Thông tin cơ quan tham gia Tên dự án Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính Cơ quan Việt Nam Viện Khoa học K
Trang 1Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ dự án
MS6: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ TƯ
Dự án số 029/05VIE Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều
ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
Renkang Peng, Keith Christian và Lã Phạm Lân
28 tháng 2 năm 2008
Trang 2Mục lục
1 Thông tin cơ quan _Error! Bookmark not defined
2 Tóm lược dự án _Error! Bookmark not defined
3 Tóm tắt việc đã thực hiện _Error! Bookmark not defined
4 Mở đầu và cơ sở _Error! Bookmark not defined
5 Tiến độ thực hiện Error! Bookmark not defined
5.1 Các nét chính của hoạt động _ Error! Bookmark not defined 5.2 Đối tường hưởng lợi _ 1 5.3 Tăng cường năng lực _ Error! Bookmark not defined 5.4 Công khai Error! Bookmark not defined 5.5 Quản lý dự án 7
6 Báo cáo về những vấn đề giao thoa _Error! Bookmark not defined
6.1 Môi trường _ Error! Bookmark not defined 6.2 Vấn đề giới tính và xã hội _ Error! Bookmark not defined.
7 Vấn đề triển khai và sự bền vững _Error! Bookmark not defined
7.1 Vấn đề và những giới hạn _ Error! Bookmark not defined 7.2 Những lựa chọn Error! Bookmark not defined 7.3 Sự bền vững _ Error! Bookmark not defined.
8 Các bước quan trọng kế tiếp _Error! Bookmark not defined
9 Kết luận _ 8
10 Công bố pháp lý _ 8
11 Bảng, phụ lục _13
Trang 31 Thông tin cơ quan tham gia
Tên dự án Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại
trên cây điều ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
Cơ quan Việt Nam Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam Chủ nhiệm phía Việt Nam Lã Phạm Lân
Chủ nhiệm phía Úc Dr Keith Christian and Dr Renkang Peng
Thời gian hoàn thành (dự kiến) Tháng 1, 2009
Thời gian hoàn thành (thực tế)
Giai đoạn báo cáo Tháng 9, 2007 – Tháng 2, 2008
Đầu mối liên hệ
Úc: Chủ nhiệm
Họ và tên Keith Christian Điện thoại: 61 8 89466706
Cơ quan Đại học Charles Darwin Email: keith.christian@cdu.edu.au
Úc: Quản lý
Họ và tên Jenny Carter Điện thoại: 61 08 89466708
Chứ́c vụ Trưởng Phòng, Phòng Quản lý
61 8 89467199
Cơ quan Đại học Charles Darwin Email: jenny.carter@cdu.edu.au
Việt Nam
Chứ́c vụ TP, Phòng Nghiên cứu Bảo vệ
Cơ quan Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam
Email: ias.lplan@hcm.vnn.vn
lphlan@yahoo.com
Trang 42 Tóm tắt dự án
Cây điều là một cây trồng quan trọng ở Việt Nam, và sự phát triển cây điều được Nhà nước xem là một chương trình trọng điểm quốc gia Từ năm 2002 sản lượng điều có gia tăng nhưng việc sử dụng quá nhiều thuốc hóa học cũng đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nông dân, gia súc, môi trường Chương trình IPM trên cây điều có sử dụng kiến vàng là thành phần chính do trường Đại học Charles Darwin (CDU) triển khai không sử dụng thuốc hóa học độc hại sẽ cho kết quả tốt về năng suất Dự án ứng dụng và triển khai chương trình IPM này trong điều kiện của Việt Nam Những hoạt động dự kiến cho giai đoạn 6 tháng qua đã hoàn thành Lớp huấn luyện giảng viên (TOT) năm thứ hai tại hai trung tâm đang tiến hành tốt Ngoài hai vườn trình diễn đã thực hiện, vườn trình diễn thứ ba được thiết lập tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc thuộc IAS, tại tỉnh Đồng Nai Việc thu thập dữ liệu và quản lý vườn đang tiến triển tốt Đã có 27 lớp FFS đã được triển khai với 675 nông dân tham dự ở 7 tỉnh có trồng điều Bản thảo quy trình IPM cây điều sẽ hoàn thành trong tháng 4/2008 Theo đề nghị của giảng viên sổ tay hướng dẫn có hình ảnh về IPM cây điều sẽ được thực hiện thay vì các áp-phích Bản thảo quyển sổ tay hướng dẫn sẽ hoàn thành trong tháng 6 năm 2008.
