Cơ sở thực tiễnBằng kinh nghiệm giảng dạy thực tế của mình, khi dạy dạng tốn nhiềuhơn, ít hơn cho học sinh lớp 2, tơi thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:*Thuận lợi:- Chương trình dạ
Trang 1Nội dung Trang
I PHẦN MỞ ĐẦU
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
4 Các biện pháp thực hiện
4.1 Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc bản chất của dạng
toán bằng nhiều cách
6 - 10
4.2 Biện pháp 2: giúp học sinh tính nhanh và cẩn thận hơn 10 - 11
III HIỆU QUẢ VÀ ỨNG DỤNG CỦA BIỆN PHÁP.
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn tên biện pháp
Theo Chương trình GDPT 2018, dạng toán nhiều hơn, ít hơn ở lớp 2 là mảng kiến thức mang tính thực tiễn cao, giúp học sinh nhận biết và so sánh số lượng của sự vật trong cuộc sống Để dạy tốt dạng toán này, mỗi giáo viên đều cần suy nghĩ và tìm ra phương pháp mới phù hợp đối với mỗi dạng bài tập Học sinh ở mỗi lớp chất lượng thường không đồng đều, mức độ nhận thức khác nhau Chính vì thế người giáo viên lại càng phải tìm ra nhiều phương pháp dạy toán để giúp học sinh học tập hiệu quả dạng toán này Từ lí do đó, tôi mạnh dạn
đưa ra một số giải pháp “Rèn luyện kỹ năng giải toán dạng bài nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2”
2 Mục đích nghiên cứu
- Giúp học sinh có kỹ năng giải toán dạng nhiều hơn, ít hơn nắm chắc
được bản chất của bài từ đó giúp học sinh giải toán đúng hơn, tốt hơn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Rèn luyện kĩ năng giải toán dạng bài nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2
- Phạm vi: Học sinh lớp 2B trường tôi đang công tác
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu và sách tham khảo có liên quan và phục vụ cho việc nghiên cứu
- Phương pháp thống kê phân loại: Phân tích hệ thống hóa tài liệu thu thập được
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Tổ chức khảo sát nắm chất lượng, đối chiếu so sánh kết quả
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức dạy thực nghiệm
- Phương pháp rút kinh nghiệm
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lí luận
Trang 3Toán lớp 2 là một bộ phận của chương trình Toán Tiểu học và là sự tiếp tục của chương trình toán lớp 1 Chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy học Toán lớp 2, thực hiện những đổi mới về cấu trúc nội dung
để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới
Trong các dạng toán có lời văn nói chung ở lớp 2 thì dạng toán nhiều hơn,
ít hơn nói riêng, tương đối khó đối với HS Việc giúp các em phân tích, nắm vững bản chất của bài toán, tìm ra mối liên hệ giữa các dữ kiện trong bài để
từ đó tìm ra cách giải sẽ rèn cho HS các thao tác tư duy: phân tích - tổng hợp, so sánh, suy luận - khái quát Điều này sẽ phát triển tư duy cho các em, giúp các em
không chỉ học tốt môn Toán mà còn học tốt các môn học khác Đó cũng là nền tảng để các em học tốt bậc học trên
2 Cơ sở thực tiễn
Bằng kinh nghiệm giảng dạy thực tế của mình, khi dạy dạng toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2, tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
