Dựa vào kinh nghiệm tổ chức của lớp tập huấn năm thứ nhất, các góp ý và đề nghị của học viên, chúng tôi đã chỉnh sửa lại các bài giảng và thời gian học của các bài giảng cho lớp tập huấn
Trang 1Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ dự án
029/05VIE Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều ở VN với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
MS5: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ BA
Renkang Peng, Keith Christian và Lã Phạm Lân
Ngày 7 tháng 9 năm 2007
Trang 21 Thông tin cơ quan tham gia
Tên dự án Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại
trên cây điều ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
Cơ quan Việt Nam Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền NamChủ nhiệm phía Việt Nam Ông Lã Phạm Lân
Cơ quan Úc Trường Đại học Charles Darwin
Chủ nhiệm phía Úc Dr Keith Christian and Dr Renkang Peng
Thời gian bắt đầu Tháng 2, 2006
Thời gian hoàn thành (dự kiến) Tháng 1, 2009
Thời gian hoàn thành (thực tế)
Giai đoạn báo cáo Tháng 9, 2006 – Tháng 2, 2007
Đầu mối liên hệ
Úc: Chủ nhiệm
Họ và tên Keith Christian Điện thoại: 61 8 89466706
Chứ́c vụ Phó Giáo sư Fax: 61 8 89466847
Cơ quan Đại học Charles Darwin Email: keith.christian@cdu.edu.au
Úc: Quản lý
Họ và tên Jenny Carter Điện thoại: 61 08 89466708
Chứ́c vụ TP, Phòng Quản lý nghiên cứu Fax: 61 8 89467199
Cơ quan Đại học Charles Darwin Email: jenny.carter@cdu.edu.au
Việt Nam
Họ và tên Lã Phạm Lân Điện thoại: 84 0913829560
Chứ́c vụ TP, Phòng Nghiên cứu Bảo vệ
Thực vật
Fax: 84 8 8297650
Cơ quan Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam Email: ias.lplan@hcm.vnn.vn lphlan@yahoo.com
Trang 32 Tóm tắt dự án
Cây điều là một cây trồng quan trọng ở Việt Nam, và sự phát triển cây điều được Nhà nước xem là một chương trình trọng điểm quốc gia Từ năm 2002 sản lượng điều có gia tăng nhưng việc sử dụng quá nhiều thuốc hóa học cũng đã gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nông dân, gia súc, môi trường Chương trình IPM trên cây điều có sử dụng kiến vàng là thành phần chính do trường Đại học Charles Darwin (CDU) triển khai không sử dụng thuốc hóa học độc hại sẽ cho kết quả tốt về năng suất Dự án này đã ứng dụng và triển khai chương trình IPM trong điều kiện của Việt Nam Những hoạt động dự kiến cho giai đoạn 6 tháng lần thứ hai đã hoàn thành Lớp huấn luyện giảng viên (TOT) năm thứ nhất tại hai trung tâm đã hoàn thành tốt Lớp huấn luyện giảng viên năm thứ hai đã bắt đầu từ tháng 8-2007, và có tổng số 56 học viên từ 9 tỉnh trồng điều đã tham gia lớp trong năm thứ hai Hai điểm trình diễn đã có kết quả tốt Chương trình tập huấn lớp nông dân (FFS) đã soạn thảo xong, và được tiến hành trong tháng 9-2007 Bản thảo quy trình IPM sẽ hoàn thành trong tháng 12-2007 Công việc chọn lọc hình ảnh, biểu đồ cho áp-phích IPM đang tiến hành
3 Tóm tắt việc đã thực hiện
Những hoạt động đề xuất trong 6 tháng lần thứ ba đã hoàn thành
