gây bệnh đốm trắng và từ bỏ nghề nuôi Năm nay, với sự hỗ trợ của MPEDA (5.000 đô la Mỹ cho 5 Hội nghề cá để mua bộ thử nhanh chất lượng nước và những trang thiết bị cần thiết khác) và cơ sở kinh doanh đáng tin cậy (đầu tư giống theo yêu cầu), 5 Hội nghề cá đã được thành lập và nghề nuôi tôm đã được phục hồi Năm nay, chỉ
có 3 trong số 84 hộ nuôi bị bệnh tôm
Trang 10• Thăm Hội nghề cá Venketawara – 1 nhóm liên kết chặt chẽ với sự tham gia của
25 hộ nuôi Điểm nổi bật của chuyến thăm này là sự chứng minh/minh hoạ thực tế của hộ nuôi về những phương pháp đảm bảo an toàn sinh học, lưới giăng bên trên ao để ngăn chim xâm nhập, tránh lây lan bệnh từ ao này sang ao khác - cho tất cả hội viên của Hội nghề cá Sự lựa chọn của hộ dân đó dựa trên tình hình nuôi chung của cả tập thể, và điều này đã chứng minh cách làm của NaCSA để có thể nhân rộng và tuyên truyền những phương pháp/biện pháp mới nhằm cải thiện hệ thống canh tác hơn nữa thông qua Hội nghề cá
• Thăm trại giống hợp đồng bán tôm cho các hiệp hội nuôi tôm: trại giống đặc biệt này đã được chứng nhận và là “trại giống uy tín” được NaCSA lựa chọn để cung cấp giống theo nhu cầu và yêu cầu của người nuôi trong khu vực Trại sản xuất giống này áp dụng biện pháp nuôi lưu giữ tách biệt đàn bố mẹ - những đàn có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và ghi chép tổng hợp thông tin liên quan đến đàn bố mẹ, các thế hệ tiếp theo và tiến hành kiểm tra PCR
• Tham quan văn phòng của NaCSA – nhân dịp này CEO, Sri NR Umesh đã có bài trình bày cung cấp những thông tin hữu hiệu và được nhiều người hoan nghênh, tiếp theo đó là phần thảo luận và giải đáp thắc mắc Ngoài các chuyến tham quan thực địa, các nông dân Việt Nam còn nắm bắt được các hoạt động, kinh nghiệm trong sản xuất thực tế và vai trò của NaCSA và Hội Nông dân Bài trình bày cũng đề cập chi tiết đến cách thức phát triển thị trường sau khi áp dụng BMPs và kết quả là đem lại các sản phẩm sạch hơn và xanh hơn
• Chuyến tham quan tại Lakshmi (huyện Krishna), Hội nghệ cá Narasima - chuyến tham quan này có mục đích là tham gia lễ khởi công phục hồi lại các trại nuôi tôm ở một làng đã bị bỏ hoang 5-7 năm do tôm bị bệnh quá nhiều, người dân ở đây không còn bất cứ hoạt động sinh kế nào và thu nhập cho cộng đồng Chuyến tham quan có sự tham gia của hơn 500 nông dân Huyện đặc biệt này là cái nôi của các hoạt động nuôi tôm trong quá khứ nhưng tất cả trại với diện tích nuôi ước tính khoảng 29.000 ha trong tình trạng xuống cấp, đang được vận động phục hồi việc nuôi tôm
• Hội nuôi tôm Nellore cũng tại huyện này, chúng tôi đã có dịp chứng kiến hình thức nuôi thâm canh hơn trước kia đạt năng suất trung bình trên 2 tấn/ha nhưng vẫn áp dụng BMP và tiếp tục cải thiện
6 Công bố 3 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ (báo cáo hàng năm)#4
- Xem phụ lục 7 – Bài báo công bố về kết quả khảo sát cơ sở dữ liệu nghề nuôi cá tra
Công bố 3 bài đánh giá khoa học (phụ lục) liên quan đến các kết quả mà dự án CARD thực hiện về BMP cho cá tra (bao gồm phân tích và báo cáo số liệu điều
Trang 11tra; xem chi tiết trong báo cáo tiến độ 6 tháng kỳ trước #3) Đây là những công