*Thuận lợi:
- Chương trình dạy học Toán lớp 2 theo chương trình mới đã tinh giản các nội dung lí thuyết, tăng cường luyện tập và thực hành, mức độ của bài tập và bài học phù hợp với chuẩn kiến thức và kĩ năng của môn học Nội dung các bài toán phong phú, đa dạng gần gũi thực tế đời sống của học sinh
- Phương tiện dạy học hiện đại và đầy đủ
- 100% học sinh học 2 buổi/ ngày
*Khó khăn:
- HS lúng túng, lẫn lộn khi giải các bài toán có nội dung nhiều hơn, ít hơn
- Học sinh nắm được cách giải bài toán về nhiều hơn, ít hơn theo mẫu có sẵn một cách rập khuôn, máy móc (bài toán có chữ nhiều hơn làm tính cộng, ít hơn làm tính trừ)
- Nhiều em khi giải xong rồi, dù thừa thời gian nhưng không có thói quen kiểm tra lại bài giải
3 Nguyên nhân
Trang 4- Do các em chưa có thói quen tóm tắt bài toán để xác định dạng toán cũng như kĩ năng phân tích lôgic của các em chưa thành thạo
- Do các em chưa nắm chắc bản chất bài toán
- Do các em chưa có thói quen cẩn thận sau khi làm xong bài
* Biểu hiện trong quá trình học sinh làm bài:
HS: Thùy Dương viết sai câu trả lời - > Do chưa nắm được nội dung của bài
toán và chưa chú ý đến câu hỏi của bài toán
HS: Ngọc Lan nêu được phép tính đúng nhưng cộng sai -> Do chưa cẩn thận
Cụ thể trước khi áp dụng biện pháp:
Trang 5Kỹ năng Số lượng Tỉ lệ
Học sinh chưa hiểu bản chất còn sai lời giải,
4 Các biện pháp thực hiện
4.1 Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc bản chất của dạng toán bằng nhiều cách.
*Bước 1: Hướng dẫn các em đọc và tìm hiểu đề toán
- Đọc và tìm hiểu đề toán (có thể đọc nhiều lần)
- Gạch chân các từ khóa quan trọng, các số liệu hoặc cụm từ “ít hơn”,
“nhiều hơn” đề các em dễ cô đọng yêu cầu
- Suy nghĩ và phân biệt được cái gì đã biết và cái gì phải tìm
*Bước 2: Giúp học sinh tóm tắt được đề toán
Việc tóm tắt đề toán mặc dù không bắt buộc nhưng nó lại rất quan trọng đối với các em Tóm tắt đề toán là lược bớt câu chữ, để đề toán trở nên ngắn gọn, qua đó học sinh dễ nhận thấy số đã cho và số phải tìm Khi đã tóm tắt được
đề toán cũng là lúc học sinh đã hiểu bài một cách kĩ lưỡng, biết được bản chất
Khi hướng dẫn học sinh toám tắt bài toán tôi thường hướng dẫn học sinh bằng nhiều cách tóm tắt:
+) Cách 1: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng
Với bài toán về nhiều hơn, ít hơn thì phải xem cái gì so sánh với cái gì, cái được so sánh nhiều hơn hay ít hơn cái so sánh Phân biệt rõ cho học sinh phát hiện cụm từ cần lưu ý trong bài toán và gạch chân luôn dưới từ cần lưu ý
Ví dụ 1:
Hà năm nay 9 tuổi, Hà ít hơn Na 5 tuổi Hỏi Na năm nay bao nhiêu tuổi?
Hà năm nay 9 tuổi, Na ít hơn Hà 5 tuổi Hỏi Na năm nay bao nhiêu tuổi?
Hà năm nay 9 tuổi, Hà nhiều hơn Na 3 tuổi Hỏi Na bao nhiêu tuổi?
Hà năm nay 9 tuổi, Na nhiều hơn Hà 3 tuổi Hỏi Na bao nhiêu tuổi?
Ví dụ 2:
- Đọc bài toán:
Trang 6Hàng trên có 6 con chim, hàng dưới có 4 con chim Hỏi hàng trên hơn
hàng dưới bao nhiêu con? (bài 1 trang 16 Toán 2 tập 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
?
