1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

223 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về kế toán quản trị
Tác giả PGS.TS.Trương Bá Thanh, Th.S.Lê Văn Nam, TS.Trần Đình Khôi Nguyên
Người hướng dẫn PGS.TS.Trương Bá Thanh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2004
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế toán quản trị trong doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin, được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Trong chương này, để nghiên cứu những vấn đề tổng quan chúng ta bắt đầu từ việc xem xét bản chất của kế toán quản trị, qua đó nghiên cứu chức năng và vai trò cũng như đối tượng và phương pháp của kế toán quản trị.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Kế toán quản trị có bề dày phát triển ở các nước theo nền kinh tế thị trường, nhưng đây là một lĩnh vực còn tương đối mới, bắt đầu được chú trọng từ khi Việt Nam chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khía cạnh pháp lý của kế toán quản trị chỉ được chính thức thừa nhận trong Luật Kế toán có hiệu lực từ năm 2004 Do vậy, nghiên cứu bản chất, nội dung và vận dụng kế toán quản trị trong điều kiện ở Việt nam là rất cần thiết để có thể triển khai công tác kế toán quản trị trong các tổ chức.

Giáo trình này được biên soạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu kế toán quản trị ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đồng thời có kết hợp với những qui định trong thông tư hướng dẫn kế toán quản trị ở Việt Nam Giáo trình được sử dụng cho sinh viên chuyên ngành kế toán và quản trị kinh doanh của Trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng Kết cấu của giáo trình bao gồm bảy chương Ngoài những phần có tính chất giới thiệu tổng quát về kế toán quản trị; các chương còn lại được thiết kế theo quá trình của hoạt động quản lý: từ công tác hoạch định đến tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định

Chương 1 – Tổng quan về kế toán quản trị, do PGS.TS.Trương Bá Thanh biên soạn

Chương 2 – Chi phí và phân loại chi ph ê, do Th.S Lê Văn Nam biên soạn

Chương 3 – Tính giá thành trong doanh nghiệp, do TS.Trần Đình Khôi Nguyên biên soạn

Chương 4 – Dự toán tổng thể doanh nghiệp, do PGS.TS Trương Bá Thanh biên soạn

Chương 5 – Kiểm soát doanh thu và chi phí, do PGS.TS.Trương Bá Thanh biên soạn

Chương 6 – Phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận, do TS.Trần Đình Khôi Nguyên biên soạn

Chương 7 – Thông tin kế toán và việc ra quyết định, do Th.S Lê Văn Nam biên soạn

Mặc dù có rất nhiều cố gắng trong biên soạn nhưng đây là một lĩnh vực còn rất mới mẻ nên giáo trình không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý bạn đọc gần xa Ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ:

71 Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế Đà nẵng

Email : khoa ketoan@due.edu.vn

Thay mặt các tác giả Chủ biên

PGS.TS Trương Bá Thanh

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Kế toán quản trị trong doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin, được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Trong chương này, để nghiên cứu những vấn đề tổng quan chúng ta bắt đầu từ việc xem xét bản chất của kế toán quản trị, qua đó nghiên cứu chức năng và vai trò cũng như đối tượng và phương pháp của kế toán quản trị

1 BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Việc nghiên cứu kế toán quản trị được xem xét từ quan điểm về hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp Nghiên cứu các thông tin cung cấp cho việc ra quyết định trong nội bộ doanh nghiệp cho phép làm rõ được chức năng, vai trò của kế toán quản trị nhằm thể hiện bản chất của kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.1 Kế toán - Hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp

Hệ thống là một tổng thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có khả năng thực hiện một số chức năng hoặc mục tiêu nhất định Với ý nghĩa đó, doanh nghiệp là một hệ thống nếu xem xét theo chức năng hoạt động

Nó bao gồm: hệ thống quyết định, hệ thống tác nghiệp và hệ thống thông tin, trong đó hệ thống thông tin thực hiện mối liên hệ giữa hệ thống tác nghiệp và hệ thống quyết định, đảm bảo chúng vận hành một cách thuận tiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra Bên cạnh đó hệ thống thông tin của doanh nghiệp còn có chức năng thu thập và trao đổi thông tin nội bộ với môi trường bên ngoài

Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp được phân thành các phân hệ thông tin theo từng lĩnh vực, từng chức năng quản lý, nhằm cung cấp thông tin trợ giúp cho quá trình ra quyết định ở mỗi lĩnh vực, mỗi bộ phận Trong một doanh nghiệp, hệ thống thông tin thường được tổ chức thành các hệ thống con sau đây:

• Hệ thống thông tin thị trường

• Hệ thống thông tin sản xuất

• Hệ thống thông tin tài chính

• Hệ thống thông tin nhân sự

• Hệ thống thông tin kế toán

Các hệ thống con này không hoàn toàn độc lập với nhau, mà thường hỗ trợ và chia xẻ thông tin với nhau, và cũng chia xẻ các nguồn lực chủ yếu của hệ thống Đặc biệt, các hệ thống thông tin con ở trên đều có mối quan hệ qua lại với hệ thống thông tin

kế toán Các hệ thống thông tin đều phải huy động và sử dụng nhiều loại tài sản khác

Trang 3

nhau trong quá trình hoạt động của mình Trong khi kế toán là quá trình theo dõi, thu thập, xử lý nhằm cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động của toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp; các hệ thống thông tin ở trên sẽ tham gia cung cấp dữ liệu đầu vào cho hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán có trách nhiệm xử lý thành các thông tin phục vụ cho công tác quản lý Ngoài ra các thông tin môi trường từ bên ngoài cũng có một vai trò rất quan trọng trong quản lý doanh nghiệp

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

1.2 Kế toán quản trị - hệ thống con của hệ thống kế toán

Trong phần này, trên cơ sở của các giải thích chung đối với hệ thống thông tin kế toán của doanh nghiệp, chúng ta sẽ định vị thông tin kế toán và các thành phần của nó, qua đó làm rõ các khái niệm liên quan

Trong khung cảnh nghiên cứu ở trên, kế toán chỉ là một trong số nhiều hệ thống thông tin khác nhạu Nhưng hệ thống thông tin như là hệ thống kế toán không chỉ cung cấp hình ảnh của doanh nghiệp cho bên ngoài mà còn phải được sử dụng như một công

cụ quản trị nội bộ Hoạt động đầu tiên khi nghiên cứu một hệ thống thông tin là việc nắm giữ thu thập thông tin Trong quá trình này, thông tin phải được cấu trúc và đưa vào trong các cơ sở dữ liệu để tiếp tục xử lý Nó được sử dụng để thành lập các bảng báo cáo theo các yêu cầu quản lý và được hình thành từ các phương pháp khác nhau Trong mọi trường hợp, phải phân biệt báo cáo bên ngoài và báo cáo nội bộ vì chỉ như vậy các thông tin kế toán mới có thể được sử dụng hiệu quả Tính tất yếu trong việc quản lý công khai

và bí mật của các loại báo cáo này hình thành nên hai loại kế toán: đó là kế toán tài chính và kế toán quản trị

Hệ thốn

g quyế

t định

Thông tin bên ngoài

Các

nguồn

lực

Hệ thốn

g thôn

g tin

Hệ thống tác nghiệ

p

Sản phẩm, dịch vụ

Trang 4

Kế toán tài chính (Financial Accounting) là bộ phận kế toán cung cấp thông tin

chủ yếu cho những người ngoài doanh nghiệp, bao gồm người chủ sở hữu, ngân hàng, nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng và tất cả những ai quan tâm đến doanh nghiệp Những người này tiếp nhận thông tin qua các báo cáo tài chính, như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Mục tiêu của các báo cáo tài chính là cung cấp cho người ngoài doanh nghiệp bức tranh tổng thể về tài chính của doanh nghiệp Qua đó, người ngoài doanh nghiệp có thể

ra các quyết định liên quan đến việc đầu tư và trợ cấp tài chính Như vậy, kế toán tài chính với việc cung cấp các báo cáo tài chính cho người bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế và quản lý vĩ mô của nhà nước Thông tin từ các báo cáo tài chính là công khai và làm nền tảng để mọi cá nhân, tổ chức có thể ra quyết định trong một môi trường kinh doanh thuận lợi

Kế toán quản trị (Management Accounting) là bộ phận kế toán cung cấp thông

tin cho những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ Khái

niệm về Kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “là quá trình định dạng,

đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính

và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản

và quản lý chặt chẽ các tài sản này” Những ngưòi bên trong doanh nghiệp rất đa dạng,

gọi chung là các nhà quản lý, nhưng nhu cầu thông tin của họ phản ánh một mục đích chung là phục vụ quá trình ra quyết định nhằm tối đa hóa lợi nhuận Do nhu cầu thông tin nội bộ rất đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp nên các báo cáo nội bộ do kế toán quản trị cung cấp không mang tính tiêu chuẩn như báo cáo tài chính Kế toán quản trị đặt trọng tâm giải quyết các vấn đề quản trị của doanh nghiệp Vì vậy, kế toán quản trị phải thiết kế các thông tin kế toán sao cho nhà quản trị có thể dùng vào việc thực hiện các chức năng quản trị

Thoạt nhìn, kế toán quản trị có mục đích bổ sung cho kế toán tài chính, đây chỉ là hai hệ thống con của một hệ thống kế toán, cả hai nhằm mục đích mô hình hoá thông tin kinh tế của doanh nghiệp Tuy nhiên chính nhu cầu bí mật các thông tin nội bộ đối với người cạnh tranh và công khai các thông tin bên ngoài cho nhà tài trợ là động cơ chủ yếu hình thành hai hệ thống con này Nói một cách khác chính cạnh tranh làm xuất hiện

kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Như vậy, kế toán tài chính nhằm cung cấp thông tin công khai cho nhiều đối tượng có quan tâm đến lợi ích doanh nghiệp, trong khi đó kế toán quản trị nhằm tạo các thông tin phục vụ người làm công việc quản trị nội bộ

Dưới góc độ công tác kế toán thì kế toán tài chính được xem như để xử lý và dàn xếp các mối quan hệ gữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, nó được lượng hoá

Trang 5

bằng tiền cũng như những dòng tiền tệ, dòng vật chất được hình thành giữa doanh nghiệp với các đơn vị bên ngoài như nhà đầu tư, khách hàng, nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ Như thế, việc tập hợp các thông tin trên thông qua Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh…cho thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ hệ thống hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

Thường người ta giải thích kế toán tài chính nhằm cung cấp những thông tin đã xảy ra cho người sử dụng bên ngoài của doanh nghiệp, như: các nhà quản lý, các chủ sở hữu, nhà cung cấp cũng như người cho vay Như vậy, đối lập với kế toán tài chính, kế toán quản trị là kế toán quan tâm đến người sử dụng bên trong của doanh nghiệp Nhiều tác giả nhấn mạnh sự đối nghịch này bằng cách nhấn mạnh trạng thái đã xảy ra của kế toán tài chính trong khi kế toán quản trị hướng đến việc ra quyết định, có nghĩa là kế toán quản trị sẽ hướng đến tương lai của doanh nghiệp

Nếu xem xét hệ thống kế toán như một hộp đen thì người sử dụng thông tin kế toán tài chính có thể không quan tâm đến cái gì đã xảy ra bên trong mà chỉ cần kiểm tra

Thông tin Thu thập

Xử lý thông tin

Ngân hàng dữ liệu đầu ra "thông tin"

Thông tin phát triển kinh tế

Thông tin cạnh tranh

Thông tin marketing

Thông tin số lượng sản xuất

Đầu ra trên thị trường

Đầu ra của cá nhân

Thông tin liên quan tài chính

Kế toán tài chính

Bảng cân đối kế toán

Báo cáo kết quả hoạt

Các báo cáo theo ngữ cảnh để ra quyết định

Trang 6

dòng vào, dòng ra của doanh nghiệp Như vậy, mô hình kế toán tài chính thực chất chỉ cần theo dõi và tổ chức ghi chép các dòng vào và đầu ra của các dòng thông tin Mô hình như vậy cho phép giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định đồng thời giới thiệu kết quả của doanh nghiệp trong các thời kỳ Do vậy, có thể thấy rằng kế toán quản trị quan tâm đến những thông tin vận hành trong các hộp đen nhằm tạo ra nguồn lợi tốt nhất cho doanh nghiệp.

1.3 Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị

Cả hai hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị đều phục vụ cho công tác quản lý nói chung, do vậy chúng phải có những đặc điểm giống, khác nhau và cũng có các thông tin giao thoa lẫn nhau

1.3.1 Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

Xuất phát từ mục đích cung cấp các luồng thông tin khác nhau và sử dụng cho những mục đích khác nhau nên kế toán quản trị có nhiều khác biệt với kế toán tài chính, những điểm khác biệt Đó là:

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán Đối với kế toán tài chính, người sử dụng

thông tin chủ yếu là người ngoài doanh nghiệp, như: ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu

tư, các cơ quan quản lý nhà nước, người lao động và những ai quan tâm đến doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệp không cần biết chính xác ai cần thông tin này, vào lúc nào

và khi nào Trong khi đó, đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị là các nhà quản lý tại doanh nghiệp Do vậy, người cung cấp thông tin biết rất rõ ai cần thông tin gì

và cần lúc nào

Mục đích Kế toán tài chính được tổ chức nhằm lập ra các báo cáo tài chính, đặt

trọng tâm đến việc cung cấp thông tin cho những cá nhân và tổ chức bên ngoài doanh nghiệp Khi báo cáo tài chính lập xong thì mục đích của kế toán tài chính cũng hoàn thành Còn kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin qua các báo cáo nội bộ mà còn tham gia vào công tác quản trị tại doanh nghiệp: từ việc lập kế hoạch đến điều hành, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định

Tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung đã được chấp nhận Có thể hình

dung các nguyên tắc kế toán chung đã được chấp nhận là sự đúc kết từ thực tiễn, làm cơ

sở cho các qui định cụ thể về kế toán Một số các nguyên tắc kế toán chung này đã được

thể hiện trong các điều khoản của Luật kế toán Về đặc điểm này, Kế toán tài chính phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung đã được chấp nhận nhằm đảm bảo

thông tin trên các báo cáo tài chính khi công bố ra bên ngoài đạt được tính so sánh và có thể dể dàng tìm thấy nguồn gốc của nó Do vậy, khi báo cáo tài chính công khai ra bên ngoài cần được cơ quan kiểm toán độc lập kiểm toán nhằm đảm bảo sự tin cậy của các

số liệu kế toán trên báo cáo tài chính

Trang 7

Trong khi đó kế toán quản trị chủ yếu phục vụ các nhà quản lý để ra quyết định nên loại thông tin này có thể do những nguồn cung cấp khác nhau và doanh nghiệp được

tự bố trí cách thu thập và chọn lọc, sử dụng thông tin Kế toán quản trị không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung Thông tin và hình thức của các

báo cáo kế toán quản trị luôn thay đổi, tùy thuộc vào dạng quyết định và mong muốn của nhà quản lý Các nhà quản lý có thể sử dụng nhiều kỹ thuật kế toán quản trị để trợ giúp khi ra quyết định

Đặc điểm của thông tin kế toán Thông tin của kế toán tài chính phản ánh những

sự kiện kinh tế tài chính đã xảy ra, còn thông tin của kế toán quản trị phản ánh những sự kiện đã, đang và sắp xảy ra Như vậy, chứng từ kế toán là những bằng chứng lịch sử không thể thiếu đối với kế toán tài chính; nhưng không bắt buộc đối với kế toán quản trị Điều này dẫn đến thông tin kế toán quản trị chú trọng đến tính linh hoạt và kịp thời Trong khi thông tin kế toán tài chính phải chú trọng đến tính khách quan, chính xác Thông tin của kế toán tài chính thể hiện dưới hình thái giá trị còn thông tin của kế toán quản trị không chỉ thể hiện dưới hình thái giá trị mà còn dưới hình thái hiện vật hoặc các hình thái phi tiền tệ khác

Tần số báo cáo và thời gian báo cáo Báo cáo tài chính cung cấp cho người

ngoài theo thời gian đã qui định, thường định kỳ vào cuối quí và cuối năm Ngược lại,

kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên liên tục vào bất kỳ thời điểm nào tùy thuộc yêu cầu của nhà quản lý: đột xuất, hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng

Phạm vi báo cáo Báo cáo tài chính phản ánh hoạt động kinh doanh - tài chính

của toàn doanh nghiệp Ở các công ty đa quốc gia, báo cáo tài chính còn thể hiện họat động theo từng khu vực, từng vùng Ngược lại báo cáo kế toán quản trị thường phản ánh một mặt, một phần của họat động kinh doanh ở doanh nghiệp Kế toán quản trị vì thế gắn liền với phân cấp quản lý trong doanh nghiệp