3 Tóm tắt việc đã thực hiện
Những hoạt động đề xuất trong 6 tháng lần thứ tư đã hoàn thành
Lớp TOT năm thứ hai đang tiến triển tốt Lớp được triển khai từ 20-23/12/2007 tại Đồng Nai, và từ 22-25/12/2007 tại Bình Phước Lớp tập huấn tập trung về 3 chủ đề: sinh học
và sinh thái học của kiến vàng, phương pháp sử dụng kiến vàng trong vườn điều, sâu hại chính trên cây điều và thiên địch của chúng Trong mỗi chủ đề, giảng viên đã dành nhiều thời gian cho lớp học thảo luận, và thực hành trên đồng ruộng Các học viên được thuyết phục về hiệu quả của chương trình IPM qua những quan sát trực tiếp của họ trên đồng về đặc tính sinh học của kiến vàng, hiệu quả kiểm soát cao của thiên địch đối với rầy mềm, rệp sáp giả Các học viên hài lòng với phương pháp huấn luyện
Ngoài 2 vườn trình diễn đã thực hiện tại Bình Phước và Đồng Nai, vườn trình diễn thứ ba được thiết lập trong tháng 10/2007 tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện, ở Đồng Nai Việc thu thập dữ liệu và việc quản lý vườn đang tiến triển tốt Đối với việc quản lý đàn kiến vàng, kết quả gần nhất trong tháng 1/2008 cho thấy sự phong phú của vài đàn kiến vàng thấp tại điểm Bình Phước, và kiến vàng khó khăn trong thu thập thức ăn ở điểm Đồng Nai Tại điểm Bình Phước, sự phong phú của vài đàn kiến giảm thấp do sự đánh nhau giữa các đàn kiến này, tại điểm Đồng Nai kiến vàng không thu thập thức ăn được là do sự cạnh tranh giữa kiến vàng và kiến ma Vấn đề đánh nhau giữa các đàn kiến đã được giải quyết, và 2 đàn mới đã được thả vào thay thế đàn cũ Việc kiểm soát kiến ma ở điểm Đồng Nai đang tiến hành Kết quả thu thập gần đây ở điểm mới tại Hưng Lộc cho thấy quần thể kiến cao và ổn định trong lô IPM, kiến vàng rất hoạt động và thu thập thức ăn trên các bông hoa
Học viên của lớp TOT năm thứ nhất đã triển khai 27 lớp FFS trên 8 tỉnh từ tháng 9/2007 với tổng số 675 nông dân đã tham dự Mỗi lớp FFS được tổ chức tại nhà của nông dân, và một phần vườn của chủ hộ được sử dụng làm vườn trình diễn Ở mỗi lần tập trung, chúng tôi chú trọng vào các hoạt động trên đồng ruộng, để nông dân thực tập dưới sự hướng dẫn của các giảng viên Theo báo cáo của các giảng viên, nông dân lớp FFS thích thú với
Trang 5hoạt động kiểm soát của kiến vàng đối với bọ cánh cứng đục nõn, và bọ xít muỗi Họ cũng rất quan tâm đến lớp tập huấn
Việc soạn thảo qui trình IPM cây điều và các áp-phích tiến triển thuận lợi Bản thảo tiếng Anh của quy trình gần hoàn tất, và sẽ được gởi đến IAS để dịch sang tiếng Việt trong tháng 4/2008 Theo kinh nghiệm của các giảng viên TOT và của các học viên TOT, chúng tôi
đề nghị các áp-phích được chuyển thành sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa Quyển sổ tay này sẽ có các hình ảnh được chú giải, các sơ đồ, biểu đồ, nhấn mạnh các điểm lưu ý về quản lý vườn điều, sâu hại điều và thiên địch của chúng, như vậy, người nông dân sẽ dễ dàng tiếp thu Công việc chọn lựa hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ cho quyển sổ tay đang tiến hành, bản thảo sẽ hoàn thành trong tháng 6/2008
Với mục tiêu bảo tồn động vật quý hiếm, chúng tôi đã huấn luyện cho 2 người công tác cho Chương trình Bảo tồn Tê tê Châu Á, Vườn Quốc gia Cúc Phương về kỹ thuật sử dụng kiến vàng