Hàng trên: | -| -| 6 con chim
Hàng dưới: | -| 4 con chim
- Khi này cho học sinh nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng nêu lại bài toán Như vậy học sinh sẽ nắm được bài toán cho biết gì và bài toán hỏi gì Qua đó giúp học sinh nắm được nội dung của đề bài và xác định được dạng toán gì
+) Cách 2: Tóm tắt bằng hình tượng trưng
* Với các bài toán mới hình thành:
Ví dụ 1:
- Đọc bài toán
(bài 1 trang 16 Toán 2 tập 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
Tiếp tục với đề bài toán ở tóm tắt sơ đồ đoạn thẳng thì học sinh sẽ tư duy được sang tóm tắt bằng hình ảnh tượng trưng như hình vẽ trên nhằm giúp học sinh sáng tạo và làm cho học sinh có sự tò mò về các dạng tóm tắt khác nhau về
1 bài toán Nhìn vào tóm tắt bằng hình tượng trưng trên học sinh nêu được bài toán cụ thể và biết được bài toán cho biết gì và bài toán hỏi gì Từ đó học sinh sẽ biết được bài toán thuộc dạng toán gì
* Bước 3: Học sinh giải toán.
Trang 7Khi các em đã làm tốt bước 1 và bước 2 thì khi thức hiện bước 3 tôi tiến hành cho các em giải toán Tôi hướng dẫn các em trình bày bài làm sao cho chính xác và khoa học
- Khi viết câu lời giải, tôi khuyến khích các em trả lời bằng nhiều cách khác nhau và trình bày sao cho câu lời giải cân đối với vở
VD: Hàng trên có 6 con chim, hàng dưới có 4 con chim Hỏi hàng trên
hơn hàng dưới bao nhiêu con chim?
Với câu hỏi trên, các em có thể có các câu trả lời khác nhau như:
Cách 1: Hàng trên hơn hàng dưới số con chim là:
Cách 2: Số con chim hàng trên hơn số con chim hàng dưới là:
- Khi viết phép tính, để kết quả của phép tính đúng tôi yêu cầu các em dựa vào dạng toán đã xác định ở bước 2 để lựa chọn phép tính (cộng, trừ) sao cho chính xác Sau đó, thực hiện tính trước ra nháp để tìm kết quả rồi mới viết vào vở
Qua biện pháp này tôi thấy các em đã nắm được bản chất của bài toán và xác định rất chính xác dạng toán Từ đó phát triển năng lực tính toán, tự chủ và
tự học và giải quyết vấn đề sáng tạo
Biểu hiện qua các bài làm của học sinh
Trang 84.2 Biện pháp 2: Giúp học sinh tính nhanh và cẩn thận hơn
- Áp dụng 4 bước giải bài toán khi làm các bài tập để học sinh hình thành thói quen trình bày một cách khoa học, rõ ràng và cẩn thận
+ Bước 1: Đọc và hiểu đề toán + Bước 2: Tóm tắt đề toán + Bước 3: Tìm cách giải và trình bày cách giải
+ Bước 4: Thử lại đáp số
- Khi thực hiện phép tính tôi hướng dẫn học sinh nắm chắc cách thực hiện tính và tính nhẩm ra nháp trước khi viết vào bài làm
- Đối với học sinh chậm, nhận thức còn hạn chế thì việc tính nhẩm rất khó khăn với các em, lúc này tôi cùng phụ huynh kết hợp để giúp các em ôn tập kĩ các bảng cộng, bảng trừ hằng ngày để các em dần ghi nhớ Ngoài ra tôi cũng hướng dẫn các em cách đếm hoặc sử dụng que tính để giúp các em đưa ra kết quả Bên cạnh đó tôi tổ chức các “cặp đôi cùng tiến” để giúp đỡ lẫn nhau trong học tập
- Khi các em làm bài xong tôi luôn cho học sinh tự kiểm tra lại bài của mình bằng cách đọc lại đề và đọc lại bài làm của mình và kiểm tra cho nhau từ
Trang 9đó các em phát hiện ra lỗi sai của mình và các bạn để tự sửa bài Khi học sinh làm tốt tôi luôn khen ngợi các em trước lớp để các bạn khác học tập
Khi áp dụng biện pháp này tôi thấy bài làm của các em đã trình bày cẩn thận hơn, kết quả bài toán chính xác hơn và rất ít em bị sai Từ đó phát triển năng lực tính toán và năng lực giao tiếp toán học Đồng thời phát triển chẩm chất chăm chỉ, nhân ái
III HIỆU QUẢ VÀ ỨNG DỤNG CỦA BIỆN PHÁP.