Tính pháp lý của việc tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị Do kế toán

tài chính cung cấp các báo cáo tài chính cho người bên ngoài nên kế toán tài chính phải được chuẩn hóa và có tính pháp lệnh cao Nghĩa là, mọi doanh nghiệp đều phải tổ chức

bộ phận kế toán tài chính và công khai các báo cáo tài chính ra bên ngoài Trong khi đó,

kế toán quản trị được tổ chức tùy thuộc vào yêu cầu của quản lý và khả năng của bộ phận kế toán doanh nghiệp, do vậy các thông tin này không cần thiết phải chuẩn hóa và

có thể có đơn vị không tổ chức bộ phận này trong nội bộ doanh nghiệp

Trang 8

Bảng 1.1 Sơ đồ so sánh kế toán tài chính và kế toán quản trị

• Thông tin kế toán được sử dụng

cho bên ngoài

• Bắt buộc tuân thủ theo các nguyên

tắc kế toán chung

• Thông tin hướng về quá khứ

• Sử dụng thước đo giá trị là chủ yếu

• Thông tin hướng đến tương lai

• Sử dụng nhiều loại thước đo khác nhau

• Thông tin linh hoạt, thích đáng

• Báo cáo được thiết kế theo nhu cầu của nhà quản trị

• Không có tính bắt buộc, tuỳ theo nhu cầu quản trị ở doanh nghiệp

1.3.2 Những điểm tương đồng giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

Trên đây là những điểm khác nhau cơ bản giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Tuy có nhiều điểm khác nhau như vậy nhưng kế toán tài chính và kế toán quản trị vẫn có nhiều điểm tương đồng Đó là:

- Cả hai đều cùng chung mục đích cung cấp thông tin Mỗi loại kế toán tài chính,

kế toán quản trị chỉ là những hệ con trong hệ thống thông tin doanh nghiệp Cả hai bộ phận kế toán đều có mối liên hệ trách nhiệm với bộ phận sử dụng và phân tích thông tin

Kế toán tài chính quan tâm đến trách nhiệm đối với người bên ngoài, còn kế toán quản trị quan tâm đến trách nhiệm đối với doanh nghiệp Sự quan tâm này còn liên quan đến từng cá nhân, phòng ban, tổ đội để tăng cường công tác kiểm soát chi phí Do vậy, khi bàn đến kế toán quản trị, chúng ta thường gặp khái niệm kế toán trách nhiệm

- Cả hai đều dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, tức là dựa vào nguồn số liệu ban đầu thống nhất để xử lý thông tin theo những đặc thù riêng của mình

Sẽ rất lãng phí nếu doanh nghiệp xây dựng hai hệ thống thu thập dữ liệu khác nhau Với

hệ thống ghi chép ban đầu này, kế toán tài chính sẽ sử dụng để lập các báo cáo tài chính cho bên ngoài Ngược lại, kế toán quản trị sẽ sử dụng để lập các báo cáo nội bộ

Phân chia hệ thống kế toán thành kế toán tài chính và kế toán quản trị không có nghĩa chỉ có kế toán quản trị tham gia vào họat động quản lý của doanh nghiệp Công việc theo dõi tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu của kế toán tài chính cũng là công cụ

hỗ trợ cho công tác quản lý tại doanh nghiệp Những điểm khác nhau và giống nhau đã phân tích ở trên có thể minh họa qua sơ đồ sau về mối quan hệ giữa Kế toán tài chính,

Kế toán quản trị và Kế toán chi phí1:

1 Charles T Horngren, Cost Accounting, tr.4, 1991, Prentice Hall

Trang 9

KT KT KT

tài chính chi phí quản trị

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa Kế toán tài chính và Kế toán quản trị

Theo sơ đồ trên, kế toán chi phí là phần giao của kế toán tài chính và kế toán quản trị Nội dung của kế toán chi phí là tập hợp, phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của kế toán tài chính và kế toán quản trị Với kế toán tài chính, kế toán chi phí là

cơ sở xác định chi phí và thu nhập thể hiện trên báo cáo lãi lỗ kinh doanh trong kỳ kế toán Với kế toán quản trị, kế toán chi phí được sử dụng để tính giá sản phẩm, dịch vu hoặc chi phí theo từng nơi hoạt động, lập dự toán , làm cơ sở để phân tích chi phí và ra quyết định Việc giao thoa giữa kế toán quản trị, kế toán tài chính, kế toán chi phí và với các chức năng khác, thường đặt ra nhiều câu hỏi và tạo ra nhiều mâu thuẫn trong thực tế

2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Với vai trò cung cấp thông tin cho nhà quản trị, kế toán quản trị có các chức năng sau:

2.1 Phân tích cách ứng xử của chi phí

Phân tích cách ứng xử chi phí là một nội dung cơ bản của quản trị chi phí Không thể dự toán, hoạch định, cũng như kiểm tra kiểm soát mà không biết rõ đặc điểm và phân loại một cách cụ thể các loại chi phí Trong khi phân tích chi phí cần phải xem xét nội dung, bản chất của từng loại chi phí cũng như các hình thức biểu hiện của chi phí thông qua nhiều tiêu thức sắp xếp khác nhau Có thể dựa vào bản chất, nội dung, công dụng kinh tế của chi phí, cũng có thể dựa vào hành vi, ứng xử, đặc điểm kiểm soát cũng như mối quan hệ giữa chi phí với các phương pháp kế toán để phân loại chi phí Trong

đó việc phân tích hành vi ứng xử của chi phí được xem là cơ sở của kế toán quản trị, tất

cả các chức năng khác của kế toán quản trị chỉ có thể được thể hiện và nghiên cứu một cách đầy đủ sau khi chức năng này được thực hiện một cách đầy đủ Thực hiện chức năng này cần phân loại chi phí, phân tích chi phí theo ứng xử của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi cũng như theo các mục đích sử dụng Đồng thời khi xem xét chi phí, lúc nào nhà quản trị cũng phải đặt trong mối quan hệ với khối lượng và lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp

Trang 10

2.2 Lập dự toán và truyền đạt thông tin

Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể tiến hành một cách thường xuyên liên tục, các doanh nghiệp phải thiết lập các kế hoạch Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được tiến hành theo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đã xây dựng Trong đó việc lập dự toán chi phí giữ vai trò hết sức quan trọng vì:

+ Dự toán là cơ sở định hướng và chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh cũng như phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận

+ Dự toán được lập còn là cơ sở để kiểm tra kiểm soát các nội dung chi phí cũng như nhiệm vụ của từng bộ phận

Thực hiện chức năng này, kế toán quản trị phải tổ chức việc thu thập các thông tin cần thiết để lập dự toán gồm thông tin về tổ chức, về định mức, về chi phí tiêu chuẩn, các thông tin kế toán tài chính, thống kê cũng như kỹ thuật tính toán, ước tính phục vụ cho việc lập dự toán ở doanh nghiệp

Qua các dự toán này, nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự toán Các dự toán này đóng vai trò hạt nhân quan trọng trong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị Thực hiện mục tiêu này kế toán quản trị phải có chức năng truyền đạt các thông tin dự toán, và thông tin khác cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp Dự toán này phải được lập một cách toàn diện đầy

đủ tất cả các bộ phận bao gồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư

2.3 Kiểm tra, đánh giá và cổ động

Kế toán quản trị có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh từ trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị

Kiểm tra là quá trình so sánh kết quả thực hiện với dự toán được lập nhằm điều chỉnh dự toán và đánh giá việc thực hiện Thông qua kết quả so sánh cho thấy sự khác nhau giữa thực hiện với dự toán đã lập, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng để có thể điều chỉnh quá trình thực hiện cũng như đánh giá được kết quả, thành tích của từng cá nhân, bộ phận Trên cơ sở đó, các nhà lãnh đạo mới có thể có các bộ phận hỗ trợ, cổ động đến các nhân viên, các bộ phận trong doanh nghiệp

Việc kiểm tra, kiểm soát của kế toán quản trị được thực hiện thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ trong cơ cấu tổ chức hoạt động và các quy định quản lý nội bộ của doanh nghiệp Và, hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện qua việc phân công, phân cấp quản lý cũng như trách nhiệm quản lý của từng bộ phận, từng tổ, đội, từng khâu của công việc

Trang 11

Sơ đồ 1.4 Sơ đồ thể hiện chức năng quản trị 2.4 Hỗ trợ ra quyết định

Ra quyết định là một công việc thường xuyên ảnh hưởng đến mọi hoạt động của doanh nghiệp Quá trình này rất cần các thông tin cụ thể từ nhiều nguồn thông tin, trong

