Thông tin của dự án Tên Dự án Phát triển và ứng dụng kỹ thuật mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh miền trung Việt Nam
Trang 1Bộ Nông nghiệp và PTNT
BẢN BÁO CÁO TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN
Phát triển và ứng dụng những kỹ thuật mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu
quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân
tại các tỉnh miền trung Việt (009/VIE05)
Tên hoạt động
Dự án cải thiện hệ thống chăn nuôi dê Australia - Việt Nam (2006-2009)
Lĩnh vực: Chăn nuôi dê MS3 - BÁO CÁO ĐỊNH KỲ 6 THÁNG LẦN THỨ 2
Ngày 08 tháng 02 năm 2007
PGS TS B.W Norton: Trường Đại học Queensland, Australia
PGS.TS Đinh Văn Bình: Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Việt Nam
Mô hình phát triển hệ thống cây thức ăn cho chăn nuôi dê tại tỉnh Lâm Đồng
(Tháng 11 năm 2006)
Trang 2Nội dung
1 Thông tin chung… 2
2 Tóm tắt Dự án 2
3.Tóm tắt việc thực hiện Dự án 3
4 Đặt vấn đề và bối cảnh của Dự án 4
5 Tiến độ hiện tại 7
5.1 Nét nổi bật trong hoạt động của Dự án 8
5.2 Lợi ích của các hộ dân 10
5.3 Xây dựng năng lực 11
5.4 Tính công khai 11
5.5 Quản lý Dự án 11
6 Báo cáo các vấn đề liên quan 12
6.1 Môi trường 12
6.2 Các vấn đề về giới và xã hội 12
7 Vấn đề thực hiện và tính bền vững 12
7.1 Kết quả đạt được đề và trở ngại 12
7.2 Sự lựa chọn 13
7.3 Tính bền vững 13
8 Những bước quan trọng tiếp theo 13
9 Kết luận 14
10 Sự cam kêt giữa các bên 14
Phụ lục
Phụ lục 1a Chương trình hội nghị lần đầu tiên của ban cố vấn Dự án Phát triển chăn nuôi dê Việt Nam- Australia (VAGIP) (2006-2009)
CD phụ lục
1 CD phụ lục 1 Điều tra hệ thống chăn nuôi dê Việt Nam 2006-2007
2 CD phụ lục 2 Những đề xuất cho hoạt động của các hộ dân tham gia dự án CARD
3 CD phụ lục 3 Báo cáo về Hội thảo của ban cố vấn và diễn đàn của các nông dân tổ chức tại Lâm Đồng
4 CD phụ lục 4 Trách nhiệm của trường Đại học Queensland với CARD (7-12/2006)
5 CD phụ lục 5 Trách nhiệm của Trung tâm NC Dê và Thỏ với CARD (7-12/2006)
6 CD phụ lục 6 Khung hoạt động của dự án (CARD 009 VIE05)
7 CD phụ lục 7 Phạm vi của dịch vụ mục lục 1 (CARD 009 VIE05)
8 CD phụ lục 8 Báo cáo tiến độ dự án CARD (7-12/2006)
Trang 31 Thông tin của dự án
Tên Dự án Phát triển và ứng dụng kỹ thuật mới phù hợp nhằm
nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh miền trung Việt Nam (009/VIE05)
Tên hoạt động:
Dự án cải thiện hệ thống chăn nuôi dê Australia - Việt Nam (2006-2009)
Chăn nuôI, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Cán bộ chủ trì Dự án phía
Việt Nam
PGS TS Đinh Văn Bình
Đơn vị phía Australia Trường Đại học Queensland
Chuyên gia phía Australia TS Barry W Norton
Giai đoạn viết báo cáo Ngày 01 tháng 7 đến 01 tháng 12 năm 2006
2 Tóm tắt dự án
Trong những năm gần đây, hệ thống phát triển chăn nuôi dê ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước thông qua việc thiết lập và ủng hộ cho các hoạt động cho Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây ở phía Bắc Việt Nam Những hoạt động của Trung tâm trong nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê thuộc các chương trình quốc gia và quốc tế đã thực hiện thành công và mang lại hiệu quả kinh tế cao trong các nông hộ chăn nuôi dê ở phía Bắc và hiện tại hầu hết các địa phương và các tỉnh đều có mong muốn thúc đẩy hệ thống chăn nuôi dê đã thành công ở phía Bắc đến các tỉnh miền Trung và phía nam Việt Nam nơi mà nhiều các biện pháp kỹ thuật, tư vấn chuyên ngành và nguồn kinh phí cho việc áp dụng hệ thống kỹ thuật mới phù hợp cho chăn nuôi dê còn nhiều hạn chế Dự án đã được đề xuất thực hiện trong thời gian 03 năm với mục tiêu là tìm ra được những hạn chế trong phát triển chăn nuôi dê nhằm hoàn thiện kỹ thuật chăn nuôi, nâng cao thu nhập cho những hộ nông dân được lựa chọn tham gia dự án tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng; đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi dê cho các cán kỹ thuật của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các hộ nông dân có các hệ thống chăn nuôi dê khác nhau, bằng việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới phù hợp (cải tiến chuồng trại, điều trị bệnh tật, cải thiện nguồn thức ăn