Sự chi tiêu của dự án đối với vườn trình diễn, lớp TOT, và lớp FFS trong năm 2007
đã vượt quá kinh phí đề xuất vì ảnh hưởng của sự trượt giá ở Việt Nam Để đáp ứng với kinh phí thực của dự án, chúng tôi đề nghị Văn phòng Quản lý CARD quan tâm đến và hỗ trợ thêm 35.416 A$ cho phía Việt Nam (Bảng 3)
4 Mở đầu và Cơ sở
Mục đích của dự án là gia tăng năng suất điều và cải thiện chất lượng của hạt điều, và cải thiện môi trường qua việc áp dụng kiến vàng và thuốc trừ sâu không độc hại
Mục tiêu cụ thể của dự án gồm có (1) Tổ chức lớp huấn luyện TOT IPM trên cây điều cho các học viên sẽ thực hiện lớp FFS tại địa phương, (2) Xây dựng quy trình IPM trên cây điều và sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa để sử dụng trong điều kiện của Việt Nam trên cơ sở quy trình đã có được thực hiện ở Úc, và (3) Đánh giá hiệu quả của mô hình FFS về gia tăng kiến thức nông dân và giảm sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất điều
Dự án kỳ vọng đạt được 120 giảng viên TOT từ 8 tỉnh trồng điều và 3750 nông dân được học tập qua các lớp FFS Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật IPM cây điều, và sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa sẽ được hoàn thành Hiệu quả của lớp FFS về tăng cường kiến thức người nông dân trong canh tác điều sẽ được đánh giá
Dự án sẽ tập trung về (1) Ứng dụng phương pháp nông dân cùng tham gia thí nghiệm,
có liên quan đến lớp TOT và FFS, và (2) Xây dựng quy trình IPM cây điều, sổ tay hướng dẫn
có hình ảnh minh họa thông qua những kết quả đồng ruộng, thí nghiệm thực hiện bởi thí nghiệm viên, học viên TOT, và học viên của lớp FFS
Phương pháp triển khai bao gồm thiết lập vườn trình diễn cho lớp TOT, lớp huấn luyện TOT và FFS, xây dựng tài liệu kỹ thuật về quy trình và sổ tay hướng dẫn IPM, điều tra
cơ bản Vùng dự án là 6 tỉnh trồng điều chính, có diện tích cây điều 300.700 ha, chiếm khoảng 86% diện tích điều cả nước
5 Tiến độ thực hiện
Theo khung dự án, bản báo cáo trình bày các hoạt động I (Tổ chức lớp TOT về IPM cây điều), II (Học viên TOT tổ chức lớp FFS tại địa phương), III (Xây dựng quy trình IPM cây điều) và IV (Xây dựng sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa) của bản dự án đề nghị Phần sau là tiến độ của mỗi hoạt động
Trang 65.1 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động 1)
Hoạt động I bao gồm 3 khía cạnh: (i) Xác định khu vực dự án thuộc 6 tỉnh có tham gia dự án, (ii) Lựa chọn giảng viên IPM ở mỗi vùng dự án để thực hiện lớp tập huấn TOT về IPM cây điều, và (iii) Thực hiện lớp tập huấn TOT về IPM cây điều
I (i) Xác định khu vực dự án thuộc 6 tỉnh có tham gia dự án
Đã xác định được 30 điểm, mỗi điểm gồm vài xã thuộc 8 tỉnh có trồng điều (thêm 2 tỉnh so với dự kiến ban đầu) để mở lớp tập huấn nông dân (FFS) Thông tin chi tiết được báo cáo 6 tháng lần thứ nhất
I (ii) Chọn lựa giảng viên IPM từ các tỉnh dự án tham gia lớp TOT IPM cây điều
Lớp tập huấn TOT năm thứ nhất, chúng tôi đã chọn được 56 giảng viên IPM từ 8 chi cục bảo vệ thực vật (báo cáo 6 tháng lần thứ nhất) Lớp tập huấn TOT năm thứ hai, chúng tôi cũng đã chọn 56 giảng viên IPM từ 9 tỉnh có trồng điều để tham gia lớp TOT (tăng thêm 3 tỉnh so với dự kiến ban đầu) Theo yêu cầu của Chi cục Bảo vệ Thực vật hai tỉnh Trà Vinh và Tây Ninh, lớp TOT năm thứ hai đã có vài giảng viên IPM từ các tỉnh này tham dự lớp tập huấn (báo cáo 6 tháng lần thứ ba)
