Trang 2 Mục tiêu nghiên cứu được đặt ra là:- Làm rõ các giá trị tài nguyên du lịch biển của Đồ Sơn- Hải Phòng từ đó xác định nhữngthuận lợi và hạn chế của các hoạt động khai thác du lịch
Trang 1A Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập và phát triển, du lịch đã và đang được coi là ngành kinh
tế mũi nhọn, với một số quốc gia du lịch là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng trongngoại thương Tại Việt Nam, du lịch ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng củamình với sự phát triển của kinh tế Ước tính năm 2016 lượng khách du lịch quốc tế tăng26% so với năm 2015, doanh thu từ các hoạt động du lịch lên đến 400 nghìn tỷ Trong vàinăm trở lại đây, du lịch biển chiếm một vị trí khá quan trọng trong sự phát triển củangành du lịch chiếm khoảng 70% doanh thu trong ngành
Đồ Sơn là một quận thuộc thành phố Hải Phòng, hiện là một khu nghỉ mát gồmnhiều bãi biển với phong cảnh đẹp thu hút du khách Với những tài nguyên du lịch cả về
tự nhiên và nhân văn, du lịch Đồ Sơn đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong đó du lịchbiển vẫn được xem là hướng phát triển chính hiện nay Du lịch biển luôn chiếm một tỷtrọng lớn với du lịch Đồ Sơn, đóng góp nguồn thu đáng kể cho quận Đồ Sơn, tạo việclàm và nguồn thu nhập đáng kể cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng và phát triển của du lịch tại Đồ Sơn những năm quacòn vẫn còn rất chậm Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch hiện vẫn chưađược coi trọng, sản phẩm du lịch tại đây cũng chưa đặc sắc để thu hút khách du lịch Dukhách có ấn tượng thiếu thiện cảm với du lịch Đồ Sơn khá phổ biến Trong khi đó, sựvươn lên của nhiều địa danh du lịch khác: Vân Đồn, đảo Nam Du,… đã đặt Đồ Sơn trong
sự cạnh tranh gay gắt Chính vì vậy, du lịch Đồ Sơn cần phải củng cố, làm mới để có thểthu hút khách du lịch quay trở lại Đồ Sơn Việc nghiên cứu thực trạng du lịch biển tại ĐồSơn là thật sự cần thiết để có thể đưa ra cái nhìn khái quát hơn, tìm ra những điểm thiếusót, xây dựng thương hiệu cho du lịch biển Đồ Sơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 2Mục tiêu nghiên cứu được đặt ra là:
- Làm rõ các giá trị tài nguyên du lịch biển của Đồ Sơn- Hải Phòng từ đó xác định nhữngthuận lợi và hạn chế của các hoạt động khai thác du lịch tại Đồ Sơn
- Phân tích thực trạng và đề ra được giải pháp nhằm phát triển du lịch biển Đồ Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Du lịch biển Đồ Sơn
Phạm vi nghiên cứu:
-Về không gian: Biển Đồ Sơn- Hải Phòng
- Về thời gian: từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2017
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu thứ cấp qua các nguồn: giáo trình, sách, tạp chí, và cácnguồn đáng tin cậy trên internet
Nghiên cứu định lượng: Thu thập và phân tích các số liệu thứ cấp thu thập được
5 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 2 chương:Chương 1 Cơ sở lý luận về du lịch biển
Chương 2 Thực trạng và đề xuất phát triển du lịch biển Đồ Sơn
Trang 3B.Nội dung nghiên cứu Chương 1 Cơ sở lý luận về du lịch biển 1.1 Các khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã và đang trở thành một hiện tượng kinh tế, xã hội phổ biếntrên thế giới, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, do tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau,dưới nhiều góc độ mà mỗi người, tổ chức lại có một cách định nghĩa về du lịch khácnhau
Khái niệm du lịch lần đầu tiên được đề cập đến vào năm 1811: “ Du lịch là sự phốihợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí
Ở đây sự giải trí là mục đích chính” Ở đây, du lịch được hiểu một cách đơn giản nhất, đóđơn giản chỉ là một cuộc hành trình với mục đích giải trí,
Theo UNWTO (2005) : “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác vớimôi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan nghỉ ngơi, vuichơi giải trí hay các mục đích khác ngoài hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gianliên tục ít hơn 1 năm”
Tại điều 4 Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định: “Du lịch là các hoạt động cóliên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời giannhất định”
Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch,sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhucầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tha quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách
du lịch Các hoạt đông đó đem lại lợi ích kinh tế chính trị- xã hội thiết thực cho nước làm
Trang 4du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (Giáo trình kinh tế du lịch-GS.TS Nguyễn VănĐính, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa,2008).
