ĐỊNHHƯỚNG CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ KT-XH ĐỂ TĂNGCƯỜNG BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC, VỊ THẾ CHOPHỤ NỮ MỤC LỤCLời mở đầuI, Các khái niệm và thước đo đánh giá bình đẳng gi
Trang 12, Thước đo đánh giá mức độ bình đẳng giới
II, Mối quan hệ giữa dân số và bình đẳng giới
1, Ảnh hưởng của dân số tới bình đẳng giới
2, Ảnh hưởng của bình đẳng giới tới dân số
III, Các chính sách phát triển dân số và KT-XH để tăng cường bình đẳng giới
và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ
IV, Bài tập tình huống
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Dân số luôn là vấn đề không chỉ các nhà khoa học, các chuyên gia, mà ngay cảchính phủ, các tổ chức đều rất quan tâm Không chỉ ngày nay mà ngay cả trướckia, không chỉ nước ta mà ngay cả trên thế giới đều quan tâm Tại sao mọi nơi,mọi lúc mọi người lại quan tâm đến vấn đề dân số như vậy Bởi vì dân số luônluôn với 2 tư cách là lực lượng sản xuất vừa là lượng tiêu dùng, có ảnh hưởnglớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội
Sự tác động của các quá trình dân số tới sự phát triển kinh tế - xã hội là sâu sắctoàn diện và tất yếu Bình đẳng giới cũng không nằm ngoài sự tác động đó Sựtác động ngày càng rõ và trên nhiều khía cạnh Đổi lại thì vấn đề bình đẳng giớicũng tác động trở lại mạnh mẽ đối với dân số Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ mốiquan hệ đó và đưa ra các chính sách để tăng cường bình đẳng giới và nâng caonăng lực, vị thế cho phụ nữ thông qua bài tiểu luận này
Trong quá trình thảo luận nhóm không tránh khỏi những thiếu sót, chúng
em mong nhận được ý kiến đóng góp của cô và các bạn để tiếp tục bổ sung vàhoàn thiện bài hơn!
Trang 3I CÁC KHÁI NIỆM VÀ THƯỚC ĐO ĐÁNH GIÁ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1, CÁC KHÁI NIỆM
a Giới tính
- Là đặc trưng sinh thể của đời sống nam và nữ Những đặc trưng sinh thểcủa con người thường ít biến đổi và tuân theo quy luật tự nhiên còn nhữngđặc trưng văn hóa, xã hội thường biến đổi theo sự biến đổi của cấu trúc xãhội nhất định và tuân theo quy luật xã hội Giới tính chỉ sự khác biệt giữanam và nữ Xét về mặt y-sinh học giới tính có những đặc tính cơ bản sau
- Đặc tính cơ bản của giới tính:
+ Tính bẩm sinh: về phương diện sinh lí thì nam giới và nữ giới đã khác nhaungay từ trong bào thai Đó là đặc điểm của tự nhiên không theo mong muốn.+ Tính đồng nhất : nam giới và nữ giới trên khắp thế giới đều có cấu tạo sinh
lí học giống nhau
+ Tính không đổi: về phương diện sinh lí chức năng sinh sản của nam giới vànữa giới là không thể thay thế cho nhau
b Giới
- Chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ
trong bối cảnh xã hội cụ thể, cũng như các kì vọng của xã hội đối với nam
và nữ Giới là đặc trưng văn hóa, xã hội của nam và nữ
- Đặc tính cơ bản của giới:
+ Do xã hội tạo ra: kỳ vọng xã hội cho nam và nữ là khác nhau và gán chonam và nữ những đặc điểm khác nhau
+ Tính đa dạng: do bối cảnh xã hội khác nhau nên dẫn đến các giá trị xã hội,
kì vọng xã hội đối với nam và nữ là khác nhau nên các đặc điểm giới rất đadạng