đó chủ yếu là thông tin của kế toán mà cụ thể là kế toán quản trị Các doanh nghiệp thường đứng trước nhiều phương án khác nhau Mỗi phương án gắn liền với mỗi tình huống, với số lượng, chủng loại, các khoản mục chi phí, thu nhập khác nhau liên quan, đòi hỏi kế toán quản trị cũng phải được tổ chức để có thể cung cấp các thông tin cụ thể này Quá trình ra quyết định của quản trị thường là việc xem xét, cân nhắc lựa chọn từ các phương án khác nhau để có được phương án tối ưu với hiệu quả cao nhất mà rủi ro nhỏ nhất Các thông tin sẵn có thường rất nhiều loại dưới nhiều hình thức khác nhau Với chức năng này kế toán quản trị phải có công cụ thích hợp giúp các nhà quản trị phân biệt được các thông tin thích hợp và không thích hợp nhằm xác định thông tin phù hợp theo từng phương án Việc nhận diện thông tin phù hợp, bỏ qua các thông tin không thích hợp sẽ tập trung sự chú ý của nhà quản trị vào vấn đề chính cần giải quyết, giảm thời gian ra quyết định mới có thể đáp ứng được yêu cầu hiện nay của nhà quản trị trong tình hình cạnh tranh gay gắt, thay đổi liên tục

3 VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

3.1 Kế toán quản trị với các chức năng quản lý

Quản trị một doanh nghiệp bao gồm các chức năng cơ bản là: hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định Mối liên hệ giữa mỗi chức năng này với kế toán quản trị thể hiện như sau:

Hoạch định là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó Để hoạch định và xây dựng các kế hoạch, nhà quản trị phải dự đoán nhằm tiên liệu trước mục tiêu, phương pháp, thủ tục trên cơ sở

Hoạch định

Tổ chức thực hiện Đánh giá

Kiểm tra

Phân tích Lập dự

toán

Kiểm soát, đánh giá

Hỗ trợ ra quyết định

Trang 12

khoa học Trong công việc này nhà quản trị phải liên kết các mục tiêu cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực sẵn có Chức năng này chỉ có thể được thực hiện tốt có hiệu quả, và có tính khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở các thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận kế toán quản trị cung cấp Như vậy kế toán quản trị phải cung cấp thông tin cần thiết để các nhà quản lý ra các quyết định ngắn hạn

và dài hạn, đáp ứng mục tiêu của tổ chức Một kế hoạch phản ánh một quyết định: làm thế nào để đạt một mục tiêu cụ thể nào đó

Chức năng tổ chức bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin

về các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế hoạch đó Thực hiện chức năng này, nhà quản trị phải liên kết giữa các bộ phận, giữa các cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với nhau để có thể thực hiện được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả Vì thế, nhà quản trị phải cần các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài chính Kế toán quản trị sẽ dự đoán nhiều tình huống khác nhau của các phương án khác nhau để nhà quản trị xem xét đề ra các quyết định trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các mục tiêu chung Ví dụ: để định giá sản phẩm mới, các nhà quản lý sẽ dựa vào thông tin do kế toán quản trị cung cấp để đảm bảo rằng mối quan hệ giữa giá bán và chi phí hài hòa với chiến lược marketing của đơn vị

Tóm lại, với chức năng này, công việc của nhân viên kế toán quản trị và nhà quản

lý gắn liền với nhau để thực hiện các quyết định hàng ngày Ngược lại, chức năng này là

cơ sở để kế toán quản trị thực hiện tốt kế toán trách nhiệm, đồng thời tạo lập ra những dòng thông tin trong doanh nghiệp

Sau khi đã triển khai thực hiện các kế hoạch, công việc kiểm tra, kiểm soát nhằm điều chỉnh và đánh giá có vị trí rất quan trọng Với chức năng kiểm sóat và đánh giá của quản trị, kế toán quản trị cung cấp các báo cáo họat động, xem xét giữa kết quả thực tế với dự toán đặt ra và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác Thường trong quá trình này người ta sử dụng phương pháp chi tiết, so sánh giữa kết quả thực hiện với các số liệu kế hoạch , dự toán; qua đó xem xét sai lệch giữa kết quả đạt được do kế toán cung cấp theo các báo cáo với dự toán đã lập nhằm đánh giá tình hình thực hiện dự toán

Như vậy, có thể xem các báo cáo kế toán quản trị là sự phản hồi trong họat động quản lý của doanh nghiệp để các nhà quản trị ra quyết định, xem lại các hoạch định, kế hoạch Do vậy để kế toán quản trị giúp cho chức năng kiểm tra, đánh giá; các thông tin phải được tổ chức dưới dạng so sánh được Quá trình kiểm tra đánh giá của nhà quản trị trong phạm vi của mình để có thể điều chỉnh kịp thời nhằm đạt được các mục tiêu đề ra

Trang 13

Với chức năng hỗ trợ cho việc ra quyết định, thông tin kế toán quản trị là thông tin chủ yếu để phân tích các khả năng khi giải quyết một vấn đề Lý do là mỗi khả năng giải quyết vấn đề đều có những chi phí và lợi ích riêng có thể đo lường, qua đó các nhà quản lý sẽ sử dụng để quyết định khả năng nào là tốt nhất Chẳng hạn, một công ty phát hiện một đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường Để duy trì thị phần của mình, công ty

có thể thực hiện biện pháp giảm giá hoặc tăng cường quảng cáo hoặc thực hiện đồng thời cả hai phương án trên Quyết định lựa chọn phương án nào, mà ta hay gọi là phân tích scénario, là trường hợp phổ biến trong kế toán quản trị để ra quyết định Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có phương pháp lựa chọn hợp

lý trong nhiều phương án đặt ra Ra quyết định tự thân nó không là một chức năng riêng biệt mà trong quá trình thực hiện các chức năng trên đều đòi hỏi phải ra quyết định Do

đó thông tin kế toán quản trị thường phục vụ chủ yếu cho quá trình này Đây là chức năng quan trọng và xuyên suốt trong quản trị doanh nghiệp

Với mối liên hệ trên giữa kế toán quản trị và hoạt động quản lý, thông tin kế toán quản trị cung cấp cho các nhà quản trị phải thể hiện dưới dạng tóm tắt Với những thông tin đó, các nhà quản trị có thể nhìn nhận được vần đề gì đang xảy ra, những khả năng tiềm tàng, những cơ hội sẵn có để có kế hoạch kinh doanh đúng đắn

3.2 Sự cần thiết của kế toán quản trị ở Việt nam

Ở các nước theo nền kinh tế thị trường, vai trò của kế toán quản trị ngày càng được mở rộng Có những lý do chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển của lĩnh vực

kế toán này như sau:

- Phương pháp sản xuất đã thay đổi nhanh chóng trong hai thập niên qua, đặc biệt

là khả năng sản xuất tự động hóa cũng như cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gia tăng trên toàn cầu Do vậy, các nhà quản lý phải đương đầu với các vấn đề định giá

và tính giá các sản phẩm và dịch vụ

- Các mô hình quản lý và mô hình ra quyết định cũng thay đổi nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và các công cụ phân tích định lượng, như: phân tích xác xuất, lý thuyết ra quyết định, Những công cụ này ngày càng được áp dụng phổ biến khi ra quyết định ở các doanh nghiệp

Như vậy, những chuyển biến trên đặt ra nhu cầu thông tin ngày càng cao trong công tác quản lý Một doanh nghiệp sẽ tồn tại nếu doanh nghiệp đó thích ứng, đối phó nhanh chóng và kịp thời với mọi thử thách mới trên thị trường Chính vì vậy, kế toán quản trị ngày càng giữ được vị trí quan trọng

Ở nước ta, từ trước đến nay khái niệm kế toán quản trị hoàn toàn mới mẻ Chuyển sang cơ chế thị trường với sự điều tiết của nhà nước, sự hình thành kế toán quản trị trong bộ phận kế toán là rất cần thiết vì những lý do sau:

Trang 14

- Một là, hiện nay các doanh nghiệp được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh Môi trường cạnh tranh đã hình thành ở Việt nam, giữa doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân và với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do vậy các thông tin nội bộ do hệ thống kế toán quản trị cung cấp tất yếu phải được hình thành.