I (iii) Tổ chức lớp TOT về IPM cây điều
Trong khoảng thời gian báo cáo từ tháng 9/2007 đến tháng 2/2008, chúng tôi đã tổ chức đợt tập huấn thứ hai của lớp TOT năm thứ hai theo kế hoạch
Đợt tập huấn lần hai được tổ chức từ 20-23/12/2007 tại Đồng Nai và từ 22-25/12/2007 tại Bình Phước Đợt tập huấn này tập trung vào 3 chủ đề: sinh học và sinh thái học của kiến vàng, phương pháp sử dụng kiến vàng trong vườn điều, sâu hại chính trên cây điều và thiên địch của chúng (Bảng 1, Phụ lục 1) Trong mỗi chủ đề, các giảng viên đã dành nhiều thời gian để học viên thảo luận và thực hành trong vườn điều Các học viên hoàn toàn được thuyết phục về hiệu quả của chương trình IPM qua những quan sát trên đồng ruộng của
họ về sinh học của kiến vàng trong vườn trình diền Dưới sự hướng dẫn của giảng viên, học viên đã có đủ thời gian để xác định các đàn kiến ở những khu vực kế cận vườn trình diễn, và thu thập về thả trong vườn Vì kiến vàng có đặc tính nuôi rệp sáp giả và rầy mềm để thu hoạch mật đường, các học viên đã quan tâm đến những sâu hại thứ yếu này có trở thành dịch hại chủ yếu vì kiến vàng hay không Để trả lời câu hỏi này, giảng viên đã trình bày cho họ biết những loài thiên địch của chúng và hiệu quả kiểm soát đối với những sâu hại này Các học viên cũng được thuyết phục bởi những dữ liệu thu thập trong vườn trình diễn và trong những vườn điều khác, thấy rằng mặc dù kiến vàng có sự cộng sinh với rệp sáp giả và rầy mềm, nhưng chúng không gây ảnh hưởng nghịch đối với các loài thiên địch Cũng vậy, các thiên địch duy trì mật độ rệp sáp giả và rầy mềm ở dưới mức gây hại Các học viên cũng hài lòng với phương pháp giảng dạy của chúng tôi
Quản lý vườn điều
Ở Bình Phước, sau khi các đàn kiến được thả vào cuối tháng 11/2006, việc theo dõi
sự phát triển của đàn kiến trong lô IPM và lô do nông dân tự quản lý tiến triển thuận lợi Theo kết quả thu nhận gần đây, như là vào giữa tháng 1/2008, thấy rằng sự phong phú của kiến vàng trong lô IPM của một số đàn là thấp và số đường đi của kiến cũng thấp Nguyên nhân chủ yếu là do sự đánh nhau của kiến Để giải quyết, hai đàn mới đã được thả vào để thay thế hai đàn cũ vào cuối tháng 1/2008 Một đàn mới thả vào đã được tiếp sức sức bằng số lượng tổ kiến còn sót lại ở nơi đã thu thập Với việc thả này, quần thể kiến sẽ phát triển tốt để kiểm soát sâu hại trong giai đoạn kết hạt
Trang 7Ở điểm trình diễn Đồng Nai, sau khi chúng tôi ký hợp đồng mới với cùng người nông dân vào năm ngoái, các đàn kiến đã được thả vào lô IPM vào cuối tháng 11/2007 Việc thu thập dữ liệu và quan sát định kỳ tiến triển tốt Theo sự quan sát của Dr Peng, kiến vàng ở điểm trình diễn này phải đối đầu với sự canh tranh của kiến ma là loài làm tổ dưới đất Kiến
ma có kích thước rất nhỏ khoảng 1,5 mm và rất phổ biến trong vườn Một số biện pháp đã được thử nghiệm (đặt bẫy ở gốc cây, tưới dầu nhớt ở gốc cây) nhưng các biện pháp này chỉ