Từ các khái niệm về du lịch trên, ta có thể đưa ra các đặc điểm của du lịch: Sự dichuyển từ nơi này đến nơi khác ngoài phạm vi cư trú thường xuyên, có thời gian lưu trútại nơi mình đến ít hơn 1 năm, không nhằm mục đích kiếm tiền
Như vậy, ta có thể thấy rằng du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồmnhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặcđiểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội
1.1.2 Điều kiện phát triển du lịch
1.1.2.1 Điều kiện để phát triển cầu du lịch.
Thứ nhất, thời gian rỗi Là khoảng thời gian con người tham gia vào các hoạt động
xã hội, hoặc nghỉ ngơi giải trí,…theo đúng ý thích của người đó Theo tiến trình tiến bộkhoa học, thời gian rỗi của con người ngày càng tăng lên Thông thường, thười gian nhànrỗi đều được con người sử dụng vào mục đích: giao tiếp xã hội, giải trí, phát triển thể lực
và phục hồi sức khỏe, đi du lịch,…Sự phân bổ thời gian rỗi hợp lý là điều kiện tiên quyết
để tổ chức hoạt động đi du lịch và nghỉ ngơi của người lao động Do vậy, muốn du lịchphát triển cần phải nghiên cứu đầy đủ cơ cấu thời gian rỗi, làm việc của các cá nhân
Thứ hai, khả năng chi trả Đây là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch
của mỗi người thành nhu cầu có khả năng thanh toán Mỗi cá nhân khi muốn đi du lịchkhông chỉ có thời gian rỗi là có thể đi mà họ cần phải đủ chi phí mới có thể thực hiệnđược chuyến đi của mình Do khi đi du lịch có thể phát sinh rất nhiều chi phí: tiền lưu trú,tiền đi lại, mua sắm,… và thông thường khi đi du lịch ai cũng thoải mái về tinh thần, chitiêu cũng sẽ rộng rãi hơn khi ở nơi cu trú thường xuyên Vì vậy, phải có khả năng thanhtoán thì con người mới có thể đưa quyết định đi du lịch
Thứ ba, trình độ dân trí Khi trình độ văn hóa của con người được nâng cao thì
đồng thời khả năng mong muốn tìm hiểu, khám phá thế giới cũng tăng lên đáng kể Từ đó
Trang 5có thể hình thành một thói quen đi du lịch Mặt khác một đất nước có trình độ dân trí cao
có thể đảm bảo cho những du khách khi đến đất nước họ được hưởng những dịch vụ tốthơn, văn minh hơn
Thứ tư, điều kiện phát triển giao thông vận tải Giao thông vận tải là tiền đề cho
sự phát triển của du lịch Nếu một điểm du lịch có đẹp có hấp dẫn đến đâu mà giao thôngđến đó không thuận tiện cho du khách thì du lịch cũng không thể phát triển được Ngàynay, giao thông trong du lịch đã và đang phát triển cả về số lượng và chất lượng đảm bảo
sự đi lại thuận tiện, thoải mái nhất cho du khách Đặc biệt với việc tăng tốc độ vậnchuyển cho du khách rút ngắn thời gian di chuyển, tăng lượng thời gian du khách ở lạiđiểm, và những nơi xa xôi tưởng trường như trước kia không thể du lịch tại đó thì nay đãthực hiện được Bên cạnh đó sự xuất hiện của nhiều hãng hàng không giá rẻ nhưVietjetAir, Jetstar Pacific,… giúp giảm chi phí đi du lịch do đó tăng lượng khách hơn
Thứ năm, Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới Bầu chính trị hòa
bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế Một đất nước bất ổn vềchính trị, xung đột về sắc tộc, tôn giáo, nội chiến xảy ra liên mien,…du lịch nước đó chắnchắn bị ảnh hưởng, số lượng du khách đến đó sẽ giảm đáng kể Không ai muốn đi du lịchtrong tình trạng lo sợ vì chính trị không ổn định có thể đe dọa tính mạng chính mình 1.1.2.2 Điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh du lịch