- Hai là, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể để phù hợp với các thông lệ kế toán quốc tế, theo đó hệ thống tài khoản kế toán mới cùng với các chuẩn mực kế toán đã hình thành Đây là cơ sở để từng bước xây dựng kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính

Tất cả những lý do trên yêu cầu các nhà quản lý của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay phải đối phó với những thay đổi liên tục trên thị trường để ra quyết định Vì thế, nhu cầu thông tin về tiềm lực và nội bộ của doanh nghiệp là một yếu tố không thể thiếu và kế toán quản trị là phương tiện, là công cụ hỗ trợ quan trọng nhất quyết định chất lượng quá trình quản lý ở các doanh nghiệp

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

4.1 Đối tượng của kế toán quản trị

Mỗi môn học đều có đối tượng nghiên cứu riêng, đối tượng sẽ xác định nhiệm vụ

và nội dung của môn học Nếu đối tượng nghiên cứu của kế toán là tài sản, nguồn vốn

và sự vận động của tài sản trong các doanh nghiệp thì với kế toán quản trị vì là một bộ phận của kế toán nên trước hết cũng phải quan tâm đến tài sản Tuy nhiên kế toán quản trị đặt trọng tâm vào việc xem xét quá trình vận động của tài sản trong quá trình doanh nghiệp tạo ra giá trị Như vậy đối tượng của kế toán quản trị phải là chi phí trong mối quan hệ đến việc hình thành và gia tăng giá trị của doanh nghiệp Điều này càng thấy rõ hơn khi xem xét hệ thống thông tin kế toán thì thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử lý cung cấp cho các nhà quản trị trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá là thông tin về chi phí Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp và chịu sự chi phối của nhà quản trị, mọi quyết định trong doanh nghiệp đều liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, đến chi phí của doanh nghiệp trong việc hình thành giá trị Quá trình này thường gắn liền với lợi ích mong muốn của doanh nghiệp Ở đây, chi phí được hiểu là giá trị của mọi khoản hao phí về nhân tài, vật lực nhằm thu được các lợi ích làm gia tăng giá trị doanh nghiệp

Chi phí có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau để có thể cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị, trong đó việc xem xét chi phí trong mối quan hệ với khối lượng, hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận có thể được xem là đối tượng chủ yếu của kế toán quản trị Như vậy, các loại chi phí đặt trong các mối quan hệ khác nhau và quan hệ với lợi ích mang lại cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai là đối tượng cụ thể của kế toán quản trị Không những thế, vì kế toán quản trị quan tâm đến

Trang 15

khía cạnh của quản trị là chủ yếu do đó quá trình kiểm soát, kiểm tra điều chỉnh trong quản trị cần thiết phải có cả thông tin về tài chính cũng như phi tài chính nên đây cũng

là một đối tượng cụ thể của kế toán quản trị

Với các đối tượng nghiên cứu như vậy, kế toán quản trị mới cung cấp thông tin về mọi khả năng có thể xảy ra để chọn lựa khả năng tối ưu nhằm hỗ trợ cho quá trình quản trị doanh nghiệp

4.2 Đặc điểm các phương pháp của kế toán quản trị

Là một bộ phận trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị cũng có những phương pháp xử lý thông tin để đáp ứng nhu cầu của các nhà quản lý Phương pháp kế toán quản trị có những đặc điểm sau:

- Phương pháp kế toán quản trị không thể tách rời với những phương pháp cơ bản của kế toán: đó là lập chứng từ, ghi sổ, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán Vì kế toán quản trị thực chất cũng là việc ghi chép được tách ra từ bộ phận kế toán, nó được hình thành và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp Tuy nhiên, kế toán quản trị không cần phải thống nhất như kế toán tài chính vì chỉ phục vụ cho nội bộ, nên phương pháp của kế toán quản trị thường linh hoạt theo từng doanh nghiệp

- Việc lựa chọn phương pháp kế toán quản trị để xử lý thông tin phải đáp ứng yêu cầu thông tin của nhà quản lý tại doanh nghiệp Do hoạt động quản lý có nhiều chức năng như hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định nên sẽ có những phương pháp xử lý thông tin riêng để phục vụ từng chức năng trên

- Hệ thống sổ sách kế toán quản trị được kết hợp với hệ thống sổ sách kế toán chi phí trong kế toán tài chính

- Do thông tin kế toán quản trị còn phản ánh các sự kiện kinh tế trong tương lai nên khi dùng thước đo giá trị cần quan tâm đến loại giá: giá lịch sử, giá tương lai, giá hiện hành, hiện giá Mỗi loại giá sẽ có những vai trò khác nhau trong xử lý thông tin

và dạng ra quyết định

- Phương pháp kế toán quản trị còn tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý tại doanh nghiệp Một doanh nghiệp có mức độ phân cấp quản lý cao, gắn trách nhiệm của từng bộ phận trong quá trình kinh doanh sẽ đòi hỏi vận dụng phương pháp kế toán phù hợp Các trung tâm phân tích (các đối tượng phân tích), hệ thống các tiêu thức phân bổ chi phí sẽ tùy thuộc vào tổ chức sản xuất và quản lý tại doanh nghiệp

- Do thông tin kế toán quản trị hướng về tương lai nên ngoài nguồn số liệu được

xử lý từ kế toán tài chính, kế toán quản trị còn có phương pháp thu thập thông tin từ hệ thống hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán thống kê

Trang 16

- Phương pháp xử lý thông tin kế toán quản trị còn kế thừa những phương pháp của phân tích kinh doanh, như: phương pháp so sánh, phân tích tương quan, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp phân tổ.

- Ngoài ra, kế toán quản trị cũng sử dụng nhiều đến thông tin quá khứ khi lập dự toán, vì đó là cơ sở để ước đoán doanh thu, chi phí và kiểm tra kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Do vậy các phương pháp của kế toán quản trị cũng thường theo cách ước đoán, mô phỏng, gần đúng, dự báo xu hướng, biến động đánh giá trên cơ sở xác suất trong doanh nghiệp và môi trường chung quanh

CÂU HỎI ÔN TẬP

Hãy trình bày và phân tích những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

Tại sao nói rằng kế toán quản trị không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc

Tại sao chi phí được xem là trọng tâm của kế toán quản trị?

Anh (chị) có suy nghĩ gì về sự khác biệt giữa phương pháp của kế toán tài chính và

Trang 17

Chương 2 CHI PHÍ VĂ PHĐN LOẠI CHI PHÍ

Như đê trình băy ở chương 1, vai trò của kế toân quản trị ngăy căng được khẳng định vă nó được xem như lă một trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp Để thực hiện tốt công việc quản lý, từ khđu lập kế hoạch bao gồm việc xâc định câc mục tiíu của doanh nghiệp cũng như xâc định câc phương tiện để đạt được câc mục tiíu đó, đến việc kiểm tra, phđn tích vă ra câc quyết định, câc nhă quản trị phải cần đến rất nhiều thông tin Tuy nhiín, trong đó, thông tin về tiềm lực vă tổ chức nội bộ của doanh nghiệp do kế toân quản trị cung cấp lă bộ phận quan trọng nhất, quyết định chất lượng của công tâc quản lý

Xĩt từ phương diện kế toân, thông tin chủ yếu nhất mă kế toân quản trị xử lý vă cung cấp cho câc nhă quản trị lă thông tin về chi phí Trong quâ trình kinh doanh của câc doanh nghiệp, chi phí thường xuyín phât sinh, gắn liền với mọi hoạt động vă có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được Hơn nữa, trín giâc độ quản lý, chi phí phần lớn phât sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhă quản trị, do vậy, kiểm soât vă quản lý tốt chi phí lă mối quan tđm hăng đầu của họ Chương này nghiên cứu về chi phí và các cách phân loại chi phí khác nhau nhằm hiểu rõ hơn về chi phí trong doanh nghiệp, làm cơ sở để triển khai nội dung các chương sau

1 KHÂI NIỆM VỀ CHI PHÍ VÀ CÂC TIÍU THỨC PHĐN LOẠI CHI PHÍ

Chi phí được định nghĩa lă giâ trị tiền tệ của câc khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra câc loại tăi sản, hăng hóa hoặc câc dịch vụ Như vậy, nội dung của chi phí rất đa dạng

Trong kế toân quản trị, chi phí được phđn loại vă sử dụng theo nhiều tiíu thức khâc nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu đa dạng trong câc thời điểm khâc nhau của quản lý nội bộ doanh nghiệp Thím văo đó, chi phí phât sinh trong câc loại hình doanh nghiệp khâc nhau (sản xuất, thương mại, dịch vụ) cũng có nội dung vă đặc điểm khâc nhau, trong đó nội dung chi phí trong câc doanh nghiệp sản xuất thể hiện tính đa dạng vă bao quât nhất

Vì lý do đó, nội dung chính của chương này sẽ nghiín cứu câc câch phđn loại chi phí trong câc doanh nghiệp sản xuất Để thông tin về chi phí có tác dụng lớn cho công tác quản lý nói chung và quản trị chi phí nói riêng, chi phí trong doanh nghiệp được xem xét ở rất nhiều khía cạnh khác nhau Cụ thể, chi phí sẽ được phân loại theo các tiêu thức phân loại như sau:

Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Phân loại chi phí trong mối quan hệ với lợi nhuận xác định từng kỳ

Trang 18

Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí.