và chất lượng thức ăn, luân chuyển đực giống/đảo đực dê đực Bách Thảo có phẩm chất tốt) Bằng cách tiếp cận các biện pháp kỹ thuật này sẽ giải quyết được những tồn tại trong chăn nuôi dê, nâng cao năng suất chăn nuôi, từ đó thu nhập của người lao động dê sẽ được tăng lên
và đời sống của các hộ nông dân trong vùng sẽ được cải thiện Những thông tin trình bày trong báo cáo được thu thập lấy từ quá trình thực hiện dự án trong lĩnh vực chăn nuôi dê (Kết quả Mục: 1.1, 1.2 và 1.3) và Tiến độ thực hiện trong bản báo cáo 06 tháng thường niên lần thứ 2 (tháng 7-12 năm 2006) (Kết quả Mục; 2.4), cả hai bản báo cáo này sẽ được đệ trình vào tháng
08 năm 2006 và tháng 01 năm 2007 Trong suốt giai đoạn thực hiện tất cả các hoạt động của
dự án được kiểm tra giám sát kỹ lưỡng, các hoạt động phát triển chăn nuôi dê bền vững được lập kế hoạch định kỳ, một cuôc họp của ban quản lý, điều hành dự án được tổ chức và một diễn đàn thảo luận giữa các hộ chăn nuôi dê của dự án kết hợp thăm quan trực tiếp hộ nông
Trang 4dân đang thực hiện dự án đã được tổ chức tại Đà Lạt, Lâm Đồng Trong các cuộc họp trên kế hoạch thực hiện các hoạt động năm 2007 đã được đưa ra, trách nhiệm phía trường Đại Học Qeensland, Australia và Trung tâm NC Dê Thỏ Sơn Tây đã được định rõ và các các chi phí cho những hoạt động trên cũng được xác định
3 Tóm tắt việc thực hiện dự án
Theo những thông tin trình bày trong những hoạt động ban đầu của dự án CARD “Phát triển
và ứng dụng những kỹ thuật mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh miền trung Việt Nam” (009/VIE05) trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2006 Dự án đã lần đầu tiên đón TS Norton từ Australia tới Việt Nam, (19/4 đến 04/5/2006), khi được quyết định tên hoạt động là “Dự án phát triển chăn nuôi dê Việt Nam - Australia (2006-2009) ”, và tên hoạt động này sẽ được sử dụng trong tất cả các báo cáo chính thức tới, phần đặt vấn đề và bối cảnh của dự án, mục tiêu của dự án, phương pháp tiếp cận, biện pháp ứng dụng những phương pháp còn lại và theo những báo cáo trình bày tiến độ thực hiện đến tháng 12 năm 2006 Trong giai đoạn này, những
kỹ thuật mới sẽ được giới thiệu tới 27 hộ dân thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng như thiết kế và sửa lại chuồng và nền chuồng bằng bê tông và xây dựng hầm/hố thu gom phân hàng ngày, tiêm phòng cho dê các bệnh truyền nhiễm như Tụ huyết trùng, Đậu dê, Viêm ruọt hoại tử định kỳ và trong một số trường hợp còn điều trị bệnh nội ký sinh trùng bằng thuốc Ivermectin, thiết lập diện tích trồng cây thức ăn cho dê (0.2 ha/hộ) bao gồm các giống cỏ, cây
họ đậu và các cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao Nhìn chung ở mỗi nông hộ sau khi được tập huấn và giúp đỡ đã có sự thay đổi tích cực và một số hộ đã thực hiện rất thành công Kế hoạch hoạt động đã được triển khai cho mỗi hộ nông dân đúng theo những thứ mà họ cần, và
sự thành công của kế hoạch này sẽ được kiểm định lại trong chuyến thăm dự án lần thứ 2 vào tháng 03 năm 2007 của TS Bary Norton Trong thời gian thực hiện các hoạt động của dự án, hội thảo của các cố vấn dự án đã được tổ chức tại Đà Lạt, Lâm Đồng, cán bộ của dự án sẽ được cung cấp trực tiếp những thông tin phản hồi lại từ các cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của các tỉnh và các vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện Một diễn đàn nông dân cũng đã được tổ chức tại Đà Lạt, đây là cơ hội cho các cán bộ dự án có thể diễn giải mục đích của dự án, và giải đáp những câu hỏi trực tiếp từ nông dân xung quanh việc thực hiện các hoạt động cuả dự án Những hội thảo tương tự sẽ được tổ chức vào năm 2007 và
2008 Trong hoạt động năm 2006, 30 hộ nông dân khác trong vùng không tham gia dự án cũng
đã được tiến hành điều tra về hiện trạng phát triển chăn nuôi dê, cùng với 27 hộ nông dân được tham gia vào dự án làm cơ sở đưa ra so sánh giữa các hộ (30 hộ ngoài dự án) để đánh giá mức độ ảnh hưởng tích cực của dự án