Thứ nhất, tình hình xu hướng phát triển kinh tế Một trong những yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch Sự phát triển của ngành du lịch có thể kéotheo sự phát triển của các ngành kinh tế khác: nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp Nhưngngành du lịch lại phụ thuộc vào các ngành kinh tế này nhiều mặt: Nông nghiệp cung cấplương thực, thực phẩm cho du khách, giao thông vận tải giúp vận chuyển du khách dễdàng, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ,…là một trong những quà lưu niệm không thểthiếu với mối du khách khi đi du lịch
Trang 6Thứ hai, tình hình chính trị và điều kiện an toàn đối với du khách Một đất nước
có đầy đủ các yếu tố đề phát triển du lịch song an ninh trật tự không ổn định: nội chiến,khủng bố,…thì không thể phát triển du lịch, du khách sẽ không chọn đất nước đó làmđiểm đến trong kì nghỉ của chính bản thân họ Du khách đi du lịch luôn mong muốn đượcthư giãn tinh thần, không ai đi du lịch để rước muộn phiền lo lắng cho chính bản thân vìvậy du khách luôn có xu hướng tránh đi du lịch ở những nơi có nền chính trị không ổnđịnh: Triều Tiên, Philippin,…
Thứ ba, điều kiện về tài nguyên du lịch Các điều kiện về tài nguyên là điều kiện
cần để phát triển du lịch Chính tài nguyên du lịch: về mặt địa hình, khí hậu, hệ động vật,phong tục tập quán, lễ hội,… là điều kiện để hấp dẫn du khách đến du lịch
Thứ tư, sự sẵn sàng phục vụ du khách Sự sẵn sàng đón tiếp thể hiện ở 3 khía cạnh
chính: Các điều kiện về tổ chức, các điều kiện về kỹ thuật và điều kiện về kinh tế
Thứ năm, một số tình hình và sự kiện đặc biệt.
1.1.3 Khái niệm và phân loại khách du lịch
Du lịch có rất nhiều định nghĩa, và đi đôi với nó là định nghĩa về khách du lịch: “Khách du lịch là bất cứ ai đến thăm một đất nước với nơi cư trú thường xuyên của mìnhtrong khoảng thời gian ít nhất là 24h” ( League of Nations Giáo trình kinh tế du lịch-GS.TS Nguyễn Văn Đính, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa,2008)
Tại điềm 2, điều 10 Luật du lịch (2005): “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặckết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, đi làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ởnơi đến”
Theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO), khách du lịch bao gồm: Khách du lịch quốc
tế , khách du lịch trong nước, khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc gia
Khách du
lịch quốc tế
Khách du lịch quốc tếđến (Inbound tourist)
Những người từ nước ngoài đến du lịchmột quốc gia
Trang 7Khách du lịch quốc tế
ra nước ngoài(Outbound tourist)
Những người đang sống trong một quốcgia đi du lịch nước ngoài
Khách du lịch trong nước(Internal tourist)
Gồm những người là công dân của mộtquốc gia và những người nước ngoàiđang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi
du lịch trong nước
Khách du lịch nội địa (Domestic
tourist) Bao gồm khách du lịch trong nước và
khách du lịch quốc tế đến Đây là thịtrường cho các cơ sở lưu trú và cácnguồn thu hút khách trong một quốcgia
Khách du lịch quốc gia (National
tourist)
Gồm khách du lịch trong nước vàkhách du lịch quốc tế ra nước ngoài
1.1.4 Các loại hình du lịch
Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giốngnhau, thỏa mãn những nhu cầu, động cơ đi du lịch tương tự nhau, được bán cho cùng mộtnhóm đối tượng nhất định…
Có nhiều tiêu chí để phân chia du lịch thành nhiều loại hình khác nhau, người tathường dựa vào một số tiêu chí để phân chia du lịch: Căn cứ phạm vi lãnh thổ, nhu cầu đi
du lịch, động cơ đi du lịch,…
Căn cứ theo mục đích chuyến đi có thể phân chia thành một số loại
Trang 8 Du lịch thuần túy:
Về mặt bản chất, loại hình du lịch này là đi du lịch để tham quan, nghỉ ngơi, giảitrí, nâng cao nhận thức thế giới xung quanh Du lịch thuần túy có thể bao gồm môt số loạihình du lịch sau: Du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch thể thao, du lịch khám phá,
Căn cứ theo tài nguyên du lịch
Theo tài nguyên du lịch có 2 loại cơ bản:
Du lịch văn hóa: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc và sự thamgia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóađịa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững
Căn cứ theo lãnh thổ hoạt động
Theo tiêu thức này, du lịch được chia làm du lịch nội địa và du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến nằm trênlãnh thổ của quốc gia khác nhau, về mặt kinh tế phải có sự thanh toán bằng ngoại
tệ Du lịch quốc tế được phân thành:
Du lịch quốc tế chủ động là loại hình du lịch quốc tế đón tiếp du khách đến
du lịch nghĩa là đất nước này chủ động đón khách và thu ngoại tệ
Trang 9 Du lịch quốc tế bị động là loại hình du lịch quốc tế đưa du khách từ trongnước đi du lịch ở nước ngoài, nghĩa là nước này gửi khách đi du lịch vàphải mất một khoản ngoại tệ.
Du lịch nội địa là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của kháchcùng nằm trong lãnh thổ một quốc gia
Ngoài dựa trên một số tiêu thức trên còn một số tiêu thức để phân chia loại hình du lịchsau:
Tiêu thức Các loại hình du lịch
Vị trí địa lý Du lịch biển
Du lịch núi
Du lịch đô thịPhương tiện
Trang 101.2 Du lịch biển
1.2.1 Khái niệm và tài nguyên du lịch biển
Du lịch biển là một loại hình du lịch, mang đầy đủ đặc điểm của du lịch, gắn vớibiển, thuận lợi cho việc tổ chức tắm biển, các hoạt động thể thao biển, … trên cơ sở khaithác tài nguyên du lịch biển: tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn
Du lịch biển được tổ chức phát triển trên lãnh thổ vùng ven biển và vùng biển ven
bờ (bao gồm cả các đảo ven bờ) vì vậy, hoạt động phát triển du lịch biển chủ yếu dựa vàođặc điểm tự nhiên, tiềm năng du lịch của lãnh thổ địa lý Du lịch biển có thể chia ra làmnhiều loại hình du lịch: Du lịch ngắm (bằng du thuyền và lặn), nghỉ dưỡng, tắm biển, vănhóa biển, khoa học biển, du lịch hang động, du lịch sinh thái gắn với khu bảo tồn, du lịchthể thao,…
Từ khái niệm về du lịch biển đảo, có thể hiểu rằng: sản phẩm du lịch biển là các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách du lịch, được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở các vùng có tiềm năng về biển, từ đó hình thành các sản phẩm du lịch mang đặc trưng và màu sắc riêng chỉ có thể hình thành và phát triển ở vùng biển nhằm hướngtới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, lặn biển, nghiên cứu… tại khu vực bờ biển, vịnh biển
Tài nguyên du lịch biển
Tài nguyên thiên nhiên: bao gồm toàn bộ giá trị vật chất có sẵn trong tự nhiên vànhững điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của con người ( đất, nước, không khí,…).Tài nguyên thiên nhiên trong du lịch biển là toàn bộ những giá trị vật chất có sẵntrong lòng biển và có liên quan đến biển có thể khai thác phục vụ du lịch: cảnhquan ven bờ biển, sinh thực vật trong lòng biển, khí hậu, vị trí của bãi biển,…
Trang 11 Tài nguyên nhân văn: bao gồm các giá trị văn hóa, lịch sử, thành tựu kinh tế xã hội
có ý nghĩa về mặt phát triển du lịch biển Hiện có đến 950/2509 di tích văn hóađược xếp hạng quốc gia ở vùng ven biển, nhiều lễ hội dân gian được diễn ra trênbiển: Lễ hội Nghinh Ông, lễ cúng cá ông,…
1.2.2 Đặc điểm của du lịch biển
Tính thời vụ trong du lịch biển
Tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại đối với cung và cầu hàng hóa vàdịch vụ xảy ra do các nhân tố nhất định Là một bộ phận của ngành du lịch, hoạt động dulịch biển chịu ảnh hưởng của tính thời vụ rõ nét Có ba nhóm nhân tố chinh gây ra tínhthời vụ trong du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng: Nhân tố mang tính tự nhiên( trong đó khí hậu là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thời vụ cảu du lịch biển, tác độngđến cả cung và cầu du lịch biển), các nhân tố mang tính kinh tế- xã hội và các nhân tố tổchức kĩ thuật
Hoạt động du lịch biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố khí hậu, mùa hè là mùacao điểm của du lịch biển bởi thời tiết nóng, vào thời gian nghỉ hè của học sinh nên cácgia đình có xu hướng cho con em đi du lịch biển Vào mùa đông, thời tiết lạnh mọi người
có xu hướng tránh xa biển, đây là mùa thấp điểm của du lịch biển
Sự đa dạng trong loại hình
Du lịch biển không chỉ đơn thuần là đi du lịch để ngắm biển, tắm biển mà còn kếthợp nhiều hoạt động khác:
Một số khu nghỉ dưỡng được xây dựng gần bãi biển, du khách vừa được ngắm hơithở của biển lại vừa được nghỉ dưỡng Hay những hành trình thám hiểm đại dương,những cuộc nghiên cứu sinh thực vật trong lòng biển của các nhà nghiên cứu,…
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng cải tạo khó
Trang 12So với những loại hình du lịch khác, du lịch biển rất khó trong việc cải tạo hạ tầng
và đòi hỏi kỹ thuật cũng như chi phí rất lớn Ví dụ như, khi nước biển bị nhiễm các chấtthải công nghiệp gây ra tình trạng ô nhiễm nước biển thì việc có thể cải tạo lại đòi hỏi chiphí rất cao và nhiều du khách có khi còn không dám đến bãi biển đó để du lịch nữa.Trong khi cùng là ô nhiễm nhưng nếu là ô nhiễm đất thì có thể cải tạo đất dễ dàng hơn:trồng cây, sử dụng phương pháp sinh học, bón phân,…và nếu điểm du lịch bị ô nhiễm đấtthì lượng du khách không đến cũng không bị giảm nhanh chóng, đột ngột như là du lịchbiển
Trang 13Chương 2 Thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch biển tại Đồ Sơn 2.1 Tiềm năng phát triển du lịch biển Đồ Sơn
Hải Phòng có đường bờ biển dài 125 Km, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cátbùn do có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cẩm, Lạch Chay, Văn Úc và sông TháiBình đổ ra biển, với bãi biển Đồ Sơn, Hòn Dáu, Cát Bà,….và các di tích lịch sử văn hóa,danh lam thắng cảnh có thể khai thác, phục vụ du lịch
Là bãi biển đẹp của Hải Phòng, Đồ Sơn có những điều kiện tự nhiên xã hội, vănhóa có thể phát triển du lịch
2.1.1 Nguồn lực cốt lõi
2.1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Thứ nhất về địa hình Đồ Sơn là một bán đảo cách trung tâm Hải Phòng 22km về
phái Đông Nam, nằm giữa 2 con sông lớn là sông Lạch Chay và sông Văn Úc, vàokhoảng 20042’ vĩ độ Bắc, 1060 45’ kinh độ Đông Là một bán đảo với đồi núi, rừng cây nốitiếp nhau vươn ra biển đến 5 km, theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, kéo dài hình 9 conrồng vươn về phía đảo Hòn Dáu Quy tụ đầy đủ các loại địa hình cơ bản: đồng bằng, núi,biển, bờ biển,… được phân bố trong một không gian lục địa- biển- đảo
Thứ hai, khí hậu Đồ Sơn nằm trong khu vực vùng biển nhiệt đới gió mùa, mang
tính chất đặc trưng của khí hậu miền Bắc, tuy nhiên do sát biển nên mùa đông khí hậu ấm
áp hơn, mùa hè mát hơn 100C so với Hà Nội Nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 20-230C,nhiệt độ nước biển trung bình 23,50C, độ ẩm trung bình trong năm là 80%-85%
Trang 14tần suấtngập úng(%)
Số giờnắng trungbình(giờ)
Bảng lượng mưa trung bình, số giờ nắng trung bình, tần suất hạn hán, ngật úng cảu Đồ
Sơn ( Nguồn Cổng thông tin điện tử Hải Phòng http://haiphong.gov.vn/).