Lớp TOT năm thứ nhất đã hoàn thành tốt trong tháng 5-2007 Đợt tập huấn cuối tổ chức vào tháng 5-2007 tại cả hai trung tâm Đồng Nai và Bình Phước Chúng tôi đã tổ chức kiểm tra cuối khóa với 15 câu hỏi bao gồm nhiều lãnh vực, và ghi nhận sự góp ý của học viên về lớp tập huấn Hầu hết các học viên đã trả lời đúng 15 câu hỏi Về sự góp ý của học viên, nhìn chung, học viên hài lòng với các phần bài giảng và thực hành, đặc biệt 5 bài giảng được xếp hạng cao Đối với sự tự tin về ứng dụng quy trình IPM cây điều, 54% học viên chọn “tự tin”
và 46% học viên chọn “tốt” Đối với sự tự tin về tổ chức lớp FFS, 8% học viên chọn “rất tự tin”, 54% chọn “tự tin”, và 38% chọn “tốt”
Lớp tập huấn năm thứ hai bắt đầu vào tháng 8-2007 với 56 học viên từ 9 tỉnh trồng điều tham
dự Dựa vào kinh nghiệm tổ chức của lớp tập huấn năm thứ nhất, các góp ý và đề nghị của học viên, chúng tôi đã chỉnh sửa lại các bài giảng và thời gian học của các bài giảng cho lớp tập huấn năm thứ hai Đợt tập huấn đầu tiên được tổ chức vào ngày 20-26/8/2007 tại trung tâm Đồng Nai, và vào ngày 23-29/8/2007 tại trung tâm Bình Phước Dưới sự hướng dẫn của các giảng viên, học viên đã hoàn toàn được thuyết phục bởi những quan sát đồng ruộng và những dữ liệu do họ thu thập trong vườn trình diễn hoặc trong chuyến dã ngoại về hiệu quả kiểm soát sâu hại điều của kiến vàng Điều này đã làm tăng cường sự thích thú của học viên trong lớp tập huấn IPM cây điều, và học cũng hài lòng với phương pháp huấn luyện
Nhìn chung, hai vườn trình diễn trong tình trạng tiến triển tốt Trong mùa trước, kết quả của vườn trình diễn ở Bình Phước cho thấy số lá và phác hoa trong lô IPM nhiều hơn trong lô do nông dân quản lý Số chồi non bị hại do 4 loại sâu hại chính tương đương nhau giữa 2 lô Hạt điều trong lô IPM sạch và có màu sắc sáng hơn hạt trong lô nông dân quản lý Kết quả đã chỉ rằng sử dụng kiến vàng có hiệu quả tốt hơn cho đến tương đương với sử dụng thuốc trừ sâu
Dữ liệu của điểm Đồng Nai đang được phân tích Mặc dù điểm Đồng Nai gặp sự trục trặc trong tháng 7/2007, chúng tôi đã chọn một vườn điều khác của cùng một chủ vườn để tiếp tục thực hiện vườn trình diễn cho lớp tập huấn Thiết kế của vườn mới chọn tương tự vườn
cũ, và se được thẻ kiến vào tháng 10/2007
Trang 4Lớp tập huấn nông dân (FFS) sẽ được tiến hành trong tháng 9/2007 Sau khi hoàn thành lớp TOT năm thứ nhất, với sự trợ giúp của Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh, các học viên đã bận rộn
lo chọn nông dân từ các nhóm đối tác ở địa phương để tham gia lớp FFS, và chuẩn bị các dụng cụ trợ giảng Chương trình huấn luyện FFS đã được soạn thảo căn cứ vào kinh nghiệm khuyến nông và sự thảo luận giữa các giảng viên và các học viên TOT đã tốt nghiệp
Việc soạn thảo quy trình IPM cây điều, và các áp-phích đang tiến triển thuận lợi Trong giai đoạn báo cáo, việc soạn thảo quy trình tập trung vào dữ liệu thu thập định kỳ từ các vườn trình diễn Tổng số 33 hình ảnh đã được chuẩn bị cho các áp-phích IPM Bản thảo quy trình