4 Đặt vấn đề và bối cảnh của dự án
Ngành chăn nuôi dê ở Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh miền Bắc hiện nay đang được phát triển
mở rộng bằng việc giới thiệu những kiến thức mới về điều trị bệnh tật, thức ăn, giới thiệu và chọn lọc các giống dê địa phương (Cỏ, Bách Thảo) và các giống dê ngoại nhập (Boer, Sannen, Jumnapari ) vào sản xuất Sự thành công đầu tiên về những cải tiến kỹ thuật này tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, nơi mà hiện đang phát triển mở rộng chăn nuôi thâm canh dê sữa – thịt Trong khi thịt dê là loại thực phẩm không thường xuyên được sử dụng tại thị trường Việt Nam, nhưng hiệu quả kinh tế đem lại cho các hộ nông dân chăn nuôi dê là cao,
do đó đã thu hút được rất nhiều những hộ nông dân khác muốn chuyển đổi sang chăn nuôi loại gia súc nhai lại nhỏ này Dê là loại gia súc phù hợp đối với những đối tượng nông dân nghèo
do đầu tư vốn ban đầu thấp, hiệu quả kinh tế lại cao Những đề xuất của dự án đã được triển khai và được tài trợ bởi Tổ chức AusAID, chương trình CARD đã đặc biệt nhằm vào đối
Trang 5tượng là những hộ nông dân nghèo thuộc các tỉnh miền trung Việt Nam (Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng) với những kỹ thuật mới được triển khai bởi Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây Mục tiêu này được phản ánh trong tiêu đề của dự án “Phát triển và ứng dụng những kỹ thuật mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh miền trung Việt Nam” Đây là chương trình bao gồm những hoạt đông cơ bản như: Điều tra tình hình sản xuất và kinh tế nông hộ, kế hoạch chiến lược cho việc nâng cao sức khoẻ và dinh dưỡng cho dê, đào tạo những nông dân then chốt và cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chuyên ngành trong việc tiếp cận và sử dụng những kỹ thuật mới này chuyển giao tới các nông hộ chăn nuôi Việc khuyến cáo mở rộng những biện pháp kỹ thuật mới này tới toàn thể nông hộ chăn nuôi dê sẽ được hoàn thành bằng các đợt học tập, thăm quan mô hình, học hỏi kinh nghiệm cho người dân địa phương tới những hộ nông dân đã tham gia thực hiện dự án
Báo cáo dưới đây mô tả những kết quả của lần thứ hai thăm chính thức Việt Nam trong quá trình tổ chức thực hiện, quản lý, cũng như nắm bắt được tiến độ thực hiện dự án theo mốc thời gian đã đặt ra trong mục tiêu hoàn thành các hoạt động và kế hoạch cho các hoạt động cho giai đoạn 06 tháng tiếp theo
Mục tiêu và kết quả của dự án: Dự án được đề xuất với 07 mục tiêu và được thực hiện trong
vòng 03 năm 2006-2009 Bao gồm:
1 Phân loại và đặc điểm sản xuất của những hộ nông dân then chốt
2 Đào tạo và phổ biến tuyên truyền thông tin
3 Cung cấp kinh phí, kỹ thuật cho việc sửa chữa, cải tiến nâng cao chuồng trại và chăm sóc sức khoẻ cho đàn dê
4 Nâng cao số lượng và chất lượng các loại thức ăn tinh và thức ăn thô xanh cho dê
5 Cung cấp dê đực giống Bách Thảo trong việc cải tạo nâng cao phẩm chất giống
6 Xác định hiệu quả kinh tế của việc tác động những biện pháp kỹ thuật mới tới khả năng sản xuất của dê
7 Trợ giúp một số trang thiết bị cho việc hình thành cơ sở chế biến thịt dê cừu quy
mô nhỏ tại Trạm Nghiên cứu Dê-Cừu Ninh Hải, Ninh Thuận
Trong mỗi mục tiêu của dự án đều có hàng loạt các hoạt động gắn liền với những kết quả mong đợi, những kế hoạch hoạt động này được trình bày ở bảng 10 (Khung chiến lược hoạt động của dự án), tương tự ở Bảng 3.1 trong Đề cương cuối cùng được chấp thuận bởi dự án CARD
Ngoại trừ Nội dung 7, tất cả những mục tiêu trên hoặc một phần nội dung trên đều được thực hiện trong giai đoạn 06 tháng đầu tiên này
Các bước tiếp cận và phương pháp tiến hành
Những thông tin cung cấp dưới đây tương tự như được trình bày trong tài liệu dự án và được chấp nhận là phù hợp với những mục tiêu đã vạch ra ở trên
Tiếp cận chung: Dự án sẽ được triển khai tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng,