Chế độ gió thay đổi theo mùa: mùa đông gió Đông Bắc, mùa hè gió Tây và Tây Namthường kéo theo bão và giông, mỗi năm Đồ Sơn hứng chịu trực tiếp từ 2-3 cơn bão, gián
Trang 15tiếp từ 3-4 cơn bão đổ bộ từ biển Đông Tính chất khí hậu như vậy đã ảnh hưởng trực tiếpđến du lịch, tạo nên tính mùa vụ rõ rệt của du lịch tại Đồ Sơn
Thứ ba, tài nguyên nước Đồ Sơn là tập hợp của nhiều bãi biển nhỏ, suốt chiều dài
22,5 km, được chia làm 3 khu Khu 1 là bãi biển dài, rộng nhất gồm 3 bãi tắm Dọc bờbiển là những rặng dừa, rặng phi lao, khi có gió biển thổi vào tạo nên những bản nhạcthiên nhiên du dương, trầm bổng, là điểm lý tưởng để du khách ngắm hoàng hôn và bìnhminh Khu 2 là bãi biển tốt nhất, nước biển trong xanh, cát vàng mịn, phẳng và không bịlẫn bùn Khu 2 hằng năm đều thu hút một lượng lớn du khách chính vì vậy, đây là khuvực sầm uất nhất của Đồ Sơn Trài ngược với khu 2, khu 3 lại mang một vẻ đẹp tĩnh lặng,biển khu này lại mang một nét hoang sơ
Thứ tư, tài nguyên sinh vật Hệ thống động thực vật tại Đồ Sơn cũng phong phú,
đa dạng: hệ động thực vật trên núi, hệ động thực vật trên dải cát ven bờ, hệ động thực vậttrên đất phù sa, hệ động thực vật trên biển Đặc biệt hệ động thực vật trên biển vừa có giátrị kinh tế vừa có giá trị du lịch: tôm sú, cua biển, ngao,…phục vụ nhu cầu cho du kháchđến Đồ Sơn du lịch Ngoài ra, ở Đồ Sơn có nhiều cây mọc hoang trong đó có nhiều câythuốc, các loại quý như dừa cạn hoa đỏ, trắng Các cây được người Pháp mang sang nhưmăng tây, đậu Hà Lan, thông nhựa,…đều sinh trưởng tốt Một số loại thuốc quý như địahoàng, bạch chỉ, dương quy, xuyên thung, cũng được trồng tại Đồ Sơn và cho năng suấtkhá cao
2.1.1.2 Tài nguyên nhân văn
Khu du lịch Đồ Sơn không chỉ nổi tiếng với những bãi biển mà còn mang trongmình nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh mà ít người biết đến như các di tích lịch
sử, hệ thống đình, chùa, miếu cũng vô cùng phong phú
Về di tích văn hóa lịch sử
Có vị trí giáp biển, Đồ Sơn đã chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, văn hóa xãhội dân tộc và để lại nhiều dấu ấn quan trọng qua số lượng các di tích văn hóa, lịch sử, lễ
Trang 16hội và nó đã trở thành nguồn tài nguyên nhân văn có giá trị lớn cho phát triển du lịch tại
Đồ Sơn
Nổi bật như, Tháp Tường Long, được xây dựng thời Lý Thành Tông, là một tháp rỗng, là một trong số tài sản ít ỏi của vương triều Lý để lại, tháp Tường Long như dấu tích lịch sử vàng son, vừa là di tích lịch sử, vừa tiêu biểu cho lịch sử nghệ thuật tạo hình của dân tộc vừa ẩn chứa nhiều huyền thoại Di tích Bến tàu không số K15 – điểm xuất phát của con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại và tượng đài “Di tích đường Hồ Chí Minh trên biển” ở thung lũng Xanh dưới chân đồi Nghinh Phong Ngoài ra, Đồ Sơn còn có hệ thống đình, chùa, đền khá phong phú: chùa Hang, đền thờ Nam Hải Thần Vương, chùa Thiên Phúc, đền Bà Đế, suối Rồng đình Ngọc, đền Trần,…