Dự án kỳ vọng đạt được 120 giảng viên TOT từ 8 tỉnh trồng điều và 3750 nông dân được học tập qua lớp FFS, hoàn thành một tài liệu hướng dẫn kỹ thuật IPM cây điều, và bộ áp-phích,
và đánh giá hiệu quả của lớp FFS về tăng cường kiến thức người nông dân trong canh tác điều
Dự án sẽ tập trung về (1) Ứng dụng phương pháp nông dân cùng tham gia thí nghiệm, có liên quan đến lớp TOT và FFS, và (2) Xây dựng quy trình IPM cây điều, bộ áp-phích thông qua những kết quả đồng ruộng, thí nghiệm thực hiện bởi thí nghiệm viên, học viên TOT, và tham
dự viên của lớp FFS
Phương pháp triển khai bao gồm thiết lập vườn trình diễn cho lớp TOT, lớp huấn luyện TOT
và FFS, xây dựng quy trình và áp-phích IPM, điều tra cơ bản 6 tỉnh trồng điều chính, có diện tích cây điều 300.700 ha, chiếm khoảng 86% diện tích điều cả nước, là trong vùng dự án
5 Tiến độ thực hiện
Theo khung dự án, bản báo cáo trình bày các hoạt động I (Tổ chức lớp TOT về IPM cây điều), II (Học viên TOT tổ chức lớp FFS tại địa phương), III (Xây dựng quy trình IPM cây điều) and IV (Xây dựng các áp-phích IPM cây điều) của bản dự án đề nghị Phần sau là tiến
độ của mỗi hoạt động
5.1 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động 1)
Hoạt động I bao gồm 3 khía cạnh: I (i) Xác định khu vực dự án thuộc 6 tỉnh có tham gia dự
án, I (ii) Lựa chọn giảng viên IPM ở mỗi vùng dự án để thực hiện lớp tập huấn TOT về IPM cây điều, và I (iii) Thực hiện lớp tập huấn TOT về IPM cây điều
I (i) Xác định khu vực dự án thuộc 6 tỉnh có tham gia dự án
Đã xác định được 30 điểm, mỗi điểm gồm vài xã thuộc 8 tỉnh có trồng điều (thêm 2 tỉnh so với dự kiến ban đầu) để mở lớp tập huấn nông dân (FFS) Thông tin chi tiết được báo cáo 6
Trang 5I (ii) Chọn lựa giảng viên IPM từ các tỉnh dự án tham gia lớp TOT IPM cây điều
Lớp tập huấn TOT năm thứ nhất chúng tôi đã chọn được 56 giảng viên IPM từ 8 chi cục bảo
vệ thực vật (chi tiết trong báo cáo 6 tháng lần thứ nhất) Lớp tập huấn TOT năm thứ hai, chúng tôi cũng đã chọn 56 giảng viên IPM từ 9 tỉnh có trồng điều để tham gia lớp TOT (bảng 1) Theo yêu cầu của Chi cục Bảo vệ Thực vật hai tỉnh Trà Vinh và Tây Ninh, chúng tôi đã chọn được một số giảng viên tham dự lớp tập huấn
I (iii) Tổ chức lớp TOT về IPM cây điều
Trong khoảng thời gian báo cáo từ tháng 2-2007 đến tháng 8-2007, chúng tôi đã tổ chức đợt tập huấn cuối của lớp TOT năm thứ nhất và đợt tập huấn đầu của lớp TOT thứ hai theo kế hoạch
Đợt tập huấn cuối của lớp TOT thứ nhất được tổ chức vào tháng 5-2007 tại Đồng Nai và Bình Phước Đợt tập huấn này diễn ra vào giai đoạn cuối thu hoạch, và vì vậy, việc huấn luyện tập trung vào sự thu hoạch điều, sử dụng kiến vàng, tổng kết các biện pháp IPM cần được áp dụng ở các thời kỳ sinh trưởng cây điều, kỹ năng giao tiếp, truyền đạt thông tin và phương pháp làm sinh động lớp học Danh sách bài giảng trình bày trong bảng 2 Các học viên thích thú với bài giảng và phần thực hành Vào cuối đợt tập huấn, để khảo sát kiến thức của học viên về IPM cây điều và ghi nhận những phản hồi về những bài giảng và thực hành