bố khoa học đầu tiên cung cấp khối lượng lớn cơ sở dữ liệu toàn diện, định lượng về nghề nuôi cá và phân tích chi tiết từ khía cạnh trại giống đến ương và nuôi thương phẩm Ngân sách bổ sung của CARD sau khi được chấp nhận thông qua vào tháng 6 năm 2010 đã hỗ trợ cho sự công bố 3 bài này Những trích dẫn chi tiết 3 bài này được thể hiện ở phần 5.4
Những kết quả ban đầu sau chuyến khảo sát kinh tế xã hội được trình bày tại hội nghị chuyên đề quốc tế về “Nuôi cá da trơn ở châu Á” tổ chức tại Đại học Cần Thơ (CTU), thành phố Cần Thơ Các đối tác của dự án phía Việt nam đã công bố hai bài báo trên tạp chí chuyên ngành quốc tế là:
o Nuôi cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở đồng bằng sông Cửu Long
Phan Lam T., Bui Tam M., Nguyen Thuy T.T., Gooley Geoff J., Ingram Brett A., Nguyen Hao V., Nguyen Phuong T De Silva Sena S., 2009 Hiện
trạng nuôi cá tra Pangasianodon hypophthalmus tại khu vực đồng bằng
sông Cửu Long, Việt Nam Tạp chí Aquaculture, 296: 227-236
o Sản xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở đồng bằng
sông Cửu Long, Việt Nam Bui, Tam M., Phan, Lam T., Ingram, B.A., Nguyen, Thuy T.T., Gooley, G J., Nguyen, Hao V., Nguyen Phuong V., De Silva, ,S S., 2010 Phương thức sản xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở khu vực sông
Cửu Long, Việt Nam Tạp chí Aquaculture, 306, 92-100
o Giáo sư Sena S De Silva (NACA) được mời trình bày bài phát biểu mang tính chủ đạo có tựa đề “Nuôi cá tra: những thách thức cho sự phát triển và bền vững: quan điểm của cơ quan liên chính phủ” Các điểm chính của bài phát biểu này được công bố trong bài báo dưới đây
De Silva, S.S., Ingram, B.A., Phuong T Nguyen, Bui Tam T., Gooley, G.J., Turchini, G.M., 2010 Ước tính lượng Nitơ và Photpho từ các hầm
nuôi cá Tra thải ra sông Cửu Long Ambio (đang in) có thể mua trực
tuyến: DOI 10.1007/s13280-010-0072-x
Tất cả các công bố về dự án bao gồm chi tiết các hoạt động chính và ấn phẩm của dự
án cũng như vai trò của BMP đối với nghề nuôi trồng thuỷ sản đang phát triển ở khu vực châu Á Thái Bình Dương thường xuyên được đăng tải trên trang web chuyên dụng của dự án trên website của NACA
Hoàn thành việc sắp xếp, bố trí cho đoàn Việt Nam bao gồm tất cả thành viên dự án
và cán bộ nghiên cứu cao cấp của Viện NTTS II, Đại học Cần Thơ – những người thuộc nhóm dự án phía Việt Nam tham gia Hội nghị NTTS toàn cầu 2010 tổ chức ở Phuket, Thái Lan vào tháng 9 năm 2010 Ban tổ chức nhất trí cho đoàn cán bộ Việt Nam treo áp phích của dự án CARD về áp dụng BMP cho cá tra cũng như công bố chính thức trong cuốn trích lược các bài báo, nghiên cứu liên quan đến dự án tại hội nghị
Trang 125.2 Lợi ích đối với nông hộ nhỏ
Lợi ích của các nông hộ quy mô nhỏ xác định trong giai đoạn báo cáo này liên quan tới việc xây dựng và công bố bản dự thảo BMP tại 2 hội thảo tổ chức tại Đồng Tháp
và Cần Thơ trong tháng 10/2009 cũng như thực hiện thành công 11 mô hình thử nghiệm thí điểm tại 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Cấu trúc tổ chức nghề nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long khá phức tạp và thay đổi liên tục do những áp lực mới của thị trường Những nông hộ quy mô nhỏ - nhân tố cần thiết cho sự phát triển của nghề nuôi cá tra - đang bị đe doạ bởi những thách thức này Những mối quan hệ quan trọng để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của họ như là quan