+ Tính có thể thay đổi: bối cảnh xã hội, và do vậy các giá trị và kì vọng xã hộiđối vơi nam và nữ có thể thay đổi, nên các đặc điểm giới là có thể thay đổi
c Vai trò giới
Trang 4- Là những hoạt động khác nhau mà xã hội muốn phụ nữ và nam giới thựchiện Đó là các hành vi cụ thể, các công việc cụ thể mà xã hội trông chờ ởmỗi người với tư cách là đàn ông hay đàn bà, như vai trò sản xuất, nuôidưỡng con cái, vai trò sinh sản, vai trò nội trợ và tham gia các công việccủa cộng đồng:
+ Vai trò sản suất: bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập để tiêu dùnghoặc trao đổi Ví dụ công việc đồng áng, làm công nhân, làm thuê, buôn bán… + Vai trò tái sản suất (sinh sản, nuôi dưỡng): Bao gồm trách nhiệm sinh đẻnuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức laođộng
+ Vai trò cộng đồng: bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng đồng,nhằm phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người Ví dụ tham gia hội đồngnhân dân, họp xóm, bầu cử, làm vệ sinh đường làng ngõ xóm…
- Vai trò giới ảnh hưởng đến sự phân công lao động trong gia đình và xãhội , từ đó xác định giá trị mức độ đóng góp và vị trí của phụ nữ và namgiới trong gia đình và xã hội
d Bình đẳng giới
- Phụ nữa và nam giới có vị trí như nhau trong xã hội Bình đẳng giớikhông có nghĩa là phụ nữ và nam giới phải như nhau, mà là những sựgiống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới phải được công nhận
và đánh giá một cách bình đẳng Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ vànam giới đều có điều kiện như nhau để thực hiện các quyền của mình và
có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng thành quả của sự phát triển chính trị,kinh tế-xã hội và văn hóa của đất nước
- Bình đẳng giới được chia làm hai loại :
Bình đẳng thực tế: là sựu bình đẳng thực hiện thông qua các sự kiện thực tế
Trang 5- Có ba cách tiếp cận bình đẳng giới :
+ Bình đẳng hình thức: Phụ nữ phải được đối xử hoàn toàn giống như nam giớiNhược điểm: Cách tiếp cận này không tính đến sự khác biệt về giới và giới tính giữa phụ nữ và nam giới Tạo sức ép rất lớn đối với những phụ nữ hành động theo các tiêu chuẩn của nam giới
+ Bình đẳng có tính bảo vệ: Nhìn thấy sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới và tìm cách rút ngắn hạn chế những hoạt động hay tự do của phụ nữ
+ Bình đẳng thực chất: Công nhận sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới Tạo cơhội bình đẳng cho phụ nữ, cho họ tiếp cận một cách bình đẳng với các cơ hội này
Mục tiêu của bình đẳng giới nói chung vừa là vấn đề quyền con người vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả
2, CÁC THƯỚC ĐO ĐÁNH GIÁ BÌNH ĐẲNG GIỚI
a Chỉ số phát triển giới (Gender- related Development Index = GDI)
GDI là thước đo sự chênh lệch về các thành tựu đạt được giữa 2 giới nam và nữ
GDI = 1/3 (ITT + IGD + ITN)
Trong đó:
+ I TT là chỉ số phân bổ công bằng về tuổi thọ trung bình.
+ I GD là chỉ số phân bổ công bằng về giáo dục
+ I TN là chỉ số phân bổ công bằng về thu nhập.