đã chuyển giao, chúng tôi tổ chức kiểm tra với 15 câu hỏi bao gồm tất cả những bài đã giảng
và khảo sát những phản hồi về 15 chủ đề, và sự tự tin của học viên về IPM cây điều và mở lớp FFS Hầu hết học viên trả lời đúng cáo câu hỏi Về khảo sát phản hồi đối với các bài giảng, chúng tôi xây dựng 5 thang điểm (1 = rất hài lòng, 2 = hài lòng, 3 = tốt, 4 = không hài lòng, và 5 = rất không hài lòng) cho mỗi đề mục của từng bài giảng (Phụ lục 1) Kết quả cho thấy các học viên đã bày tỏ “hài lòng” và “tốt” với tất cả các bài giảng, đặc biệt 5 bài giảng được xếp hạng cao hơn Đó là những bài giảng về “Thiên địch và bảo vệ thiên địch”, “Ảnh hưởng của kiến vàng đến sâu hại chính trên cây điều”, “Sinh học kiến vàng”, “Nguyên tắc IPM”, và “Kỹ năng truyền đạt, giao tiếp, sinh động lớp học” (Phụ lục 1) Không có bài giảng nào được xếp hạng 4 ‘không hài lòng’ hoặc 5 ‘kém’ Về sự tự tin với biện pháp IPM cây điều, 54% học viên chọn mức 2 ‘tự tin’ và 46% học viên chọn mức 3 ‘được’ Về sự tự tin mở lớp tập huấn nông dân FFS, 8% học viên chọn mức 1 ‘rất tự tin’, 54% chọn mức 2 ‘tự tin’ và 38% chọn mức 3 ‘tốt’ Ngoài ra, chúng tôi đã ghi nhận những góp ý và đề nghị quan trọng từ phía học viên, như
(1) Cần nhiều thực hành hơn cho mỗi chủ đề bài giảng,
(2) Một số chủ đề có nội dung trùng nhau,
(3) Cần nhiều thời gian hơn cho bài giảng có chủ đề kỹ năng truyền đạt, giao tiếp, và (4) Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sức khỏe con người và môi trường cần được thêm vào bài giảng có chủ đề “Sử dụng thuốc trừ dịch hại”
Về kết luận, mặc dù có hai thời gian lớp tập huấn bị chậm trễ do ảnh hưởng của dịch rầy nâu hại lúa (xem báo cáo 6 tháng lần thứ hai về nguyên nhân), lớp tập huấn TOT lần thứ nhất đã thành công
Căn cứ vào kinh nghiệm lớp tập huấn TOT năm thứ nhất, các góp ý và đề nghị của học viên năm thứ nhất, chúng tôi đã chỉnh sửa lại các chủ đề bài giảng và thời lượng cho lớp TOT năm thứ hai (Bảng 3) Đợt tập huấn đầu của lớp TOT năm thứ hai tổ chức từ 20-26/8/2007 tại Đồng Nai, và từ 23-29/8/2007 tại Bình Phước Lớp tập huấn tập trung vào 3 lãnh vực: sâu bệnh hại chính và thiên địch trong đó nhấn mạnh vai trò của kiến vàng trong vườn điều, nguyên tắc IPM, và kỹ thuật canh tác trong đó bao gồm việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu (Bảng 4, Phụ lục 2) Học viên đã hoàn toàn thuyết phục bởi những quan sát đồng ruộng
Trang 6và những dữ kiện họ tự thu thập trong vườn trình diễn, và thấy rằng kiến vàng đã kiểm soát rất hữu hiệu bọ đục nõn và bọ xít họ Coreidae, là hai loài sâu hại chính vào thời điểm này trong năm Giảng viên đã trình bày những kết quả theo dõi định kỳ của mùa rồi trong vườn trình diễn của điểm Bình Phước, theo đó lô có kiến vàng đã tốt hơn hoặc tương đương với lô