hệ với các nhà sản xuất và nhà chế biến quy mô lớn trong chuỗi thị trường cá tra thì chưa được thiết lập một cách có hệ thống Nhóm thực hiện dự án mô tả cấu trúc tổ chức của nghề nuôi cá tra hiện nay ở Việt nam và được tóm tắt trong bản phụ lục 3 Hai hội thảo cấp tỉnh đã cố gắng khuyến khích sự tham của các hộ nuôi, đặc biệt là các hộ nuôi gia đình quy mô nhỏ và lớn và các hiệp hội/hợp tác xã nuôi Tóm lại, lợi ích mà các nông hộ quy mô nhỏ được hưởng từ dự án này là sự thay đổi cách thức canh tác được dự án tuyên truyền Những thay đổi này bao gồm:
• Nâng cao năng lực và lợi nhuận: Những nông hộ quy mô nhỏ đã áp dụng BMP tra được nâng cao năng lực và lợi nhuận thu được tăng do họ tuân thủ theo BMP và một vài điều chỉnh khác trong chế độ cho ăn, làm giảm chi phí như vậy làm tăng lợi nhuận Một vài hộ dân có hầm nuôi gần nhau đã thoả thuận cùng nhau góp một phần đất cho mục đích giữ nước xả, bùn đáy ao trong suốt
vụ nuôi thay vì bơm thẳng ra sông Cửu Long mà không qua xử lý Một số hộ dân tiếp cận thông tin mới về giá cả thị trường dễ dàng hơn nhằm giúp họ đưa
ra quyết định thời điểm thu hoạch cũng như giá bán phù hợp nhất, làm giảm chi phí sản xuất thông qua các kết quả hoặc thông tin thu được từ các hội thảo của dự án hay các khoá tập huấn đầy sáng tạo do dự án tổ chức (như chuyến thăm Ấn Độ)
• Yếu tố cộng đồng, vị thế xã hội và mục tiêu cuộc sống: Một số hoạt dộng của
dự án đã giúp các nông hộ quy mô nhỏ tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng như là nâng cao nhận thức quản lý môi trường qua việc thải nước, bùn, cá chết, v.v Vai trò của các nhóm/hội nông dân trong việc tạo ra mạng lưới người nuôi không chỉ dừng lại ở phạm vi nuôi cá mà còn làm cho nhận thức cộng đồng của các hộ nuôi quy mô nhỏ được nâng cao Những hộ tham gia làm mô hình thử nghiệm và điều tra khảo sát cho đến nay đã bộc lộ sự tự tin hơn khi ra quyết định đầu tư cho nghề nuôi cá tra cũng như linh hoạt hơn, mạnh dạn hơn khi đối mặt với những thách thức thường kỳ trong sản xuất và thị trường.v.v
• Dự án đã khuyến khích và động viên các nông hộ quy mô nhỏ áp dụng những phương thức canh tác tiên tiến như lịch cho ăn hỗn hợp giúp làm giảm chi phí thức ăn và giảm lượng dinh dưỡng bị dư thừa (điểm nổi bật được nêu trong tài liệu dự thảo BMP, trang 36) Những điểm mới trong phương thức canh tác này
đã được các nhóm hộ nuôi áp dụng Kết quả là, ông Nguyễn Ngọc Hải -một nông dân tiên tiến, trưởng Hợp tác xã nuôi cá tra xã Thới An (quản lý 36 thành viên trên diện tích mặt nước 30 ha với 60 ao) đã được mời phát biểu tại hội
Trang 13thảo các nhà tư vấn cấp vùng về “Quản lý thức ăn trong nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ” tại Manila, Phillippine từ 14-17 tháng 9 do FAO tài trợ
• Đối với một người nuôi quy mô nhỏ, việc được mời tham gia ở một hội thảo các nhà tư vấn cấp vùng do FAO tổ chức là cơ hội hiếm hoi và cũng có thể đây
là lần đầu tiên xảy ra Sự đánh giá cao của FAO và một thông điệp mạnh mẽ được gửi đến các bên liên quan trong nghề nuôi cá tra là thành quả nổi bật mà
dự án đã đạt được trong thời gian qua