thuộc vùng duyên hải ven biển miền trung Việt Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 334 km và cách Hà Nội khoảng 1400 km Người dân địa phương chủ yếu là người dân tộc Kinh, Chăm, Êđê và là những người có thu nhập thấp nhất Việt Nam (45-65 USD/năm) Hệ thống canh tác nông nghiệp truyền thống biến đổi từ trồng lúa ở vùng ven sông ngòi thuộc tỉnh Ninh Thuận, đến hệ thống canh tác vùng cao chủ yếu là trồng sắn, trồng cây ăn quả, trồng rừng và chăn nuôi Số lượng đàn dê năm 2004 tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng khoảng
93930, 35275 và 9309 con Phần lớn đàn dê được chăm sóc và nuôi dưỡng bởi các lao động là
Trang 6phụ nữ và trẻ em Thu nhập từ chăn nuôi ước tính khoảng 22 đến 25 % tổng thu nhập hàng năm từ sản xuất nông nghiệp trong vùng Ba loại hệ thống nông nghiệp (vùng thấp lượng mưa cao, vùng cao lượng mưa thấp và vùng cao lượng mưa cao) được lựa chọn là địa điểm thực hiện dự án Kế hoạch của dự án là sau đợt điều tra đầu tiên, 27 hộ nông dân (15 tại Ninh Thuận, 09 tại Bình Thuận và 03 tại Lâm Đồng) được lựa chọn tham gia thực hiện các hoạt động của dự án, bước tiếp sau là cung cấp những kỹ thuật mới phù hợp (chuồng trại, chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng, dê đực giống) như đã lập định Những cán bộ và hộ nông dân then chốt
sẽ được đào tạo trong khoá đào tạo ngắn hạn tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và đội ngũ cán bộ này cùng kết hợp với các cán bộ thuộc các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh và cán bộ của Trung Tâm NC Dê và Thỏ, Sơn Tây, Hà Tây được sử dụng như các hưỡng dẫn viên hướng dẫn trực tiếp tại mỗi nông hộ thực hiện dự án trong việc áp dụng những
kỹ năng quản lý, biện pháp kỹ thuật này Trong mỗi tỉnh, 02-03 hộ nông dân sẽ được lựa chọn làm các hộ mô hình chăn nuôi dê và được sử dụng làm phương tiện để tham quan, đào tạo các nông dân khác ngoài dự án có thể áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi mới Những hộ nông dân được lựa chọn tham gia dự án là những hộ có kinh nghiệm trong chăn nuôi dê, có số lượng dê
từ 50-100 con và có đủ diện tích để trồng các loại cây thức ăn theo yêu cầu của dự án Phương pháp tiếp cận đồng bộ tất cả các biện pháp kỹ thuật mới được ưu tiên hơn là cách tiếp cận từng mảng kỹ thuật riêng biệt khi chuyển giao kỹ thuật (ví dụ như chỉ điều trị bệnh tật cho dê hoặc chỉ đảo đưc) Phương pháp tiếp cận trong phát triển chăn nuôi dê đã được áp dụng thành công
ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam và mong muốn sẽ ứng dụng thành công trong hệ thống chăn nuôi tương tự tại miền Trung Việt Nam Một sáng kiến mới khá quan trọng cho dự án này là ủng hộ cho việc xây dựng xưởng chế biến thịt dê tại trạm Nghiên cứu Dê Cừu Ninh Hải, Ninh Thuận
Những thiếu hụt về kiến thức và phương pháp chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất của đội ngũ cán bộ Trung tâm và cán bộ địa phương sẽ được hoàn thiện thông qua chương trình đào tạo toàn diện Đầu tiên là tập huấn cho các cán bộ thuộc các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và liên kết họ với đội ngũ cán
bộ chuyên ngành của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây Thứ hai là sử dụng những cán bộ thuộc các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đào tạo cho các cán bộ huyện, các
hộ nông dân tham gia và người dân địa phương thông qua sự phổ biến các thông tin bằng các tài liệu kỹ thuật, hội thảo và các mô hình ứng dụng Cách tiếp cận này sẽ xây dựng sự hiểu biết hợp tác lẫn nhau giữa phía Australia, kỹ thuật viên của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và nông dân để hoạt động như là đơn vị liên kết, nhóm đơn vị trung gian và thúc đẩy nhiều hơn nữa cách tiếp cận tổng thể nhằm nâng cao sản xuất nông nghiệp và vật nuôi ở những vùng nông thôn nghèo thuộc các tỉnh miền Trung Việt Nam Sự đóng góp của phía đối tác Australia sẽ rộng hơn thông qua các hoạt động tham gia của TS B Norton trong tất cả các vấn đề có liên quan đến sự phát triển và chuyển giao những biện pháp kỹ thuật mới, và sẽ được bổ sung bằng chuyến thăm quan của 05 kỹ thuật viên chuyên ngành của Việt Nam tới Australia để thăm quan mô hình chăn nuôi dê, các xưởng chế biến thịt, sữa, cũng như thăm quan học tập các hệ thống lưu giữ các giống cây thức ăn cho dê