Cũng như chỉ số HDI, GDI nhận giá trị từ 0 đến 1, giá tri càng tiến tới 0 thìmức độ chênh lệch giữa 2 giới càng lớn và ngược lại GDI không phải là phép
đo về bình đẳng giới mà là phép đo về phát triển con người, là kết quả điềuchỉnh chỉ số phát triển con người HDI theo hướng chỉ ra sự khác biệt giữa namgiới và nữ giới trong 3 yếu tố của HDI: tuổi thọ, kiến thức, và mức sống
b Chỉ số vai trò giới (Gender Empowerment Measure = GEM)
Trang 6GEM được dùng để đo lường sự đóng góp của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực hoạt động chính trị và kinh tế Để tính toán chỉ số vai trò giới cần có 4 nhóm chỉ tiêu sau:
Các chỉ tiêu phản ánh sự tham gia hoạt động kinh tế và quyền thông quacác quyết định quản lý trong lĩnh vực kinh tế
Tỷ lệ % phụ nữ và nam giới giữ các chức vụ hành chính và cán bộ quảnlý
Tỷ lệ % phụ nữ và nam giới chia theo nghề nghiệp và trình độ kỹ thuật
Chỉ tiêu phản ánh sự tham gia hoạt động chính trị và hoạt động chính sáchđược thể hiện qua tỷ lệ phụ nũ và nam giới trong quốc hội
Các chỉ tiêu vầ dân số và lao động
+ Tỷ lệ % dân số nam và nữ
+ Tỷ lệ nam – nữ hoạt động kinh tế
Các chỉ tiêu về thu nhập
+ GDP bình quân đầu người
+ Tỷ lệ tiền lương của nữ so với nam
Số đo sự trao quyền cho giới GEM cho thấy phụ nũ giữ vai trò tích cực trong đời sống kinh tế-xã hội của quốc gia hay không
c Chỉ số bình đẳng giới (Gender equity index = GEI)
GEI là chỉ số được xây dựng năm 2004 nhằm đo lường 1 cách chính xác mức độbình dẳng giới của một quốc gia GEI là giá trị trung bình số học của bình đẳng giới trong 3 lĩnh vực giáo dục ( trình độ biết đọc, biết viết, của nam và nữ, tỷ lệ nam và nữ được tuyển vào học ở các trường tiểu học, THCS, THPT), kinh tế (tỷ
lệ phần trăm phụ nữ có việc làm được trả lương và tỷ lên thu nhập của phụ nữ sovới nam giới) và tham chính (tỷ lệ % phụ nữ trong quốc hội và ở cấp bộ trưởng)
Trang 7II MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1, Ảnh hưởng dân số đến bình đẳng giới
a, Quy mô, tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến việc thực hiện bình đẳng giới
Bảng 1: Quy mô dân số Việt Nam qua các năm
(Nguồn: tổng cục thống kê)
Sự gia tăng quy mô dân số ảnh hưởng lớn đến thực hiện bình đẳng giới
Sự gia tăng dân số quá nhanh dẫn đến hậu quả xấu cho việc thực hiệnbình đẳng giới
Dân số nước ta trong những năm gần đây tăng khá nhanh, trung bình mỗinăm tăng thêm khoảng 1 triệu người
Tốc độ tăng dân số quá nhanh sẽ làm gia tăng thêm gánh nặng cho Nhànước về anh sinh xã hội, y tế, chăm sóc sức khỏe…=> không có điều kiệnphát triển kinh tế, ảnh hưởng đến việc đầu tư của Nhà nước cho giáo dục,đào tạo, năng cao trình độ đối với nữ giới => phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi
Trang 8trong gia đình, trên thị trường tài chính, thị trường lao động => thu nhậpthấp và có vị thế thấp hơn nam giới => bất bình đẳng giới.