• Chuỗi giá trị mới - nông hộ quy mô nhỏ hăng hái áp dụng và triển khai BMP với sự hỗ trợ của hội nông dân là một bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của mối liên kết chuỗi thị trường mong manh có khả năng phát triển thành các mối quan hệ thương mại lớn mạnh hơn Những mối quan hệ “chuỗi xuyên suốt” này làm tăng mối tương tác cả chiều ngang và chiều dọc giữa các nhà sản xuất quy mô khác nhau với các nhà máy chế biến Hơn nữa, mối quan hệ “chuỗi xuyên suốt” này có thể là nền tảng để thúc đẩy sự thay đổi phương thức canh tác thông qua áp dụng BMP (bằng cách rỉ tai nhau, thấy mới tin.v.v.), cũng như chia sẻ tin tức thị trường công bằng hơn, làm hài hoà cán cân cung-cầu và cuối cùng là cung cấp cho các bên liên quan trong chuỗi (bao gồm cả nông hộ quy
mô nhỏ) sự chia sẻ hợp tình hợp lý hơn giá trị tổng từ ao đến bàn ăn
5.3 Xây dựng năng lực
Kết quả xây dựng năng lực cho những người hưởng lợi từ dự án trong giai đoạn 2009-2010 được thể hiện ở các mức độ khác nhau, như:
• Xây dựng năng lực cho nông hộ quy mô nhỏ: như đã đề cập ở mục 5.2;
• Xây dựng năng lực cho những thành phần tham gia trong chuỗi thị trường cá tra khác như các hội nông dân, nhà sản xuất quy mô công nghiệp, nhà chế biến: hội thảo cấp tỉnh về BMP trong tháng 10/2009 và các mô hình thử nghiệm thí điểm BMP gần đây đã liên quan đến tất cả các thành phần: nhà sản xuất và nhà chế biến quy mô công nghiệp, quy mô lớn, trong đó tỉ lệ các nhà máy chế biến kiêm nhà sản xuất quy mô lớn chiếm một mức có ý nghĩa Thị trường chủ yếu của cá tra là xuất khẩu, đặc biệt là EU, nay đưa ra yêu cầu về các tiêu chuẩn chứng nhận được công nhận như Global GAP để đáp ứng các tiêu chuẩn nhập khẩu thực phẩm nghiêm ngặt Các nhà sản xuất và chế biến lớn có đủ lực để đáp ứng những yêu cầu này nhưng những nhà sản xuất quy mô vừa và nhỏ khó
có thể đạt được những tiêu chuẩn chứng nhận này Chính vì thế, dự án hy vọng việc các nông hộ quy mô vừa và nhỏ áp dụng BMP trong nuôi cá tra là cách “ít tốn kém nhưng vẫn thu được lợi nhuận” và giúp họ đạt được những tiêu chuẩn cần thiết do nhà chế biến và nhập khẩu yêu cầu Vai trò của hội nông dân, nhà sản xuất và nhà chế biến quy mô công nghiệp là then chốt trong quá trình này thông qua việc hình thành các mối quan hệ chuỗi giá trị mới Điều này có thể giúp những hộ nuôi quy mô vừa và nhỏ đạt được mối lợi về kinh tế như là một đơn vị kinh doanh đơn lẻ, làm theo đúng các tiêu chuẩn cần thiết, có khả năng đàm phán trực tiếp với nhà chế biến và/hoặc nhà nhập khẩu
• Xây dựng năng lực cho các quan chức chính phủ như nhà hoạch định chính sách và cán bộ khuyến ngư cấp tỉnh: một số nhà hoạch định chính sách và cán
Trang 14bộ khuyến ngư cấp tỉnh đã tham gia vào các hoạt động của dự án CARD một cách có hiệu quả như tham gia vào tất cả hội thảo, cuộc họp, đi thực địa, bao gồm cả hội thảo cấp quốc gia về BMP vào tháng 11/2010 sắp tới Những người tham gia này hiểu rõ những chi tiết cụ thể của BMP cũng như vai trò mà họ đang gánh vác trong việc thúc đẩy chiến lược triển khai BMP trực tiếp xuống dân và với hội nông dân
o Các nhà nghiên cứu, bao gồm thành viên nhóm dự án CARD ở Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu NTTS 2 đã hoàn thành xuất sắc một số đầu