Lễ hội
Đồ Sơn được biết đến là một trong những quận, huyện có nhiều lễ hội nhất HảiPhòng, phải kể đến như, lễ hội chọi trâu, lễ hội đền Bà Đế, lễ hội Hòn Dáu, lễ hội đuathuyền rồng Nay đã trở thành giá trị vô giá phục vụ du lịch Đồ Sơn, đặc biệt là lễ hộichọi Trâu hàng năm thu hút hàng vạn du khách về xem
Từ Bến Nghiêng, có thể ngắm toàn cảnh đảo Hòn Dáu
Miếu Cụ Ngôi miếu thờ Nam Hải Thần Vương, Ðền nằm sát bờ biển, núp
Trang 17trên đảo Dáu dưới những tán đa cổ thụ.
của chúa Trịnh Giang
Đền có cấu trúc đơn giản, nép vào lưng núi, trước mặt là biển.Chùa Hang Thuộc phường Vạn Sơn, Chùa Hang là chùa thiên tạo lớn của
Đồ Sơn, theo truyền ngôn có từ trước công nguyên Nhà sư Bầntheo thuyền đi truyền bá đạo Phật đã đến cư trú tại hang và mởchùa Dân Đồ Sơn vẫn truyền rằng sư Bần còn dựng chùa Bầntrên núi Mẫu Sơn, sau người viên tịch ở chùa Hang
Đền Nghè Thuộc phường Vạn Hương, là nơi thờ Điểm Tước Thần Vương,
vị thần trong tưởng tượng của nhân dân liên quan đến tục chọitrâu của Đồ Sơn
Nằm ở chân núi Hoành Sơn, còn được gọi là Hoành Sơn Linh
Từ, là nơi thờ Quan Hoàng Bơ và Tiên Bằng Công Chúa phối
Trang 18thờ Tướng Quân Nguyễn Hữu Cầu thời Vua Lê Trung Hưng.
Diễn ra vào tháng 4, 5 dương lịch
Bảng liệt kê các di tích, lễ hội tại Đồ Sơn
2.1.2 Nguồn lực hỗ trợ
Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới đường sá, phương tiện giao thông ở Đồ Sơn khá đầy đủ và đang đượcđầu tư mạnh mẽ so với nhiều địa phương của tỉnh Hải Phòng, cũng như các xã nông thônkhác trong cả nước Nằm trên trục đường 353, con đường huyết mạch nối Đồ Sơn vớitrung tâm nội thành Hải Phòng, chiều rộng lên tới 43m, với 6 làn xe gồm 4 làn xe cơ giới
và 2 làn xe thô sơ, phục vụ cho việc đi lại của người dân đến với khu du lịch Đồ Sơn Đặcbiệt với việc mở sân bay Cát Bi đã phần nào tạo điều kiện để du khách quốc tế đến với
Đồ Sơn Hệ thống đường thủy cũng đang được khai thác và nâng cấp với tuyến chủ yếu
là Bến Nghiêng- Đảo Dáu Mạng lưới điện cũng được nâng cấp nhằm đáp ứng đủ điệncho các khách sạn, resort tại Đồ Sơn, phục vụ cho du khách Hệ thống cấp thoát nước,cũng đã được chú trọng, tuy nhiên hệ thống thoát nước tại khu du lịch vẫn chưa có hệthống riêng và chưa có khu xử lý nước thải tập trung, tình trạng xả thải từ khu nghỉdưỡng, resort vẫn chưa được làm triệt để, còn nhiều bất cập: Lượng nước thải mỗi ngày
xả hàng nghìn m3 - lại chưa có hệ thống xử lý nước thải Toàn bộ nguồn nước thải ở khu