có xử lý thuốc trừ sâu (lô nông dân) về số lá, số đọt non, phát hoa, và số đọt non bị hại bởi bọ xít muỗi, bọ đục nõn, sâu đục trái và rầy mềm Những kết quả này cùng với những quan sát
tự thực hiện đã làm tăng lên sự thích thú của học viên đối với khóa huấn luyện Các học viên cũng rất thích thú với bài giảng về nguyên tắc IPM, và kỹ thuật canh tác Họ cũng hài lòng với phương pháp huấn luyện
Quản lý vườn trình diễn
Nhìn chung, hai vườn trình diễn tiến triển thuận lợi Sau khi các tổ kiến vàng được thả vào vườn ở điểm Bình Phước vào cuối tháng 11/2006, những theo dõi định kỳ sự phong phú của kiến và sâu hại chính đã được triển khai thuận lợi Kết quả vụ điều vừa qua rất tốt đẹp (Bảng 5), cho thấy số lá và phát hoa của lô IPM đã nhiều hơn so với lô nông dân Tỷ lệ (%) phát hoa non bị gây hại do 4 loài sâu hại chính (bọ đục nõn, bọ xít muỗi, rầy mềm, và sâu đục lòn lá)
đã thấp hơn trong lô IPM, nhưng sự khác biệt giữa hai lô IPM có thả kiến và lô nông dân không có ý nghĩa thống kê (Bảng 5) Ngoài ra, người nông dân cũng cho biết hạt điều trong
lô IPM có màu sắc sạch hơn và sáng hơn so với hạt điều trong lô của ông ta Điều này cho thấy sử dụng kiến vàng có hiệu quả tương đương cho đến tốt hơn việc sử dụng thuốc trừ sâu
về nội dung sự phát triển của cây điều và sự thiệt hại gây ra do sâu hại chính
Tại vườn trình diễn Đồng Nai, các đàn kiến được thả trong lô IPM vào đầu tháng 12/2006 Quan sát định kỳ về sâu hại chính, sự phong phú của đàn kiến trong vườn IPM và nông dân được tiến hành thuận lợi trong mùa điều vừa qua (từ tháng 10/2006 đến tháng 7/2007), dữ liệu đang được phân tích Tuy nhiên, sau năm hợp đồng thứ nhất vào giữa tháng 7/2007, nông dân chủ vườn cắt một phần vườn thuộc lô IPM để làm lò nấu xương bò mà không báo cho chúng tôi biết Vì lý do này mà những theo dõi định kỳ phải ngưng lại Sau nhiều cuộc thương thuyết, chủ vườn đã đồng ý chúng tôi sử dụng một vườn điều khác của ông ta (1,5 ha)
để làm điểm trình diễn Chúng tôi đã làm hợp đồng 2 năm với chủ vườn từ thời điểm này Các cây trong vườn đã được xén tỉa và bón phân hợp lý Các đàn kiến sẽ được thả trong lô IPM vào tháng 10, và sau đó những theo dõi định kỳ sẽ tiếp tục trở lại
5.1 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động II)
Hoạt động II lớp TOT năm thứ nhất đã hoàn thành để học viên về mở lớp FFS tại địa phương Trong thời gian tập trung của đợt cuối lớp TOT năm thứ nhất, chương trình tập huấn FFS đã được soạn thảo với những kinh nghiệm, thảo luận giữa các giảng viên và học viên Chương trình gồm 4 phần (Phụ lục 3) Phần 1 là chọn lựa và quản lý vườn trình diễn, Phần 2 là thời biểu tập huấn lớp FFS, phần 3 là các chủ đề cho mỗi gian đoạn phát triển của cây điều, và phần 4 là cung cấp các thông tin chi tiết của các chủ đề (Phụ lục 3) Sau khi lớp tập huấn TOT năm thứ nhất hoàn thành, với sự giúp đỡ của chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh, các học viên tốt nghiệp đã bận rộn chọn nông dân từ các nhóm đối tác ở địa phương tham gia lớp FFS, và chuẩn bị các trợ huấn cụ Theo thông tin từ các chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh, các lớp FFS sẽ bắt đầu trong tháng 9/ 2007 Tiến độ thực hiện các lớp FFS sẽ được báo cáo trong kỳ báo cáo 6 tháng tới