ra về khoa học quan trọng làm nền tảng để viết nên 3 bài đánh giá khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành quốc tế trong 12 tháng qua Đồng tác giả của những bài này là toàn bộ thành viên dự án nhưng người đóng góp nhiều nhất là các cán bộ nghiên cứu của Viện nghiên cứu NTTS 2, Đại học Cần Thơ Đây là những bài công bố đầu tiên của các tác giả này
và cũng là lần đầu tiên các số liệu và phân tích số liệu được đưa ra Ngoài ra, nhóm cán bộ này cũng đóng góp cho Hội nghị NTTS toàn cầu
2010 bằng cách trình bày các áp phích và tham gia vào các nhóm làm việc theo chủ đề Những kinh nghiệm mới và kiến thức mà họ thu thập được từ hội nghị này sẽ được chia sẻ cho các thành viên khác của dự án
ở Viên 2, Đại học Cần Thơ Chuyến thăm Ôx-trây-lia của tiến sỹ Hảo và tiến sỹ Phương đã cho họ những kinh nghiệm thực tế/mắt thấy tai nghe
về xây dựng và áp dụng BMP tại Ôx-trây-lia Vì vậy một kế hoạch chiến lược để phát triển ngành công nghiệp nuôi cá tra và áp dụng, triển khai BMP ở Việt Nam bao gồm cả phân tích nhu cầu đào tạo dựa trên
kỹ năng và R&D cũng như các ưu tiên được xác định
• Hội thảo tư vấn khu vực về “Quản lý thức ăn trong nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ” mà ông Nguyễn Ngọc Hải sắp tham dự là sự công nhận xứng đáng đối với thành quả và sáng tạo mà dự án đã đạt được, và sẽ là cơ hội để sự hiểu biết
về nghề nuôi cá tra ở Việt nam được nhân rộng ra tra trên toàn thế giới, là cơ hội để xây dựng năng lực của người nuôi có thể trao đổi trực tiếp với “chuyên gia”
5.4 Thông tin tuyên truyền
Một trang web chuyên dụng cho dự án đã được xây dựng trên trang web của NACA phục vụ mục đích thông tin liên lạc rộng rãi gồm những phần như mô tả dự án tóm tắt
và phổ biến những kết quả của dự án và BMPs (xem phụ lục phụ lục C) Có thể truy
http://www.enaca.org/modules/inlandprojects/index.php?content_id=1 Cho tới ngày 18/8/2010, số lượt truy cập trang web cụ thể như sau:
Tổng số lượt truy cập từ khi bắt đầu dự án:
• Trang thông tin về cá Tra của dự án: 10.404 lượt truy cập từ 6/2/2008
• Trang tin
o Tin: Khởi động dự án BMP cá Tra Việt Nam: 3.477 lượt truy cập từ 6/2/2008
Trang 15o Tin: Xây dựng BMP cho cá Tra ở Việt Nam - kết quả điều tra phương thức quản lý: 2,672 lượt truy cập từ 8/6/2008
o Tin: Hội thảo xây dựng BMP cho cá Tra tổ chức ở đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam: 5.564 bản đã được phát hành thông qua trang web, tạp chí, báo (tính từ 19/10/2009)
o Tin cập nhật: Cá Tra Việt Nam – BMP: 1.561 lượt truy cập từ
Số lượng truy cập tính từ lần báo cáo trước (tính từ báo cáo tiến độ trước, 2009):
• Trang chủ dự án về BMP cá Tra: 4.502 lượt
• Trang tin
o Tin: Khởi động dự án BMP cá Tra Việt Nam: 862 lượt
o Tin: Xây dựng BMP cho cá Tra ở Việt Nam - kết quả điều tra phương thức quản lý: 549 lượt
o Tin: Hội thảo xây dựng BMP cho cá Tra tổ chức ở đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam: 5.564 bản
o Tin cập nhật: Cá Tra Việt Nam – BMP: 1.561 lượt truy cập từ
o De Silva, S.S., Ingram, B.A., Phuong T Nguyen, Bui Tam T., Gooley, G.J., Turchini, G.M., 2010 Ước tính lượng Nitơ và Photpho từ các hầm
nuôi cá Tra thải ra sông Cửu Long Ambio (đang in) có thể mua trực
tuyến: DOI 10.1007/s13280-010-0072-x