có tác dụng tạm thời Nguyên nhân chính là do các loại cỏ dại mọc trong vườn giữ vai trò là nguồn cung cấp thức ăn và nơi cư trú cho kiến ma đã bị người nông dân làm sạch vào đầu tháng 1/2008 Vì thiếu nguồn thức ăn, kiến ma bắt buộc phải tìm kiếm thức ăn trên cây điều (nguồn thức ăn duy nhất còn sót lại trong vườn điều), và kết quả là sự đánh nhau giữa kiến vàng và kiến ma ở gốc cây điều hoặc ở các cành điều Vì vậy, kiến vàng không thể thu thập thức ăn ở các chùm hoa mà tập trung vào sự kháng cự hoặc đánh nhau Vào cuối tháng 1/2008, các chùm hoa bị gây hại đáng kể Để giải quyết vấn đề, Chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu tức thời về sinh học của kiến ma (hành vi, cấu trúc của tổ kiến, hoạt động trong ngày và hành vi thu thập thức ăn) vào tháng 2/2008 Chúng tôi đã thử nghiệm một loạt các phương pháp bẫy, và thấy rằng cá tươi xay nhuyễn trộn với thuốc Regent dạng bột (một bao 0,8 g trộn với 80 kg mồi) có hiệu quả trừ được kiến ma Với kết quả này chúng tôi hy vọng quần thể kiến ma sẽ giảm xuống
Điểm trình diễn thứ ba được thiết lập tại Trung tâm Hưng Lộc, Đồng Nai, trực thuộc IAS, vào tháng 10/2007 Lý do chúng tôi chọn điểm này là vì (1) nơi này gần với nơi tổ chức lớp TOT, và thuận tiện cho học viên quan sát về thiên địch, sâu hại, và các hành vi của kiến vàng, và (2) điểm này cũng là điểm nghiên cứu của ông Bình (đề tài nghiên cứu của ông Bình gắn liền với hoạt động của dự án – xem thêm báo cáo lần thứ hai) Vườn điều này có diện tích 1,2 ha và được chia làm 2 phần như hai điểm trình diễn cũ là một nửa vườn có thả kiến (lô IPM ) và nửa vườn còn lại được quản lý theo kiểu nông dân (lô nông dân) Việc thu thập dữ liệu được triển khai từ tháng 11/2007 Vào giữa tháng 1/2008 dữ liệu thu thập cho thấy (1) quần thể kiến vàng trong lô IPM cao và ổn định, kiến vàng rất hoạt động hiện diện nhiều ở các chùm hoa, và (2) có rất ít chùm hoa bị sâu hại tấn công, mức độ thiệt hại tương tự cho đến tốt hơn lô nông dân Chúng tôi nhận thấy có điều lý thú là trong điểm trình diễn này kiến ma rất phổ biến, nhất trong lô IPM, nhưng không ghi nhận được sự đánh nhau giữa kiến vàng và kiến ma Những quan sát chi tiết cho thấy rằng thảm thực vật trong vườn gồm cỏ dại các loại và chồi non cây điều rất phong phú, và kiến ma đã rất hoạt động thu thập thức ăn trên thảm thực vật này, và kiến ma đã không hiện diện trên những cây điều có nhiều kiến vàng Điều này cho thấy thức ăn giữ vai trò khá quan trọng để quản lý sự canh tranh giữa các loài kiến Chúng tôi sẽ kiểm chứng phát hiện này trong năm 2008
5.2 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động II)
Đây là hoạt động tổ chức lớp FFS của các học viên đã tốt nghiệp lớp TOT năm thứ nhất 56 học viên tốt nghiệp lớp TOT năm thứ nhất đã tổ chức 27 lớp FFS ở 8 tỉnh, với 675 nông dân tham gia (Bảng 2) Tùy theo điều kiện canh tác địa phương, mỗi lớp FFS tổ chức làm 4-8 lần trong năm (1-3 lần vào giai đoạn cây ngủ nghỉ, và 3-5 lần vào giai đoạn trước ra hoa đến thu hoạch Mỗi lần tập trung kéo dài 2 ngày Lớp FFS được tổ chức tại nhà của người nông dân trồng điều, và vườn trình diễn được đặt tại vườn của ông ta, vườn này cũng được chia làm 2 phần Một phần do người chủ vườn tự quản lý, còn nửa vườn còn lại do giảng viên đã tốt nghiệp lớp TOT quản lý theo chương trình IPM Những vườn có sẵn quần thể kiến vàng tự nhiên cư ngụ được ưu tiên chọn để làm nơi trình diễn và thực tập Ở mỗi lần tập trung, chúng tôi chú trọng đến hoạt động đồng ruộng, để cho người nông dân tự thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của giảng viên IPM Vào đầu tháng 2/2008, các lô IPM đều đã