Những chương trình đào tạo sẽ có mục đích chính là chuẩn bị các nội dung kỹ thuật sẵn có để truyền đạt tới các hộ nông dân trong và ngoài dự án liên quan thực tế tới mỗi hệ thống sản xuất nông nghiệp Những nội dung chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, phương pháp khuyến nông hiện đã ứng dụng thành công bơỉ đội ngũ cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây cho các hộ nông dân chăn nuôi dê ở các tỉnh miền Bắc sẽ được thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế tại các hộ chăn nuôi dê tại các tỉnh miền Trung Việt Nam Trong năm thứ hai, các hộ
mô hình sẽ được sử dụng như lớp học thực nghiệm để đào tạo những hộ nông dân trong và ngoài dự án, với phương châm là truyền bá thông tin về những biện pháp kỹ thuật mới càng rộng càng tốt trong suốt quá trình thực hiện dự án
Trang 7Dự án sẽ phụ thuộc vào những khả năng tiếp theo của phương tiện truyền bá thong tin tới các thôn bản, đặc biệt là một số huyện vùng sâu vùng xa thuộc tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận Sự đánh giá các hộ nông dân tham gia dự án có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện đường xá, thời tiết khí hậu, và thời gian thực hiện tất cả các hoạt động sẽ được lên kế hoạch để giảm bớt hạn chế trên Kế hoạch trợ giúp dê đực giống Bách Thảo để thay thế những con dê đực kém chất lượng giống đang sử dụng Với hệ thống phối giống liên tục thường xuyên đang tồn tại, một khả năng có thể sảy ra là trong những năm đầu tiên một số lượng ít dê cái không chửa sẽ được
sử dụng biện pháp thụ tinh nhân tạo Một khả năng khác cũng có thể sảy ra là bệnh Lở mồm long móng sảy ra có thể được ảnh hưởng kết quả của dự án Tất cả những trở ngại nói trên (và những vấn đề phát sinh khác) sẽ được đánh giá trong quá trình điều tra, chiến lược thực hiện
sẽ được sửa đổi để đáp ứng kịp thời để giảm thiểu tối đa các rủi ro khi mà những bất thường
về tự nhiên: như bệnh tật, hạn hán, lũ lụt, hoả hoạn, bão có thể ảnh hưởng đến kết quả của dự
án Có rất ít phướng thức sản xuất có thể thực hiện để loại trừ những thiên tai Sự ủng hộ và tham gia hoạt động của nông dân trong việc quản lý những con dê được chuyển giao trong chương trình thí nghiệm là cần thiết, và tất cả nông dân sẽ được hướng dẫn và được ủng hộ của chính quyền địa phương (làng xã, huyện) và sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc thực hiện những tất cả các hoạt động chiến lược theo kế hoạch
Phương pháp tiến hành Thành phần chính của dự án này là sự xác định chính xác những cơ
sở vật chất sẵn có của các hộ nông dân được lựa chọn tham gia dự án, từ những thông tin này chiến lược quản lý và biện pháp kỹ thuật can thiệp vào sản xuất sẽ được phát triển bởi các cán
bộ dự án nhằm khắc phục những tồn tại để hoàn thiện hệ thông chăn nuôi dê Do đó hoạt động đầu tiên của dự án sẽ là tiến hành điều tra ở mỗi nông hộ về hệ thống chăn nuôi dê, nguồn thông tin này sẽ sử dụng như là các số liệu cơ sở cho việc đo đạc sự thay đổi trong mỗi lĩnh vực hoạt động Nhóm cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm từ Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và Australia sẽ vạch ra những chiến lược phát triển cho mỗi nông hộ tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của họ Trong một số trường hợp, một chiến lược phát triển có thể áp dụng cho tất
cả các hộ tham gia dự án (thay thế đực, cải tiến chuồng trại, cung cấp vacxin, thuốc và hướng dẫn cách sử dụng), trong một số trường hợp khác, một chiến lược có thể chỉ được áp dụng cho một hộ nông dân (nâng cao thức ăn và các loại thức ăn bổ sung) Điều này được nhận ra rằng, kinh nghiệm truyền thống về nguồn thức ăn và các biện pháp điều trị bệnh cần được đánh giá
và kết hợp theo những chiều hướng có thể thực hiện được
5 Tiến độ thực hiện
Tiến độ được triển khai trong giai đoạn từ tháng 07 đến tháng 12 năm 2006 sẽ được trình bày những việc hoạt động triển khai nổi bật (Mục: 5.1) theo công việc được hướng dẫn tại khung hoạt động của dự án bao gồm những hạng mục kết quả được nghiệm thu theo kế hoạch thực