Trang 75.1 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động III)
Hoạt động III là tiến độ của việc soạn thảo quy trình IPM Việc soạn thảo quy trình IPM cây điều tiến triển thuận lợi Công việc tập trung vào thu thập dữ liệu từ quan sát định kỳ lô IPM
và lô nông dân trong thời kỳ cây ra đọt non (III (i)), trước ra hoa và tạo trái (III (ii)) và thu hoạch (III (iii)) Kết quả của vườn trình diễn Bình Phước vào giai đoạn ra hoa, và tạo trái mùa điều vừa qua trình bày ở Bảng 5 Kết quả này sẽ được đưa vào quy trình IPM cây điều
Dữ liệu của vườn trình diễn Đồng Nai đang được phân tích
Ngoài ra, chúng tôi cũng thu thập dữ liệu từ những quan sát đồng ruộng, nuôi sâu trong phòng cho những phần của quy trình IPM vào giai đoạn trước ra hoa, và ra hoa, như: các sâu
và bệnh hại chính trên cây điều, và những loài thiên địch thường gặp
5.1 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động IV)
Hoạt động IV là xây dựng các áp-phích IPM cây điều Những hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ từ các chuyến thực địa, kiểm tra định kỳ, các thí nghiệm tiến hành trong vườn trình diễn đã được báo cáo cho giai đoạn điều ra đọt non (IV(i)) (báo cáo 6 tháng lần thứ nhất) và giai đoạn trước ra hoa và nở hoa (IV (ii)) (báo cáo 6 tháng lần thứ hai)
Trong giai đoạn của báo cáo (tháng 2–8/2007) là thời kỳ thu hoạch điều và ra lá non sau thu hoạch (IV (iii)), đã thu thập 33 hình ảnh cho các áp-phích; 19 hình ảnh về sâu hại và triệu chứng gây hại, 9 ảnh về thiên địch, 3 ảnh về quan hệ hỗ tương giữa kiến vàng và rày mềm, và
2 ảnh kiến vàng bắt mồi Việc chọn lựa ảnh cho áp-phích đang thực hiện
5.2 Đối tượng hưởng lợi
Căn cứ vào điều tra cơ bản, những lợi ích cho hộ sản xuất nhỏ kỳ vọng đạt được đã trình bày trong báo cáo 6 tháng lần thứ nhất So sánh lô IPM với lô tự quản lý, chủ vườn điều ở Bình Phước rất vui mừng với kết quả của lô IPM bởi vì chất lượng hạt tốt hơn, và không sử dụng thuốc trừ sâu Chúng tôi tin tưởng rằng khi lớp tập huấn FFS bắt đầu trong tháng 9/2007, nhiều lợi ích cho hộ sản xuất nhỏ sẽ từng bước gia tăng
5.3 Tăng cường năng lực
TS Peng đã đến Việt Nam trong tháng 8/2007 để khai giảng lớp tập huấn TOT năm thứ hai,
để giảng bài về “Sâu hại chính trên cây điều và thiên địch của chúng” và “Hiệu quả của kiến vàng đối với sâu hại chính trên cây điều” cho học viên TOT, và kiểm tra việc quản lý đàn kiến đã được thả trong vườn trong trình diễn Kết quả thấy rằng bài giảng của TS Peng đã hấp dẫn học viên về sử dụng kiến vàng để kiểm soát sâu hại điều Để giữ cho đàn kiến ổn định, TS Peng đã trình bày biện pháp kiểm tra ranh giới giữa các đàn kiến, và cho kiến ăn vào giai đoạn cây điều ngủ nghỉ Đến nay, các thành viên IAS đã thu nhận toàn bộ kiến thức