có kiến vàng và lớp FFS tiến triển tốt Theo báo cáo của các giảng viên, nông dân thích thú
Trang 8về hiệu quả kiểm soát cao của kiến vàng đối với bọ đục nõn, và bọ xít muỗi trong lô IPM Người nông dân cũng rất hài lòng với lớp tập huấn
5.2 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động III)
Hoạt động III là soạn thảo quy trình IPM Bản thảo quy trình IPM bằng tiếng Anh gần hoàn chỉnh, và sẽ được chuyển đến IAS trong tháng 4/2008 để dịch sang tiếng Việt trước khi được gởi đi để nhận sự góp ý, đề nghị Quy trình IPM này chủ yếu sử dụng những dữ liệu thu thập định kỳ trong lô IPM và lô do nông dân quản lý ở các giai đoạn phát triển của cây điều Trong đó, cũng bao gồm những dữ liệu quan sát trong phòng và ngoài đồng Ngoài ra, các khuyến cáo về quản lý vườn và kinh nghiệm của người nông dân cũng được đề cập
5.2 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động IV)
Hoạt động IV là thực hiện các áp-phích Theo kinh nghiệm của các giảng viên lớp TOT, và các học viên, chúng tôi sẽ chuẩn bị các áp-phích này dưới dạng sổ tay hướng dẫn IPM cây điều có hình ảnh minh họa Quyển sổ tay sẽ có các hình ảnh được chú thích, sơ đồ, biểu đồ nhấn mạnh các kỹ năng quản lý vườn điều (gồm cả quản lý các đàn kiến), các loài sâu hại và thiên địch Quyển sổ tay hướng dẫn này được soạn cho người nông dân dễ sử dụng Đối với quyển sổ này, chúng tôi đã thu thập đủ các hình ảnh cần thiết, sơ đồ, và biểu
đồ từ các chuyến dã ngoại, theo dõi định kỳ ngoài đồng, dữ liệu trong phòng thí nghiệm vào các giai đoạn ra lá non, trước ra hoa, ra hoa, và thu hoạch
Trong giai đoạn báo cáo (8/2007-2/2008), chúng tôi đã thu thập thêm 85 hình ảnh cho quyển số tay hướng dẫn này Công việc tuyển lựa chi tiết đang tiến triển, và bản thảo sẽ hoàn thành trong tháng 6/2008
Đối tượng hưởng lợi
Theo báo cáo của các giảng viên IPM, nông dân tham dự lớp FFS rất thích thú vì họ
đã thấy tận mắt hiệu quả kiểm soát của kiến vàng đối với các sâu hại chính trên cây điều (nhất là bọ đục nõn và bọ xít muỗi) mà không sử dụng thuốc trừ sâu Người nông dân cũng hài lòng về hạt điều có sắc sáng hơn trong lô IPM so với lô sử dụng thuốc trừ sâu Với tiến
độ thực hiện của các lớp FFS, báo cáo về lợi ích của người trồng điều sẽ được trình bày trong báo cáo 6 tháng tới
Tăng cường năng lực
Trong giai đoạn của báo cáo, TS Peng đã đến Việt Nam trong tháng 1/2008 để kiểm tra vườn trình diễn Tại điểm trình diễn ở Đồng Nai, kiến ma được xác định là yếu tố giới hạn quan trọng nhất đến sự ổn định quần thể kiến vàng và hoạt động thu lượm thức ăn của kiến vàng TS Peng đã làm việc kỹ lưỡng với cán bộ nghiên cứu của IAS và thấy rằng sự tồn tại của thảm cỏ trong vườn điều có thể giới hạn hiện tượng đánh nhau giữa kiến vàng và kiến