hiện Kết quả thứ nhất, Mốc nghiệm thu kết quả 3 liên quan tới báo cáo này được trình bày ở
bảng các sự kiện, phụ lục 1 của mục lục 2, phạm vi hoạt động của dự án CARD 009/05 VIE được liệt kê ở tham khảo khung hoạt động 3 (Kết quả 1.1, 1.2 và 1.3) và được đặt tiêu đề là
“Tình trạng chăn nuôi dê” liệt kê như trong khung chiến lược của dự án như: “Hiện trạng nông
hộ, tài chính và thu nhập, điều kiện xã hội của 27 hộ dân tham gia dự án và 30 hộ dân ngoài vùng dự án, và số liệu về cơ cấu và thực tế chăn nuôi của những hộ dân nuôi dê trong các tỉnh
triển khai dự án” Mốc nghiệm thu kết quả 4 là kết quả thứ 2 liên quan đến báo cáo này (Kết
quả trong khung hoạt động của dự án Mục 2.4, hoạt động 2.4.3) được mô tả như là “Thu thập
và đối chiếu các kết quả đạt được trong các hoạt động của dự án trong vòng 06 tháng” cho việc hoàn thiện báo cáo tiến độ 06 tháng giai đoạn này tương ứng với những danh mục hoạt động theo Mục tiêu 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Việc đệ trình và chấp nhận báo cáo hoàn chỉnh bao gồm
cả báo cáo về khảo sát tình hình chăn nuôi dê hiện tại và báo cáo tiếp nhận nguồn kinh phí là
Trang 866,442 A$, được chia làm 02 đợt vào tháng 08 năm 2006 (33,221 A$) và tháng 01 năm 2007 (33,221 A$) từ trường Đại học Queensland cho giai đoạn này
Chứng minh cho việc hoàn thành những hoạt động này sẽ được trình bày chi tiết trong bản báo cáo, các tài liệu đính kèm như các phụ lục, các đĩa CD tài liệu
5.1 Những điểm thực hiện nổi bật
Nội dung 1 Phân loại và đặc điểm của các hộ nông dân mục tiêu
Đầu ra 1.1 (thu thập những thông tin chung về sự tồn tại của các hệ thống chăn nuôi dê, các hoạt động 1.1.1 và 1.1.2) và đầu ra 1.2 (thu thập những thông tin chủ yếu từ những hộ nông dân được chọn trong năm thứ nhất, các hoạt động 1.2.1 và 1.2.2) đã được báo cáo hoàn chỉnh trong báo cáo trước, và hoạt động 1.2.3 (đối chiếu và tóm tắt số liệu điều tra) đang được hoàn thiện trong thời gian này Một hoạt động khác không được liệt kê trong phần mục tiêu nhưng
có trong sự kiện 4 đó là thu thập thông tin của 30 hộ nông dân ngoài 27 hộ được chọn tham gia vào hoạt động của dự án Hoạt động điều tra thêm này đã làm cho thời gian triển khai kéo dài hơn dự kiến và mới được hoàn thành vào tháng 12 năm 2006 Những hoạt động còn lại trong mục tiêu 1 (Kết quả 1.3) sẽ được thực hiện trong năm thứ 03 và sẽ được báo cáo lại trong thời gian sớm nhất khi có thể
Kết quả 1.2, hoạt động 1.2.3 Đối chiếu và tóm tắt số liệu điều tra: Thu thập thông tin về những hệ thống chăn nuôi dê đang được triển khai, và việc am hiểu tường tận những hệ thống này chỉ có thể biết được khi so sánh lại khả năng sản xuất đã đạt được sau khi dự án kết thúc Cuộc điều tra ban đầu cung cấp cho chúng ta một sự nhận định trước mắt về 27 hộ dân tham gia trong 07 huyện và 03 tỉnh thuộc miền Trung Việt Nam, số liệu về 27 hộ dân này vẫn đang tiếp tục thu thập với các nội dung theo dõi bao gồm tình hình bệnh tật, khả năng sinh sản, khối lượng cơ thể ở các giai đoạn tuổi hiệu quả kinh tế của chăn nuôi dê trong vùng này Cuộc điều tra đã tuân theo những biện pháp kỹ thuât đã được đề xuất, tức là bao gồm cải tiến chuồng trại, phòng và trị bệnh tật, cung cấp tốt hơn nguồn dinh dưỡng cho dê bằng cách trồng các loại cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao tại các nông hộ Đĩa CD phụ lục 1 trình bày các bảng và tóm tắt ngắn gọn các số liệu thu thập được trong 27 hộ dân tham gia dự án và 30 hộ dân ngoại dự
án Báo cáo này được trình bày như là một bằng chứng cho việc hoàn thành những công việc trong Hạng mục 3 được liệt kê ở trên Số liệu này sẽ được cô đọng và tóm tắt lại trong năm tới, kết hợp với những thông tin nắm bắt thêm trong “khả năng sản xuất của nông hộ” để tạo ra
bộ tài liệu toàn diện khi kết thúc dự án, nó sẽ bao gồm những kết quả cuối cùng của những cải tiến kỹ thuật trong sản xuất và đời sống cho người dân trong vùng
Nội dung Đào tạo và truyền bá thông tin