về kỹ thuật kiến vàng, bao gồm chuẩn bị vườn cây thả kiến, kiểm soát sự canh tranh giữa các loài kiến, xác định phạm vi các đàn kiến, thả kiến, quản lý và duy trì các đàn kiến Dưới sự hướng dẫn của TS Peng, các thành viên IAS đã tiếp thu hoàn toàn kinh nghiệm về đánh giá
sự phong phú của đàn kiến Trong hai lần trước đến Việt Nam với sự góp phần của Ông Chiến, nông dân trồng điều, TS Peng đã trình bày một kế hoạch kiểm soát sâu đục cành (sử dụng kiến vàng, xén tỉa, và bẫy đèn) mà loài sâu hại này là mối quan tâm hiện nay của người trồng điều ờ Việt Nam TS Peng cũng đã chuyển giao phần kiến thức này cho thành viên IAS
Trang 85.4 Công khai
Hoạt động của dự án bao gồm lớp tập huấn TOT đã được công bố trên đài phát thanh, và báo Nông nghiệp Biểu tượng của Bộ NN&PTNT AusAID luôn được trình bày trong các hoạt động
5.5 Quản lý dự án
Chủ nhiệm dự án, ông Lã Phạm Lân, chịu trách nhiệm quản lý nhân sự và kinh phí dự án phía Việt Nam Ông ta cũng quản lý hai trung tâm huấn luyện và điểm trình diễn, với sự trợ giúp của hai thí nghiệm viên GS Keith Christian và TS Renkang Peng có nhiệm vụ điều phối chung dự án và sẽ tổng hợp lại những nhu cầu đòi hỏi được báo cáo với sự đóng góp từ phía Việt Nam khi cần thiết TS Peng hiện đang theo dõi các hoạt động, và ông ta cũng có nhiệm
vụ về kiểm tra tiến độ triển khai của dự án, một phần lớp huấn luyện TOT, và phân tích dữ liệu
6 Báo cáo về những vấn đề giao thoa
ta quản lý Họ tin tưởng rằng chương trình IPM trên cây điều chắc chắn sẽ cải thiện được sứ khỏe của họ và môi trường canh tác
6.2 Vấn đề giới tính và xã hội
Theo kết quả điều tra cơ bản, phụ nữ đã giữ một vai trò quan trọng trong ngành trồng điều Vào khoảng 40% lao động là phụ nữ đã tham gia các khâu quản lý vườn điều, như làm cỏ, xén tỉa, bón phân, thu hoạch, v.v Vì kỹ thuật ứng dụng kiến vàng không đòi hỏi nhiều về sức lực, và không độc hại như phun thuốc trừ sâu, sự chấp nhận của nó sẽ thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong ngành trồng điều sản xuất nhỏ
7 Vấn đề triển khai và sự bền vững
7.1 Vấn đề và những giới hạn
Từ khi ông Lân là chủ nhiệm dự án, sự thông tin giữa các thành viên phía CDU và Việt nam
đã được cải thiện
7.2 Những Lựa chọn
Không có trong báo cáo này
Trang 97.3 Sự bền vững
Sự bền vững của ngành sản xuất điều ở Việt Nam là trọng tâm của dự án Tất cả các mục tiêu, giải pháp, phương pháp thực thi và chương trình huấn luyện đều liên kết với vấn đề này Trong lớp tập huấn TOT năm thứ nhất và đợt tập trung đầu của lớp TOT năm thứ hai, cùng với những kết quả do học viên thực hiện và từ kết quả của vườn thực tập, chúng tôi đã tạo được sự hài lòng cho các học viên về sử dụng kiến vàng là thành phần chính để quản lý vườn điều là có hiệu quả Đây là một bước đi có ý nghĩa cho sự bền vững của ngành trồng điều trong tương lai