ma Công việc này sẽ được cán bộ nghiên cứu thuộc IAS kiểm nghiệm trong vài tháng tới Trước mắt, để giải quyết vấn đề này, qua nhiều thử nghiệm và sai số, TS Peng và cán bộ nghiên cứu thuộc IAS đã tìm được loại bẫy và phương pháp bẫy thích hợp để giảm quần thể kiến ma
Sau khi kiểm tra vườn trình diễn ở Bình Phước, TS Peng thấy rằng sự đánh nhau giữa các đàn kiến trong vườn là yếu tố chính làm giảm quần thể kiến vàng trong vườn Vài điểm đánh nhau đã được xác định Cán bộ của IAS đã đồng ý với sự giải thích của Peng là cần kiểm soát ranh giới giữa các đàn để đàn kiến có thể đạt được hiệu quả kiểm soát cao
Trang 9Tiến độ của các lớp FFS và lớp TOT năm thứ hai được báo cáo cho phương tiện truyển thông địa phương và báo nông nghiệp Biểu tượng của AusAID và Bộ NN&PTNT luôn được trưng bày trong các hoạt động
Quản lý dự án
Chủ nhiệm dự án, ông Lân, chịu trách nhiệm quản lý nhân sự và kinh phí dự án phía Việt Nam Ông ta quản lý hai trung tâm huấn luyện và điểm trình diễn với sự giúp đỡ của 2 thí nghiệm viên GS Keith Christian và TS Renkang Peng có nhiệm vụ điều phối chung dự
án và sẽ họp lại báo cáo những nhu cầu đòi hỏi với sự đóng góp từ phía Việt Nam khi cần thiết TS Peng hiện đang theo dõi các hoạt động, và ông ta cũng có nhiệm vụ đối với sự triển khai của dự án, một phần lớp huấn luyện TOT, giải quyết vần đề phát sinh từ hai điểm trình diễn và phân tích dữ liệu
6 Báo cáo về những vấn đề giao thoa
Môi trường
Theo kết quả điều tra cơ bản, thuốc trừ sâu đã có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người nông dân, gia súc và môi trường Chương trình IPM trên cây điều sẽ cải thiện đáng kể môi trường và sức khỏe người nông dân vì chương trình IPM trên cây điều sử dụng kiến vàng là thành phần chính và không sử dụng thuốc trừ sâu độc hại Thí dụ, sau khi vườn đã được thả kiến vàng thuốc trừ sâu không được sử dụng trong giai đoạn cây điều ra hoa và kết quả Hạt điều trong lô IPM sáng và sạch hơn so với hạt trong lô do nông dân quản lý Nông dân tham gia lớp FFS tin tưởng rằng chương trình IPM trên cây điều chắc chắn sẽ cải thiện sức khỏe của họ và môi trường canh tác
Vấn đề giới tính và xã hội
Theo kết quả điều tra cơ bản, vào khoảng 40% lao động phụ nữ đã tham gia các khâu quản lý vườn điều, như làm cỏ, xén tỉa, bón phân, thu hoạch, v.v Vì chương trình IPM cây điều không đòi hỏi nhiều về sức lực, và không liên quan đến sử dụng thuốc trừ sâu độc hại,
sự chấp nhận chương trình này sẽ thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong ngành trồng điều sản xuất nhỏ Trong lớp FFS, phụ nữ và dân tộc ít người được động viên tham gia Ngoài ra, chúng tôi cũng kêu gọi người dân tộc tham gia quản lý vườn điều
Lớp học chúng tôi đã huấn luyện thêm cho hai người, ông Nguyễn Văn Thái và cộng
sự, công tác tại Trung tâm Bảo tồn Tê tê Châu Á, Vườn Quốc gia Cúc Phương Sau khi nhận thấy rằng kiến vàng là thức ăn tốt nhất để nuôi dưỡng con tê tê, họ đã liên hệ với chúng tôi để tham dự lớp huấn luyện về kiến vàng với mục tiêu là thiết lập kế hoạch sử dụng kiến vàng để nuôi con tê tê Để giúp đỡ chương trình bảo tồn động vật quý hiếm, chúng tôi đã nhiệt tình ủng hộ và đồng ý ông Thái và cộng sự tham dự lớp huấn luyện
7 Vấn đề triển khai và sự bền vững
7.1 Vấn đề và những giới hạn
Chi tiêu của dự án cho vườn trình diễn, lớp huấn luyện TOT, và các lớp FFS trong