Kết quả 2.1 (Đào tạo cho cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây), hoạt động 2.1.1 và 2.1.2 đã được báo cáo trong bản báo cáo
06 thường niên lần thứ nhất Đầu ra 2.2 (chuẩn bị những hoạt động tham quan mô hình và nội dung kiến thức cho những hộ tham gia dự án) sẽ được hoàn thành trong 06 tháng tiếp theo trong thời gian tổ chức tập huấn cho các nông dân không tham gia trong dự án (Kết quả 2.7) Kết quả 2.3 (Tập huấn cho các nông dân than gia dự án các biện pháp ứng dụng những tiến bộ
kỹ thuật mới), hoạt động 2.3.1 và 2.3.2 sẽ được hoàn thành trong thời gian này và nó sẽ được tiến hành xong xong với các hoạt động thăm và đánh giá dự án Đĩa CD phụ lục 2 trình bày những nhận định và đề nghị cho hoạt động của mỗi nông hộ trong lần kiểm tra đầu tiên và thảo luận với nông dân và cán bộ dự án vào tháng 10 năm 2006 Hơn thế nữa tài liệu đã được phát cho một số nông dân trong buổi diễn đàn nông dân tại Đà Lạt, Lâm Đồng và có cơ hội để thảo luận sâu hơn với các cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 9Kết quả 2.4 Trình bày những báo cáo thường niên 06 tháng và nhận định tiến độ của dự án Hoạt động 2.4.1 (Hội thảo thường niên của các cộng tác viên về nhận định tiến độ của dự án
và kế hoạch trong năm, hoạt động 2.4.2 và 2.4.3) đã được hoàn thành trong giai đoạn này Phụ lục 1a và 1b trình bày những thành viên tham gia và các vấn đề thảo luận bằng tiếng Anh và tiếng Việt về Hội thảo của ban cố vấn của dự án phát triển chăn unôi dê Việt Nam – Australia (2006-2009) tổ chức tại Đà Lạt, Lâm Đồng vào ngày 25 tháng 10 ăm 2006 Cuộc Hội thảo này được tổ chức vào buổi sáng và có mời một số quan chức của sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và phía đối tác Australia Vào buổi chiều, diễn đàn nông dân đã được tổ chức và tất cảc các hộ nông dân tham gia dự án đã được mời đến để thảo luận góp ý cho mục đích và kết quả của dự án Đĩa CD phụ lục 3 báo cáo chi tiết các cuộc họp này, bao gồm tất cả những ý kiến phản hồi về tiến độ thực hiện của dự án Trong ngày này, tất cả các thành viên của hội nghị đã được tham quan mô hình chăn nuôi dê thành công của gia đình ông Lung tại xã Tà Loan, huyện Đức Trọng sau khi tiếp nhận những biện pháp kỹ thuật mới từ dự án mang lại Hoạt động 2.4.3 trong khung hoạt động của Dự án được phác thảo trình bày trong báo cáo này
Nội dung 3 Trợ cấp nguyên vật liệu cho việc sửa chữa, nâng cấp chuồng trại và chăm sóc sức khoẻ cho đàn dê
Kết quả 3.1 Nâng cầp chuồng trại chăn nuôi dê cho các hộ tham gia dự án
Hoạt động 3.1.1 và 3.1.2 đã được hoàn thiện trong giai đoạn trước, nhận định của những hoạt động này được trình bày ở đĩa CD phụ lục 2 Một số những sửa đổi chính đã được đề xuất để nâng cấp chất lượng của chuồng trại chăn nuôi dê
Kết quả 3.2 Điều trị bệnh tật và nâng cao sức khoẻ cho dê ở các hộ tham gia dự án
Hoạt động 3.2.1 và 3.2.2 đã được lên kế hoạch và hoàn thiện trong thời gian này Tại tỉnh Bình Thuận, ngoại trừ số vacxin cung cấp từ dự án, không có bất kỳ loại vaxcin nào được sử dụng bởi các nông dân chăn nuôi để phòng bệnh cho dê và nguyên nhân này đang được điều tra là tại sao chương trình vacine cho dê này đã không được triển khai Ở những vùng khác thì dê có được tiêm vacxin phòng bệnh Viêm ruột hoại tử, bệnh Đậu dê, nhưng không có vacxin Lở mồm long móng Vacxin Đậu dê được sản xuất tại Việt Nam và cũng chưa biết rõ được hiệu quả phòng bệnh như thế nào TS Norton đã yêu cầu kết quả kiểm định chất lượng cho loại vacxin này nhưng vẫn chưa có kết quả phản hồi lại Trong khi đó, bệnh Đậu dê là một bệnh sảy ra hết sức nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay và có rất ít các thông tin về dịch tễ học và điều trị loại bệnh này Việc cần thiết hơn nữa là tiếp tục thu thập các thông tin về bệnh đậu để tìm ra hướng điều trị đặc hiệu Một điều quan trọng khác cũng được nhận ra là việc sử dụng những chế phẩm của Ivermectin để điều trị bệnh nội ký sinh trùng cho dê Tuy nhiên người dân đã không quan tâm nhiều đến phương pháp điều trị này vì lý do họ phải trả tiền thuốc, hậu quả dẫn đến là đàn dê đã không được điều trị toàn đàn với Ivermentin, và đó là nguyên chính nhân dẫn đến việc bệnh ký sinh trùng hiện nay vẫn là một căn bênh lan giải sảy ra ở dê Một vấn đề cấp bách là tất cả đàn dê cần được điều trị sớm, vì lý do đó dự án chi trả tất cả những chi phí cho thuốc thú y đã được đề xuất Ở khía cạnh này cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa trong việc hạn chế các nguyên nhân làm tăng cường khả năng nhiễm bệnh do ý thức của người chăn nuôi, từ đó mới nâng cao khả năng sản xuất của chăn nuôi dê