Quy mô gia đình lớn, đặc biệt là gia đình nghèo, cha mẹ thường chỉ ưutiên cho chăm sóc sức khỏe và giáo dục ở nhà trường cho con trai Vì vậy,con gái thường rơi vào cảnh thất học hoặc ít học, đi làm và lấy chồngsớm, đẻ nhiều con Kết quả là, so với nam giới, phụ nữ thường có họcvấn, thu nhập thấp hơn, ít hoạt động chính trị, xã hội hơn hẳn Bất bìnhđẳng nam nữ là điều khó tránh khỏi Nhìn chung tình trạng dân số tăngnhanh ở các nước chậm và kém phát triển với mức sinh cao, đói nghèo,bệnh tật, thất học, thất nghiệp, chất lượng dân số thấp; cùng với nhữngphong tục tập quán lạc hậu về dân số và bất bình đẳng giới đã cản trởnhững nỗ lực trong kiểm soát sự biến động dân số và chất lượng dân số Ởcác nước phát triển việc kiểm soát tình trạng dân số và bình đẳng giớiđược tốt hơn do có điều kiện kinh tế; do nhận thức của người dân về vấn
đề dân số và bình đẳng giới được nâng cao hơn cùng đó là ít bị ảnh hưởngcủa phong tục tập quán lạc hậu về dân số đã thúc đẩy tiến trình bình đẳnggiới và phát triển dân số được cải thiện rõ nét so với các quốc gia, khuvực chậm và kém phát triển
b, Cơ cấu, chất lượng dân số ảnh hưởng đến thực hiện bình đẳng giới
Cơ cấu dân số của nước ta trong thời gian qua là không hớp lý cả về giới
tính và nhóm tuổi
Trang 9Bảng 2: Tỉ số giới tính của dân số và tỉ số giới tính của trẻ em mới sinh
(Nguồn: tổng cục thống kê)
- Báo cáo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho thấy, trong 5 năm trởlại đây, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam tiếp tục tăng và ngày càng lanrộng Mất cân bằng giới tính khi sinh chủ yếu là do truyền thống thừa kế củachế độ phụ hệ ở nhiều cộng đồng xã hội, trông cậy vào sự hỗ trợ tài chính củacon trai để bảo đảm an sinh khi về già cùng với nghi lễ mai táng chính là tiền
đề quan trọng trong các chuẩn mực xã hội, tạo ra sự khác biệt về giá trị giữatrẻ trai so với trẻ gái do vậy việc lựa chọn giới tính thai nhi, định kiến giới, ưathích con trai và xem thường giá trị phụ nữ đã ăn sâu trong các quan niệm vănhóa của nhiều người Đây cũng chính là gốc rễ của tình trạng mất cân bằnggiới tính khi sinh Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến thiếu hụt phụ nữ
và “dư thừa” đàn ông, đặc biệt là ở độ tuổi kết hôn Đến năm 2050, số lượngđàn ông Việt Nam ở độ tuổi trưởng thành không có khả năng kết hôn tích lũylại sẽ là 2,3-4,3 triệu người
- Xã hội sẽ như thế nào nếu có hàng triệu đàn ông không có vợ? Điều đó sẽ dẫnđến việc tan vỡ cấu trúc gia đình Việt, làm xói mòn những nền tảng giá trị đạođức Kết hôn sớm, ly hôn, độc thân, bạo hành, bất bình đẳng giới ngày càng
Trang 10gia tăng Mặc dù không thể kết hôn nhưng họ vẫn có nhu cầu tình dục và sẽlàm gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, HIV/AIDS, buôn bán phụ nữ, trẻ
em, tội phạm xuyên quốc gia…
- Ngoài ra, vấn đề an ninh trật tự, an toàn xã hội bị đe dọa Đối với những ngànhnghề vốn được xem là thích hợp với phụ nữ như giáo viên mầm non, tiểu học,
y tế, may mặc… cũng trở lên thiếu vắng nữ lao động vì những dịch vụ xã hộihay cơ hội việc làm, thu nhập sẽ dành sự ưu tiên cho nhóm dân số chiếm ưuthế là nam giới
Chất lượng dân số ảnh hưởng
Bảng 3: Kết quả và xếp hạng chỉ số HDI của Việt Nam (2015)
+ Nhìn chung chỉ số phát triển con người của Việt Nam tính đến năm 2015 vẫn
ở vị trí khá khiêm tốn (xếp hạng 116 trên thế giới) Chất lượng dân trí còn kháthấp nên việc thực hiện bình đẳng giới còn gặp nhiều khó khăn Vì chất lượngdân số cao có nghĩa là năng lực học tập, năng lực chăm sóc sức khỏe, năng lựctham gia vào các hoạt động kinh tế… cao => nhận thức về đại vị của phụ nữtrong xã hội được cải thiện, ổn định được mức sinh, chăm sóc SKSS được nângcao, cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh => bình đẳng giới được nâng cao