1 Hiệu quả của biện pháp
Sau khi áp dụng các biện pháp trên tôi thấy:
- Các em đã có sự tư duy lôgic hơn, sáng tạo hơn, biết phân tích để thể hiện dữ liệu bài toán
- Các em nắm được bản chất bài toán, phân biệt được các dạng toán
- Các em có nhiều lời giải hay, trình bày rõ ràng, cẩn thận và chính xác
- Các em ghi nhớ kiến thức tốt hơn nên dễ dàng hoàn thành các bài tập một cách dễ dàng mà không cần hướng dẫn
- Giờ học toán trở nên sôi nổi hào hứng đối với mỗi học sinh
Dưới đây là bảng so sánh hiệu quả giải toán dạng nhiều hơn, ít hơn trước
và sau khi áp dụng biện pháp:
Kỹ năng
Trước khi áp dụng biện pháp
Sau khi áp dụng biện pháp
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
Học sinh chưa hiểu bản chất
còn sai lời giải, phép tính, danh
số
Học sinh hiểu bài
Một số bài làm của học sinh sau khi nắm chắc được bản chất dạng toán nhiều hơn, ít hơn
Trang 102 Ứng dụng của biện pháp
Từ kết quả thu được sau khi áp dụng biện pháp trên, tôi thấy biện pháp này có thể áp dụng với tất cả các lớp trong khối 2 trường tôi đang công tác và các trường tiểu học khác
IV KẾT LUẬN
Như đã trình bày ở trên, các bài toán dạng nhiều hơn, ít hơn là một dạng toán rất lí thú và lôi cuốn đối với học sinh Song, ở lứa tuổi này các em còn nhỏ, trí nhớ còn chưa bền Vì vậy, để giúp các em có được kĩ năng thực hành, vận
Trang 11dụng tính một cách thuần thục không phải là dễ cần có một đam mê học toán và không thể nóng vội làm trong ngày một, ngày hai mà đó phải là cả một quá trình rèn luyện của cả học sinh kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên dạy sự phối hợp của gia đình
+ Qua thực tế dạy học, tôi nhận thấy rằng để giúp cho học sinh lớp 2 có được kĩ năng làm dạng toán nhiều hơn, ít hơn thì trước hết giáo viên cần thực hiện một số việc sau:
- Giáo viên phải là người làm chủ được bài dạy, nắm được cách làm của từng dạng bài nhiều hơn, ít hơn, có như vậy khi truyền thụ cho học sinh mới hệ thống kiến thức một cách chặt chẽ
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, mức độ tiếp thu của từng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học các dạng bài nhiều hơn, ít hơn cơ bản và nâng cao phù hợp
- Khi phân tích ví dụ trong thực tiễn, cần hướng dẫn các em nắm chắc về bản chất tránh tình trạng học vẹt, nhớ một cách máy móc
- Sắp xếp bài tập theo từng dạng bài nhiều hơn, ít hơn với mức độ nâng cao dần để giúp các em đi từng bước từ dễ đến khó Sau mỗi bài cần củng cố kiến thức, để học sinh ghi nhớ dạng bài và cách giải của từng dạng
- Thường xuyên ra các đề kiểm tra khảo sát nhanh bài tập nhiều hơn, ít hơn để nhận được thông tin phản hồi từ học sinh, để có sự điều chỉnh cách dạy cho phù hợp
Tôi xin chân thành cảm ơn!