Các cách phân loại chi phí khác phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định

2 PHĐN LOẠI CHI PHÍ THEO CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG

Chi phí phât sinh trong câc doanh nghiệp sản xuất, xĩt theo công dụng của chúng, hay nói một câch khâc, xĩt theo từng hoạt động có chức năng khâc nhau trong quâ trình sản xuất kinh doanh mă chúng phục vụ, được chia thănh hai loại lớn: chi phí sản xuất vă chi phí ngoăi sản xuất

2.1 Chi phí sản xuất

Giai đoạn sản xuất lă giai đoạn chế biến nguyín vật liệu thănh thănh phẩm bằng sức lao động của công nhđn kết hợp với việc sử dụng mây móc thiết bị Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyín liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhđn công trực tiếp vă chi phí sản xuất chung

Chi phí nguyín liệu, vật liệu trực tiếp:

Khoản mục chi phí năy bao gồm câc loại nguyín liệu vă vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó, nguyín vật liệu chính dùng để cấu tạo nín thực thể chính của sản phẩm vă câc loại vật liệu phụ khâc có tâc dụng kết hợp với nguyín vật liệu chính để hoăn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng vă hình dâng

Chi phí nhđn công trực tiếp:

Khoản mục chi phí năy bao gồm tiền lương vă những khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhđn trực tiếp sản xuất sản phẩm Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương vă câc khoản trích theo lương của bộ phận công nhđn phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhđn viín quản lý câc bộ phận sản xuất thì không bao gồm trong khoản mục chi phí năy mă được tính lă một phần của khoản mục chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung:

Chi phí sản xuất chung lă câc chi phí phục vụ vă quản lý quâ trình sản xuất sản phẩm phât sinh trong phạm vi câc phđn xưởng Khoản mục chi phí năy bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quâ trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương vă câc khoản trích theo lương của nhđn viín quản lý phđn xưởng, chi phí khấu hao , sửa chữa vă bảo trì mây móc thiết bị, nhă xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoăi phục vụ sản xuất vă quản lý ở phđn xưởng, v.v…

Ngoăi ra, trong kế toân quản trị còn dùng câc thuật ngữ khâc: chi phí ban đầu

(prime cost) để chỉ sự kết hợp của chi phí nguyín liệu, vật liệu trực tiếp vă chi phí nhđn

Trang 19

công trực tiếp; chi phí chuyển đổi (conversion cost) để chỉ sự kết hợp của chi phí nhđn

công trực tiếp vă chi phí sản xuất chung

2.2 Chi phí ngoăi sản xuất

Đđy lă câc chi phí phât sinh ngoăi quâ trình sản xuất sản phẩm liín quan đến qúa trình tiíu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tâc quản lý chung toăn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí năy gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bân hăng vă chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí bân hăng:

Khoản mục chi phí năy bao gồm câc chi phí phât sinh phục vụ cho khđu tiíu thụ sản phẩm Có thể kể đến câc chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thănh phẩm giao cho khâch hăng, chi phí bao bì, khấu hao câc phương tiện vận chuyển, tiền lương nhđn viín bân hăng, hoa hồng bân hăng, chi phí tiếp thị quảng câo, v.v…

Chi phí quản lý doanh nghiệp:

Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả câc chi phí phục vụ cho công tâc tổ chức vă quản lý quâ trình sản xuất kinh doanh nói chung trín giâc độ toăn doanh nghiệp Khoản mục năy bao gồm câc chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương vă câc khoản trích theo lương của nhđn viín quản lý doanh nghiệp, khấu hao tăi sản cố định phục vụ cho quản lý doanh nghiệp, câc chi phí dịch vụ mua ngoăi khâc, v.v…

3 PHĐN LOẠI CHI PHÍ THEO MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ VỚI LỢI NHUẬN XÂC ĐỊNH TỪNG KỲ

Khi xem xĩt câch tính toân vă kết chuyển câc loại chi phí để xâc định lợi tức trong từng kỳ kế toân, chi phí sản xuất kinh doanh trong câc doanh nghiệp sản xuất được chia lăm hai loại lă chi phí sản phẩm vă chi phí thời kỳ

Chi phí sản phẩm (product costs)

Chi phí sản phẩm bao gồm câc chi phí phât sinh liín quan đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy câc chi phí năy kết hợp tạo nín giâ trị của sản phẩm hình thănh qua giai đoạn sản xuất (được gọi lă giâ thănh sản xuất hay giâ thănh công xưởng) Tuỳ thuộc vào phương pháp tính giá thành được áp dụng mà chi phí sản phẩm có khác nhau Với phương pháp tính giá thành toàn bộ, chi phí sản phẩm gồm câc khoản mục: chi phí nguyín liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhđn công trực tiếp vă chi phí sản xuất chung Xĩt theo mối quan hệ với việc xâc định lợi tức trong từng kỳ kế toán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toân, kết chuyển để xâc định lợi tức trong kỳ tương ứng với khối lượng sản phẩm đê được tiíu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiíu thụ văo cuối kỳ sẽ được lưu giữ như lă giâ trị tồn kho vă sẽ được kết chuyển để xâc định lợi

Trang 20

tức ở câc kỳ sau khi mă chúng được tiíu thu Vì lí do năy, chi phí sản phẩm còn được gọi lă chi phí tồn kho (inventorial costs).

Error: Reference source not found

Sơ đồ 2.1 Câc chi phí xĩt theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xâc định trong từng kỳ

Chi phí thời kỳ (period costs)

Chi phí thời kỳ gồm câc khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định câc khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Nó thường bao gồm chi phí bân hăng, chi phí quản

lý doanh nghiệp vă chi phí tăi chính Câc chi phí thời kỳ phât sinh ở kỳ kế toân năo được xem lă có tâc dụng phục vụ cho quâ trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toân kết chuyển hết để xâc định lợi tức ngay trong kỳ mă chúng phât sinh Chi phí thời

kỳ còn được gọi lă chi phí không tồn kho (non-inventorial costs)

4 PHĐN LOẠI CHI PHÍ THEO CÂCH ỨNG XỬ CỦA CHI PHÍ

Câch “ứng xử” của chi phí (cost behavior) lă thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí tương ứng với câc mức độ hoạt động đạt được Câc chỉ tiíu thể hiện mức độ hoạt động cũng rất đa dạng Trong doanh nghiệp sản xuất ta thường gặp câc chỉ tiíu thể hiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đê thực hiện, khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ mây hoạt động,v.v Khi xem xĩt câch ứng xử của chi phí, cũng cần phđn biệt rõ phạm vi hoạt động (operating range) của doanh nghiệp với mức độ hoạt động (operating levels) mă doanh nghiệp đạt được trong từng kỳ Phạm vi hoạt động chỉ rõ câc năng lực hoạt động tối đa như công suất mây móc thiết bị, số giờ công lao động của công nhđn, mă doanh nghiệp có thể khai thâc, còn mức độ hoạt động chỉ câc mức hoạt động cụ thể mă doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ trong giới hạn của phạm vi hoạt động đó

Khi nói đến câch ứng xử của chi phí, chúng ta thường hình dung đến một sự thay đổi tỉ lệ giữa chi phí với câc mức độ hoạt động đạt được: mức độ hoạt động căng cao thì lượng chi phí phât sinh căng lớn vă ngược lại Tuy nhiín, loại chi phí có câch ứng xử như vậy chỉ lă một bộ phận trong tổng số chi phí của doanh nghiệp Một số loại chi phí

có tính chất cố định, không phụ thuộc theo mức độ hoạt động đạt được trong kỳ, vă ngoăi ra, cũng có một số câc chi khâc mă câch ứng xử của chúng lă sự kết hợp của cả hai loại chi phí kể trín Chính vì vậy, xĩt theo câch ứng xử, chi phí của doanh nghiệp được chia thănh ba loại: Chi phí khả biến, chi phí bất biến vă chi phí hỗn hợp

4.1 Chi phí khả biến (Variable costs)

Trang 21

Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỉ lệ với các mức

độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi

Nếu ta gọi:

a: Giá trị chi phí khả biến tính theo 1 đơn vị mức độ hoạt động

x: Biến số thể hiện mức độ hoạt động đạt được

Ta có tổng giá trị chi phí khả biến (y) sẽ là một hàm số có dạng: y = ax

Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến theo mức độ hoạt động như sau:

Y (Biến phí)

x (Mức độ hoạt động)

Đồ thị 2.1 Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến

Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp thể hiện rõ nhất đặc trưng của chi phí khả biến Ngoài

ra, chi phí khả biến còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung (ví dụ, các chi phí vật liệu phụ, chi phí động lực, chi phí lao động gián tiếp trong chi phí sản xuất chung có thể là chi phí khả biến) hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp (như chi phí vật liệu, phí hoa hồng, phí vân chuyển, ) Chi phí khả biến còn được gọi là chi phí biến đổi hoặc biến phí