Nội dung 4 Nâng cao số lượng và chất lượng thức ăn và các loại cây làm thức ăn cho dê
có giá trị dinh dưỡng cao
Kết quả 4.1 Cung cấp các giống cây thức ăn cho các hộ tham gia dự án để nâng cao nguồn
Trang 10thức ăn cho dê
Hoạt động 4.1.1, 4.1.2, 4.1.3, 4.1.4 đã được hoàn thành với việc thiết lập các diện tich nhỏ (0.2 ha) trồng xen cây họ đậu/cỏ hoà thảo vào tháng 6/7 năm 2006 trước khi mùa mưa bắt đầu Tuy nhiên, như đã được đề cập trong các báo cáo, ở một số hộ gia đình một số giống đã được trồng quá muộn vào mùa mưa lên cây không lên được do bị úng nước Những hộ nằm trong diện này đã được đề nghị là trồng lại nhưng phải trồng xong trước mùa mưa và cần lựa chọn những vùng đất trồng tốt hơn TS Ross Gutteridge sẽ sang thăm Việt Nam và sẽ giúp đỡ chi tiết về việc thiết lập đồng cỏ ở một số vùng có địa hình khó khăn này và hy vọng là tất cả các hộ tham gia dự án sẽ được thiết lập đồng cỏ cho dê thành công khi kết thúc mùa mưa tới (tháng
10 năm 2007)
Nội dung 5 Cung cấp dê đực giống Bách Thảo
Những hoạt động này sẽ được triển khai trong năm tới (2007) sau khi nguồn cung cấp dê Bách Thảo được xác định rõ
Nội dung 6 Xác định hiệu quả kinh tế của việc tác động những biện pháp kỹ thuật mới tới khả năng sản xuất của dê
Kết quả 6.1 Số liệu về hiệu quả kinh tế về khả năng sản xuất của dê
Hoạt động 6.1.1 đã được hoàn thành với sự thu thập số liệu về thu nhập và chi phí của mỗi nông hộ tham gia vào dự án, việc phân tích số liệu này sẽ được thực hiện vào thời gian tới Số liệu này sẽ được sử dụng để so sánh với số liệu thu thập sau khi các biện pháp kỹ thuật mới được áp dụng
5.2 Lợi ích của các nông hộ
Lợi ích của các nông hộ chăn nuôi dê ở các tỉnh miền Trung Việt Nam là rất rõ ràng Dê của
họ được cung cấp vacxin, thuốc điều trị bệnh, do đó tỷ lệ chết đã giảm rõ rệt, tăng trọng nhanh hơn, người dân có nhiều dê hơn để bán giống hay bán thịt Việc cải tạo chuồng trại cho dê từ
đó đã làm trong sạch môi trường sống cho cả người và gia súc, và nguồn phân thu gom được
có thể sử dụng để bón cho cây trồng và đồng cỏ Rất nhiều nông dân đã ngạc nhiên rằng họ đã thu được rất nhiều phân từ sau khi cải tạo chuồng trại Họ cũng được cung cấp những con dê đực khoẻ mạnh để phối giống cho đàn dê cái Người dân cũng nhận thấy việc cung cấp các giống cỏ là hết sức cần thiết vì họ nhận ra rằng dê của họ rất cần có các loại thức ăn có chất lượng trong mùa khô Trong năm tới, một số nông hộ tiêu biểu sẽ được chọn làm các mô hình,
từ đó những nông dân khác có thể học tập theo và áp dụng những biện pháp kỹ thuật mới này
để nâng cao năng suất chăn nuôi dê của các hộ
5.3 Nâng cao năng lực
Trọng điểm chính của dự án trong giai đoạn này là đào tạo cho các cán bộ dự án thuộc các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng về cách chăn nuôi dê và quản lý chăn nuôi, phương pháp tổ chức thực hiện hoạt động điều tra, các lĩnh vực chuyên môn sâu để hoạt động như là những nhà chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi dê
14 cán bộ các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tham gia vào lớp đào tạo tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây đã có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các hộ tham gia
dự án, một số cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, một số quan chức địa phương, một số cán bộ chủ tịch xã đãtham gia vào suốt quá trình hoạt động của dự án từ khi phỏng vấn đến khi áp dụng kỹ thuật mới, điều này có tác dụng trong việc tận dụng những kiến thức của