2006 và 2007 đã vượt quá nguồn kinh phí Điều này xảy ra bởi vì kinh phí của dự án được dự trù theo chi phí nhân lực và vật giá trong năm 2005, và chúng tôi đã không quan tâm đến sự lạm phát ở Việt Nam vì chúng tôi không biết những dữ liệu tại thời điểm của ngân sách (xem
Trang 10bảng kinh phí của dự án đề nghị) Dự án đã bắt đầu từ tháng 2/2006 Theo số liệu thống kê được công bố, tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam là 8% năm 2006, 12,03% năm 2007, và 8,04% trong tháng 2/2008 Vào mỗi lần được cấp kinh phí (xem phụ lục 1 của thời biểu 2 của hợp đồng), 46,28% kinh phí sẽ được chuyển cho phía Việt Nam Theo tỷ lệ lạm phát nêu ở trên, bảng 3 trình bày sự thâm hụt cho mỗi lần được cấp Tính trên toàn dự án, sự thâm hụt là 35.416 AD về phía Việt Nam do sự lạm phát Vì vậy, chúng tôi đề nghị văn phòng CARD quan tâm để cấp thêm 35.416 AD (bảng 3) cho phía Việt Nam để đáp ứng giá trị thực của dự
án có lưu tâm đến sự lam phát Kinh phí về phía Úc không cần có sự điều chỉnh
7.2 Những lựa chọn
Không có trong báo cáo này
7.3 Sự bền vững
Sự bền vững của ngành sản xuất điều ở Việt Nam là trọng tâm của dự án Tất cả các mục tiêu, giải pháp, phương pháp thực thi và chương trình huấn luyện đều liên kết với vấn đề này Trong thời gian báo cáo từ tháng 9/2007-2/2008, với kết quả từ dã ngoại, vườn trình diễn chúng tôi hài lòng về lớp huấn luyện TOT, và lớp FFS mà sử dụng kiến vàng là thành phần chính để kiểm soát sâu hại quan trọng trên cây điều là có hiệu quả Đây là một bước có
ý nghĩa hướng tới sự bền vững của ngành trồng điều trong tương lai
8 Các bước quan trọng kế tiếp
Sau đây là các hoạt động quan trọng kế tiếp trong 6 tháng tới:
1 Hoàn thành lớp tập huấn TOT năm thứ hai,
2 Quản lý vườn trình diễn,
3 Tiếp tục lớp huấn luyện FFS năm thứ nhất ở 8 tỉnh trồng điều,
4 Hoàn thành quy trình IPM cây điều,
5 Tiếp tục soạn thảo sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa
9 Kết luận
Những hoạt động dự kiến của dự án cho giai đoạn 6-tháng lần thứ tư đã hoàn thành
Hoạt động I, lớp huấn luyện TOT
Lớp huấn luyện TOT năm thứ hai tiến triển tốt Việc huấn luyện tập trung vào 3 chủ đề: sinh học và sinh thái học của kiến vàng, phương pháp sử dụng kiến vàng trong vườn điều,
và sâu hại quan trọng và thiên địch của chúng Ở mỗi chủ đề, giảng viên đã dành nhiều thời gain cho việc thảo luận trong lớp, và thực tập trong vườn trình diễn Học viên hoàn toàn thuyết phục bởi hiệu quả của chương trình IPM qua những quan sát do họ tự thực hiện về sinh học của kiến vàng, và hiệu quả kiểm soát cao của thiên địch trên rệp sáp giả và rầy mềm Các học viên cũng hài lòng với phương pháp giảng của chúng tôi Báo cáo của lớp TOT trình bày trong Phụ lục 1
Quản lý vườn trình diễn
Việc thu thập dữ liệu và quản lý vườn đều ở 3 điểm trình diễn tiến triển tốt Về quản
lý kiến vàng, theo kết quả gần đây trong tháng 1/2008, sự phong phú của đàn kiến thấp ở Bình Phước là do sự đánh nhau giữa các đàn kiến, và kiến vàng khó khăn thu thập thức ăn ở phác hoa ở Đồng Nai do có sự canh tranh với kiến ma Việc đánh nhau giữa các đàn kiến đã được giải quyết và 2 đàn kiến đã được thả thêm vào vườn ở Bình Phước Việc kiểm soát kiến