o Bui, Tam M., Phan, Lam T., Ingram, B.A., Nguyen, Thuy T.T., Gooley,
G J., Nguyen, Hao V., Nguyen Phuong V., De Silva, ,S S., 2010 Phương thức sản xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở
khu vực sông Cửu Long, Việt Nam Tạp chí Aquaculture, 306, 92-100
o Phan Lam T., Bui Tam M., Nguyen Thuy T.T., Gooley Geoff J., Ingram Brett A., Nguyen Hao V., Nguyen Phuong T De Silva Sena S.,
2009 Hiện trạng nuôi cá tra Pangasianodon hypophthalmus tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam Tạp chí Aquaculture, 296: 227-
236
Trang 16Hat bài mới khác được công bố trên tạp chí Nuôi trồng thủy sản châu Á (Asia Aquaculture) do NACA phát hành đã mô tả hiện trạng và vai trò của BMP đối với nông hộ quy mô nhỏ và đặc điểm của dự án BMP do CARD tài trợ như là một sáng kiến đầu tiên ở khu vực châu Á Thái Bình Dương:
o De Mohan, C.V and De Silva, S.S 2010 Biện pháp nuôi tốt (BMPs) – Con đường đi tới nuôi bền vững và gặp gỡ các cơ hội, thách thức của thị trường hiện đại ngày nay của NTTS quy mô nhỏ Tạp chí
Aquaculture Asia số 15(1), tháng 1-3 2010, trang 9-14
o Wilkinson, S 2008 Thực hành quản lý tốt cho nghề nuôi cá tra ở Việt
Nam, tạp chí Aquaculture Asia số tháng 4-6, 2008, trang 8-11
Một bài mới nữa được công bố trên tạp chí của Uỷ ban sông Mê kông, tạp chí Đánh
bắt và Nuôi trồng (Catch and Culture) cung cấp cho độc giả bản tóm tắt các chuyên
đề của hội thảo cấp tỉnh về BMP tại Đồng Tháp và Cần Thơ, tháng 10/2009 cùng với những cách nhìn độc lập về hiện trạng nuôi cá Tra ở đồng bằng sông Cửu Long và các vấn đề về môi trường, kinh tế, xã hội khác mà ngành công nghiệp này và người nuôi quy mô nhỏ đang phải đối mặt Chi tiết cụ thể như sau:
o Starr, P (2009) Nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, cùng nhau hành động! Tạp chí Catch and Culture số 15 (3), tháng 12/2009, trang 21-26 (http://www.mrcmekong.org/Catch-Culture)
Dự án CARD đã chuẩn bị nhiều tài liệu khuyến ngư nhằm thúc đẩy chiến lược BMP nhắm đến nông dân, hội nông dân và cán bộ khuyến ngư nhà nước Những tài liệu chính dạng PDF được phụ lục theo báo cáo này, bao gồm:
o 2 pano/áp phích về BMP với ngôn ngữ giản đơn
o Tờ rơi hướng dẫn về BMP được thiết kế chuyên dụng ngoài hiện trường
o Tờ rơi hướng dẫn về ghi chép các số liệu sản xuất của nông hộ và kiểm soát việc thực hiện BMP dành cho cán bộ dự án, cán bộ khuyến ngư tỉnh và hội nông dân
• #7 (kết quả đầu ra 2.1) Cải thiện năng lực (tháng 9/2009) – hoạt động này đã hoàn thành vào tháng 8 năm 2010 (xem phụ lục 1 – báo cáo tiến độ #3 và báo cáo tiến độ (hàng năm) #4)
• #8 (đầu ra 2.2) Báo cáo cuối cùng và phê chuẩn dự án (tháng 1/2010) - hoạt động đã hoàn thành vào tháng 8 năm 2010 (xem phụ lục 1 – báo cáo tiến độ
Trang 17(hàng năm) #4); lưu ý là hội thảo cấp quốc gia và dự thảo hướng dẫn cuối cùng về BMP dự kiến hoàn thành vào tháng 11/2010 là yêu cầu cần thiết để phê duyệt khoản ngân sách bổ sung
6 Những vấn đề khác có liên quan
6.1 Môi trường
• Không có vấn đề nào xấu hay rủi ro mới xảy ra trong giai đoạn báo cáo này
• Công bố gần đây của bài báo “De Silva, S.S., Ingram, B.A., Phuong T Nguyen, Bui Tam T., Gooley, G.J., Turchini, G.M., 2010 Ước tính lượng Nitơ