8 Các bước quan trọng kế tiếp
Sau đây là các hoạt động quan trọng kế tiếp trong 6 tháng tới:
1 Quản lý vườn điều trình diễn,
2 Tiếp tục lớp huấn luyện TOT năm thứ hai,
3 Thực hiện lớp FFS tại 8 tỉnh do các học viên đã tốt nghiệp lớp TOT năm thứ nhất,
4 Hoàn thành bản thảo quy trình IPM cây điều, và
5 Hoàn thành bản thảo áp-phích IPM cây điều
9 Kết luận
Những hoạt động dự kiến của dự án cho giai đoạn 6-tháng lần thứ ba đã hoàn thành
Lớp tập huấn TOT năm thứ nhất đã hoàn thành trong tháng 5/2007 Đợt tập huấn lần cuối thực hiện trong tháng 5/2007 tại Đồng Nai và Bình Phước Cuối đợt tập huấn, chúng tôi tổ chức kiểm tra với 15 câu hỏi bao gồm những chủ đề đã giảng, và ghi nhận ý kiến phản hồi với phiếu câu hỏi Hầu hết học viên trả lời đúng các câu hỏi Về kết quả phản hồi, nhìn chung, các học viên đã hài lòng với các bài giảng, đặc biệt 5 bài giảng được xếp hạng coa hơn Tất cả các học viên đã có khả năng ứng dụng các biện pháp IPM thích hợp và tự tin tổ chức lớp FFS
Lớp tập huấn TOT năm thứ hai được tổ chức từ tháng 8/2007 Chúng tôi đã chọn 56 giảng viên IPM từ 9 tỉnh có trồng điều Căn cứ vào kinh nghiệm lớp tập huấn TOT năm thứ nhất, các góp ý và đề nghị của học viên năm thứ nhất, chúng tôi đã chỉnh sửa lại các chủ đề bài giảng và thời lượng cho lớp TOT năm thứ hai (Bảng 3) Đợt tập huấn đầu của lớp TOT năm thứ hai tổ chức từ 20-26/8/2007 tại Đồng Nai, và từ 23-29/8/2007 tại Bình Phước Dưới sự hướng dẫn của các giảng viên TOT, các học viên đã hoàn toàn thuyết phục bởi những quan sát đồng ruộng và những dữ liệu họ tự thu thập trong vườn trình diễn, và thấy rằng kiến vàng
đã kiểm soát rất hữu hiệu các loài sâu hại chính Những kết quả này đã làm tăng lên sự thích thú của học viên đối với khóa huấn luyện, và họ cũng hài lòng với phương pháp huấn luyện Nhìn chung, hai vườn trình diễn tiến triển tốt Trong mùa trước, kết quả của vườn trình diễn
ở Bình Phước cho thấy kiến vàng có hiệu quả tốt hơn cho đến tương đương với sử dụng thuốc trừ sâu Dữ liệu của vườn trình diễn Đồng Nai đang được phân tích
Lớp tập huấn FFS sẽ thực hiện trong tháng 9/2007 Sau khi các học viên TOT năm thứ nhất tốt nghiệp, với sự trợ giúp của Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh, họ đang bận rộn chọn nông dân
từ các nhóm đối tác ở địa phương đề tham gia lớp FFS, và chuẩn bị các dụng cụ trợ giảng Chương trình FFS đã được soạn thảo dựa vào kinh nghiệm khuyến nông và sự thảo luận giữa các giảng viên và các học viên
Việc soạn thảo quy trình IPM cây điều và các áp-phích tiến triển thuận lợi Trong giai đoạn báo cáo, việc soạn thảo quy trình tập trung vào thu thập dữ liệu định kỳ từ các vườn trình
Trang 10diễn Tổng số 33 hình ảnh đã được chuẩn bị cho các phích Bản thảo quy trình và các phích sẽ sẵn sàng để nhận các góp ý, đề nghị vào tháng 12/2007
áp-Báo cáo về đợt tập huấn đầu tiên của lớp TOT năm thứ hai trình bày trong phụ lục 2