4.1.1 Chi phí khả biến thực thụ và chi phí khả biến cấp bậc

Trong thực tế, không phải tất cả các chi phí khả biến đều có cách ứng xử giống nhau theo mức độ hoạt động Xét theo cách thức ứng xử khác nhau đó, chi phí khả biến còn được chia thành hai loại: chi phí khả biến thực thụ (true variable costs) và chi phí khả biến cấp bậc (step-variable costs)

Y = ax

Trang 22

Chi phí khả biến thực thụ là các chi phí khả biến có sự biến đổi tỉ lệ với mức độ hoạt động Đa số các chi phí khả biến thường thuộc loại này, và cách ứng xử cũng như

đồ thị biểu diễn của chúng giống như nội dung đã trình bày ở trên

Chi phí khả biến cấp bậc là các chi phí khả biến không có sự biến đổi liên tục theo

sự thay đổi liên tục của mức độ hoạt động Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã có sự biến đổi đạt đến một mức độ cụ thể nào đó Ta lấy chi phí tiền lương của

bộ phận công nhân phụ (phục vụ hoạt động của công nhân chính) ở các phân xưởng sản xuất để minh họa cho loại chi phí biến đổi cấp bậc này Các công nhân phụ thường thực hiện các công việc như đưa vật liệu từ kho đến nơi sản xuất hoặc đưa thành phẩm từ nơi sản xuất đi nhập kho, và được biên chế theo một tỉ lệ nhất định với số lượng công nhân chính mà họ phục vụ Khi khối lượng sản phẩm của các công nhân chính mà họ phục vụ gia tăng, cường độ lao động của họ cũng tăng theo nhưng mức lương mà họ được hưởng không thể tính gia tăng một cách liên tục theo cường độ lao động gia tăng của họ Tiền lương của họ chỉ tăng lên ở một mức mới khi cường độ lao động của họ đạt đến một mức nhất định nào đó, và tương tự, sẽ giữ nguyên cho đến khi cường độ lao động của họ gia tăng đạt đến một mức mới

Đồ thị biểu diễn sự biến đổi chi phí khả biến cấp bậc có dạng như sau:

y

(Chi phí khả biến cấp bậc)

x

(Mức độ hoạt động)

Đồ thị 2.2 Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến cấp bậc

4.1.2 Dạng phi tuyến của chi phí khả biến và phạm vi phù hợp

Khi nghiên cứu cách ứng xử của chi phí khả biến như trên, chúng ta đã đặt giả thiết có một mối quan hệ tuyến tính giữa chi phí khả biến với mức độ hoạt động Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều các chi phí khả biến không có quan hệ tuyến tính mà biến đổi theo các dạng đường cong rất phức tạp Với các chi phí thuộc dạng này, để thuận tiện cho việc tính toán, lập kế hoạch và kiểm soát chi phí, người ta thường xác

Trang 23

định các “phạm vi phù hợp” (relevant range) để có thể nhận dạng cách biến đổi của chúng theo dạng tuyến tính Phạm vi phù hợp được hiểu là một khoảng giới hạn của các hoạt động mà trong khoảng đó, mối quan hệ giữa chi phí biến đổi với mức độ hoạt động

có thể qui về dạng tuyến tính Khi phạm vi phù hợp được xác định càng nhỏ thì đường biểu diễn chi phí khả biến càng tiến dần về dạng đường thẳng, và do vậy mức độ tuyến tính càng cao

Đồ thị 2.3 Dạng phi tuyến và phạm vi phù hợp

4.2 Chi phí bất biến (Fixed costs)

Chi phí bất biến là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động đạt được Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi cho nên, khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại

Nếu ta gọi b là tổng số chi phí bất biến , thì đường biểu diền chi phí bất biến là một đường thẳng có dạng y = b

y

Chi phí bất biến

y = b

x

Trang 24

Mức độ hoạt động

Đồ thị 2.4 Đồ thị biểu diễn chi phí bất biến

Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo, v.v Chi phí bất biến còn được gọi là chi phí cố định hay định phí

Có thể đưa ra nhận xét rằng loại chi phí chiếm tỉ trọng lớn trong chi phí bất biến ở các doanh nghiệp sản xuất là các chi phí liên quan đến cơ sở vật chất tạo ra năng lực hoạt động cơ bản của doanh nghiệp, do đó, với xu hướng tăng cường hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp như hiện nay thì tỉ trọng chi phí bất biến ngày càng tăng cao trong tổng số chi phí của doanh nghiệp Sự hiểu biết thấu đáo về quan hệ

tỉ trọng chi phí khả biến và chi phí bất biến (được hiểu là kết cấu chi phí của doanh nghiệp) có ý nghĩa rất lớn trong việc đề ra các chính sách quản trị của doanh nghiệp

Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, chi phí bất biến được chia thành 2 loại: chi phí bất biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc

4.2.1 Chi phí bất biến bắt buộc (committed fixed costs)

Chi phí bất biến bắt buộc là các chi phí phát sinh nhằm tạo ra các năng lực hoạt động cơ bản của doanh nghiệp, thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao TSCĐ hay tiền lương nhân viên quản lý ở các phòng ban chức năng Bởi vì là tiền đề tạo ra năng lực hoạt động cơ bản nên các chi phí bất biến bắt buộc gắn liền với các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn Có thể đưa ra nhận xét rằng, mọi cố gắng trong việc cắt giảm các chi phí bất biến bắt buộc đến không là không thể được, cho dù là chỉ trong một thời gian ngắn khi các quá trình sản xuất bị gián đoạn Điểm mấu chốt trong việc quản lý loại chi phí này là tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử dụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp

4.2.2 Chi phí bất biến không bắt buộc (discretionary fixed costs)

Khác với các chi phí bất biến bắt buộc, các chi phí bất biến không bắt buộc thường được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và chúng phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị Thuộc loại chi phí này gồm chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên, v.v

Với bản chất ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào ý muốn của người quản lý, các chi phí bất biến không bắt buộc là đối tượng được xem xét đầu tiên trong các chương trình tiết kiệm hoặc cắt giảm chi phí hàng năm của doanh nghiệp Có thể nói, tính hợp lý về

sự phát sinh của các chi phí bất biến không bắt buộc, cả về chủng loại và giá trị, được

Trang 25

xem xĩt theo từng kỳ lă biểu hiện rõ nhất chất lượng câc quyết định của nhă quản trị trong quản lý chi phí Câc quyết định nay luôn bị răng buộc bởi sự hạn chế về qui mô vốn cũng như bởi câc mục tiíu tiết kiệm chi phí không ngừng của doanh nghiệp Rất dễ dẫn đến câc quyết đinh sai lầm nếu người quản lý không hiểu thấu đâo đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như tình huống cụ thể cho việc ra quyết định ở từng thời

kỳ hoạt động

4.2.3 Chi phí bất biến vă phạm vi phù hợp

Qua nghiín cứu bản chất của chi phí bất biến, đặc biệt lă chi phí bất biến không bắt buộc, chúng ta nhận thấy có thể có sự khâc nhau nhất định về câc chi phí bất biến phât sinh hăng năm Sự phât sinh của câc chi phí bất biến phụ thuộc văo phạm vi hoạt động tối đa của câc loại hoạt động mă chi phí bất biến gắn kỉm theo Chẳng hạn, với chi phí quảng câo, một dạng của chi phí bất biến không bắt buộc, sự phât sinh của chúng phụ thuộc văo kế hoạch tăng doanh số hăng năm của doanh nghiệp Tương tự như vậy, chi phí khấu hao, một dạng của chi phí bất biến bắt buộc, cũng không thể giữ nguyín nếu doanh nghiệp có kế hoạch tăng cường cơ sở vật chất nhằm mở rộng năng lực sản xuất trong câc kỳ tương lai

Vì lý do như trín, phạm vi phù hợp cũng được âp dụng khi xem xĩt sự câc chi phí bất biến phục vụ việc tính toân trong kiểm tra vă phđn tích chi phí Ở đđy, phạm vi phù hợp lă một phạm vi hoạt động cụ thể mă theo đó, câc chi phí bất biến đạt trạng thâi cố định Ngoài phạm vi đó chi phí bất biến không còn giữ trạng thái cố định như trước Có thể minh hoạ phạm vi phù hợp của chi phí bất biến qua đồ thị sau:

y (Chi phí bất biến)

Trang 26

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp

sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cáh khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức

độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phât sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì MMTB,

Nếu ta gọi:

a: là tỉ lệ biến đổi theo các mức độ hoạt động của bộ phận chi phí biến đổi trong chi phí hỗn hợp

b: bộ phận chi phí bất biến trong chi phí hỗn hợp

thì phương trình biểu diễn sự biến thiên của chi phí hỗn hợp là một phương trình bậc nhất có dạng: y = ax + b

Có thể minh hoạ sự biến đổi của chi phí hỗn hợp trên đồ thị như sau:

Đồ thị 2.6 Đồ thị biểu diễn chi phí hỗn hợp

Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phải phân tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bất biến Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong ba phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu, phương pháp

đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất

4.3.1 Phương pháp cực đại, cực tiểu (the high-low method)

Việc phân tích chi phí hỗn hợp thành các yếu tố bất biến và khả biến được tiến hành trên cơ sở các số liệu về chi phí hỗn hợp được thống kê và tập hợp theo các mức

độ hoạt động khác nhau ở các khoảng thời gian Phương pháp cực đại, cực tiểu tiến hành

Trang 27

phân tích chỉ theo số liệu ở hai "điểm" thời gian có mức độ hoạt động đạt cao nhất và thấp nhất với giá trị chi phí hỗn hợp tương ứng của chúng.