và Photpho từ các hầm nuôi cá Tra thải ra sông Cửu Long Ambio (đang in có
thể mua trực tuyến: DOI 10.1007/s13280-010-0072-x)” đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học bởi vì bài báo này sẽ khôi phục lại thế cân bằng
do các bài báo tiêu cực được công bố trên diễn đàn quốc tế trước đây Những bài báo tiêu cực đó đã phản ánh không trung thực, thiếu các bằng chứng khoa học hoặc đưa các thông tin sai lệch Ngược lại, bài báo do De Silva và cộng
sự công bố năm 2010 có dẫn chứng cụ thể và lần đầu tiên đánh giá về nước thải của toàn bộ hệ thống nuôi, tạo tiền đề cho các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này trong tương lai Đúng như tầm quan trọng của vấn đề, bài báo này sẽ là khởi đầu cho các tranh cãi về quản lý môi trường và tính bền vững của ngành công nghiệp nuôi cá tra ở Việt Nam và dường như bắt đầu có sự thay đổi những nhận thức sai lầm trước kia trong đầu người tiêu dùng, nhà nhập khẩu quốc tế về lĩnh vực này
• Một kết quả khác của dự án liên quan đến lĩnh vực môi trường là đại diện của
của dự án CARD số 023/06VIE về “Xử lý và tái sử dụng nước thải và chất
thải rắn từ hầm nuôi cá ở đồng bằng sông Cửu Long để cải thiện sinh kế và
đạo dự án (Tiến sỹ Bell - Đại học Murdoch và tiến sỹ Phùng Cửu Long - Viện nghiên cứu lúa gạo) được mời tham gia và góp ý cho bản dự thảo BMP đặc biệt những vấn đề liên quan đến quản lý trang trại/hầm nuôi và tái sử dụng nước thải, chất thải rắn từ hầm nuôi cá phục vụ cho trồng lúa và hoa quả ở khu vực liền kề Sáng kiến này được nghĩ ra để bổ sung giá trị cho những công việc của dự án có liên quan và hỗ trợ cách tiếp cận hợp tác đa chiều nhằm tối
ưu hoá các kết quả chính mà dự án đạt được cho những người sử dụng sau này.
Trang 18Các hoạt động tiếp theo liên quan đến khuyến ngư, xây dựng và nâng cấp BMP ra cộng đồng nuôi thuỷ sản rộng lớn hơn sẽ được tiếp tục hỗ trợ bởi quỹ EU Seventh Framework do NACA tìm kiếm được Dự án Công nghệ sinh học, Thuỷ sản, Nông
nghiệp và Thực phẩm thuộc chương trình SEVENTH FRAMEWORK, chủ đề 2
(Tăng cường ảnh hưởng của diễn đàn Nuôi trồng thủy sản ASEM: cầu nối giữa nuôi trồng thuỷ sản người châu Á và người châu Âu)
8 Các hoạt động quan trọng tiếp theo
Những hoạt động chính trong 6 tháng tiếp theo như sau:
• Hoàn thành việc chuẩn bị Hội thảo BMP cấp quốc gia tại tỉnh An Giang, Việt Nam trong thời gian 2-12 tháng 10 năm 2009
• Hoàn thành dự thảo tiếp theo về BMP và kế hoạch đánh giá và xây dựng chiến lược triển khai BMP theo nội dung họp ở hội thảo cấp quốc gia
• Chuẩn bị tham dự Hội nghị Nuôi trồng thủy sản toàn cầu 2010 tại Phuket, Thái Lan từ 22-25 tháng 9 năm 2010
Các bước thực hiện tiếp theo để hoàn thiện dự án này là chính quyền địa phương và trung ương điều phối hỗ trợ việc áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng phù hợp với những phát hiện chính được ưu tiên sau đây:
• Các bên có liên quan tại hội thảo quốc gia tán thành về sự áp dụng và triển khai BMP
• Thành lập các hội nông dân tiên tiến ở cấp tỉnh khuyến khích các thành viên trong nhóm áp dụng, triển khai và đào tạo BMP
• Thành lập một liên minh giữa chính phủ với hội những người nuôi cá tra các cấp để điều phối về truyền thông BMP, đào tạo, kiểm tra, tuân thủ và tiếp tục đổi mới