Trang 11c, Ảnh hưởng của phân bố dân số đến bình đẳng giới
Bảng 4: Phân bố dân cư
Các vùng kinh tế - xã hội Diện tích (%) Dân số (%)
Mật độ dânsố(người/km2)
cư thường có điều kiện phát triển kinh tế xã hội hơn những vùng thưa thớt
Do vậy phụ nữ cũng có cơ hội học tập, tìm kiếm việc làm có thu nhập cao,
có cơ hội tiếp cận thông tin về KHHGĐ nhiều hơn phụ nữ các vùng dân cưthưa thớt, kinh tế kém phát triển Chính vì vậy, địa vị của phụ nữ đượcnâng cao hơn những vùng kinh tế kém phát triển, dân cư thưa thớt
d, Ảnh hưởng mức sinh đến bình đẳng giới
- Mức sinh cao ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nhân lực của cả quốc gia
theo thời gian Phụ nữ sinh nhiều con ít có cơ hội học hành và tham giacác công việc của cộng đồng, trình độ thấp hơn nam giới
Trang 12- Khi mức sinh cao, đầu tư cho giáo dục, đào tạo, chăm sóc trẻ em tăng lên,
không có điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, và thức đẩy bìnhđẳng giới Vì vậy bất bình đẳng giới vẫn diễn ra tại các vùng kinh tế kémphát triển
Bảng 5: tổng tỷ suất sinh chia theo các vùng kinh tế (2009)
( Nguồn: tổng cục thống kê)
2, Ảnh hưởng của bình đẳng giới đến dân số
a, Bình đẳng giới với mức sinh
- Mức độ bình đẳng giới càng cao thì mức sinh càng thấp Điều này có thể giảithích bởi những nguyên nhân sau:
+ Nếu bình đẳng giới được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục thì trình độ họcvấn của người phụ nữ được nâng lên Khi phân tích quan hệ giữa dân số vàgiáo dục, chúng ta đã chứng minh rằng học vấn nâng cao thì mức sinh giảmxuống
Trang 13Bảng 6: Tổng tỷ suất sinh chia theo trình độ học vấn và thành thị/nông thôn
(2009)
( Nguồn: tổng cục thông kê)
- Phụ nữ có trình độ học vấn cao sẽ sinh ít con hơn như sau:
Thứ nhất, phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có xu hướng kết hônmuộn hơn so những người cùng giới có trình độ học vấn thấp Kết hônmuộn sẽ làm giảm thời gian sinh sản thực tế của họ so với thời gian sinhsản lý thuyết, dẫn đến khả năng họ sinh ít con hơn
Thứ hai, phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn sẽ có nhiều cơ hội việc làmhơn và khả năng thất nghiệp ít hơn, vì thế họ sẽ sinh ít con hơn để ưutiên cho công việc
Thứ ba, khả năng sống của người con có quan hệ chặt chẽ với trình độhọc vấn của người mẹ Người mẹ có trình độ học vấn cao hơn thường cókiến thức về chăm sóc sức khỏe con mình tốt hơn, làm cho khả năngsống của con cái họ cao hơn so với những người mẹ có trình độ học vấnthấp Khả năng sống của người con tăng tất yếu làm giảm nhu cầu sinh
bù của người mẹ
Cuối cùng, không kém phần quan trọng, phụ nữ có trình độ học vấn cao
sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa
Trang 14gia đình hiện đại và hiệu quả Cơ hội này đã giúp họ kiểm soát được số
con mong muốn và giảm thiểu những lần sinh con ngoài ý muốn
Bảng 7: Tổng tỷ suất sinh chia theo tình trạng hoạt động kinh tế thành thị và
nông thôn
Đơn vị tính: con/ phụ nữ
(Nguồn :tổng cục thống kê)
Các nhà nhân khẩu học khẳng định rằng: “trong mối quan hệ về tình trạng tham
gia lực lượng lao động của phụ nữ và mức sinh của họ, có tồn tại tranh luận
theo kiểu quả trứng - con gà, cái nào có trước” Khi đi làm, phụ nữ sẽ có ít thời
gian chăm sóc gia đình và con cái hơn, và điều đó khiến họ quyết định sinh ít
con và chú trọng đến chất lượng nuôi dạy con hơn
Bảng 8: Tỉ lệ phụ nữ 15-45 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo trình dộ học
vấn (2009)