Một cách khái quát, phương pháp này được thực hiện qua trình tự các bước như sau:

Bước 1: Xác định mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất và chi phí hỗn hợp tương ứng:

Nếu ta gọi Mmax là điểm có mức độ hoạt động cao nhất thì các toạ độ tương ứng của nó sẽ là Mmax (Xmax; Ymax), với Xmax là mức độ hoạt động cao nhất và Ymax là chi phí hỗn hợp ở mức độ hoạt động cao nhất

Tương tự, gọi Mmin là điểm có mức độ hoạt động thấp nhất thì toạ độ tương ứng của Mmin là Mmin (Xmin; Ymin), với Xmin là mức độ hoạt động thấp nhất và Ymin là chi phí hỗn hợp tương ứng

Bước 2: Xác đinh hệ số a của yếu tố chi phí biến đổi trong chi phí hỗn hợp theo công thức:

Ymax - Ymin

a =

Xmax - Xmin

Bước 3: Xác định hằng số b của yếu tố chi phí bất biến, bằng cách thay giá trị của

a ở bước 2 vào phương trình biểu diễn của điểm Mmax (hoặc Mmin)

Chẳng hạn, khi thay giá trị của a vào phương trình biểu diễn của Mmax, ta có: Ymax = aXmax + b

từ đó: b = Ymax - aXmax

Bước 4: Xác định phương trình biến thiên của chi phí hỗn hợp, có dạng:

y = ax + b

Để minh hoạ cho phương pháp tính, ta xem xét ví dụ sau:

Một doanh nghiệp có tổ chức đội xe vận chuyển hàng Chi phí bảo trì sửa chữa thay đổi trong quan hệ với quảng đường vận chuyển Số liệu thống kê tập hợp qua 12 tháng trong năm vừa qua (xem trang sau)

Áp dụng phương pháp điểm cao, điểm thấp phân tích chi phí bảo trì ở trên trong mối quan hệ với quảng đường vận chuyển như sau:

- Chọn điểm cao và điểm thấp:

Trang 28

Ta thấy điểm cao tức là điểm có mức độ hoạt động cao nhất là vào tháng 12 với M12 (xmax; ymax) = M12 (5.400; 570.000) Tương tự, điểm có mức hoạt động thấp nhất là vào tháng 2 với M2 (xmin; ymin) = M2 (1500; 375.000).

Tháng Chi phí (1.000 đ) Quảng đường (km)

- Xác định hằng số b của chi phí bất biến:

Thay giá trị của a vào phương trình biểu diễn chi phí bảo trì tháng 12, ta có:

4.3.2 Phương pháp đồ thị phân tán (the scatter-chart method)

Với phương pháp này, trước hết chúng ta sử dụng đồ thị để biểu diễn tất cả các số liệu thống kê được để xác định mối quan hệ giữa chi phí hỗn hợp với mức độ hoạt động

Trang 29

tương ứng Sau đó, quan sât vă kẽ đường thẳng qua tập hợp câc điểm vừa biểu diễn trínđồ thị sao cho đường thẳng đó lă gần với câc điểm nhất vă phđn chia câc điểm thănh hai phần xấp xỉ bằng nhau về số lượng câc điểm Như vậy, đường thẳng kẽ được sẽ lă đường đại diện cho tất cả câc điểm Điểm cắt giữa đường biểu diễn với trục tung phản ânh chi phí cố định Độ dốc của đường biểu diễn phản ânh tỉ lệ biến phí (biến phí đơn vị) Xâc định được câc yếu tố bất biến vă khả biến, đường biểu diễn chi phí hỗn hợp được xâc định bằng phương trình: y = ax + b

Trở lại ví dụ chi phí bảo trì ở trín, ta có đồ thị phân tán như sau:

y (Chi phí - 1.000đ)

Đường hồi qui cắt trục tung ở điểm có tung độ lă 309.740, đđy chính lă thănh phần chi phí bất biến trong chi phí bảo trì Đồng thời, quan sât chúng ta nhận thấy đường hồi qui đi qua điểm thâng 5 có mức độ hoạt động lă 4.000 km với chi phí bảo trì tương ứng lă 495.000 Thay giâ trị chi phí bất biến (309.740 đ) văo hăm biểu diễn của chi phí hỗn hợp ở điểm năy, ta xâc định được hệ số a của thănh phần chi phí biến đổi lă 46,9

Như vậy phương trình biểu diễn chi phí bảo trì có dạng:

Trang 30

Với phương pháp này, hệ số biến đổi a và hằng số b (trong phương trình bậc nhất biểu diễn chi phí hỗn hợp y = ax + b) được xác định theo hệ phương trình sau:

Giải hệ phương trình trên, ta tính ra được: a = 46,846 và b = 309.940

Vậy, theo phương pháp này, đường biểu diễn chi phí bảo trì có dạng:

y = 46,846 x + 309.940

Nhận xét ưu, nhược điểm của các phương pháp:

Trang 31

Trong 3 phương pháp trên, phương pháp điểm cao - điểm thấp là phương pháp đơn giản, dễ thực hiên nhất nhưng lại cho ra kết quả có độ chính xác kém nhất Lý do là

vì phương pháp này chỉ tính toán căn cứ và số liệu của 2 điểm có mức độ hoạt động cao

và thấp nhất, nên tính đại diện cho tất cả các mức độ hoạt động không cao Phương pháp

đồ thị phân tán đưa lại kết quả có độ chính xác cao hơn, nhưng vẫn dựa vào cách quan sát trực quan để vẽ đường hồi qui nên khó thực hiện Tuy vậy, phương pháp đồ thị phân tán có ưu điểm lớn là cung cấp cho các nhà quản lý một cách nhìn trực quan về quan hệ giữa chi phí với các mức độ hoạt động đạt được, thuận lợi trong việc quan sát và phân tích chi phí đối với các nhà phân tích có kinh nghiệm Sau cùng, phương pháp bình phương bé nhất sử dụng phương pháp phân tích thống kê áp dụng tính toán cho tất cả các điểm hoạt động nên là phương pháp cho ra kết quả chính xác nhất Nhược điểm của phương pháp này là tính toán phức tạp, mất nhiều thời gian Ngày nay, với sự hỗ trợ đắc lực của máy tính, việc tính toán theo phương pháp này cũng không còn gặp nhiều khó khăn, cho dù các điểm quan sát tăng lên với số lượng lớn

5 CÁC CÁCH PHÂN LOẠI CHI PHÍ SỬ DỤNG TRONG KIỂM TRA VÀ RA QUYẾT ĐỊNH

Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của doanh nghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác Nổi bật nhất là việc xem xét trách nhiệm của các cấp quản lý đối với các loại chi phí phát sinh, thêm nữa, các nhà quản lý nên nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích, so sánh để ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu trong các tình huống

5.1 Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được (controllable costs) hoặc là chi phí không kiểm soát được (non-controllable costs) ở một cấp quản lý nào đó

là tuỳ thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay là không Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí bao giờ cũng gắn liền với một cấp quản lý nhất định: khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó

có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi là chi phí kiểm soát được (ở cấp quản

lý đó), nếu ngược lại thì là chi phí không kiểm soát được

Chẳng hạn, người quản lý bán hàng có trách nhiệm trong việc tuyển dụng cũng như quyết định cách thức trả lương cho nhân viên bán hàng, do vậy, chi phí tiền lương trả cho bộ phận nhân viên này là chi phí kiểm soát được đối với bộ phận bán hàng đó Tương tự như vậy là các khoản chi phí tiếp khách, chi phí hoa hồng bán hàng, Tuy nhiên, chi phí khấu hao các phương tiện kho hàng, một khoản chi phí cũng phát sinh ở

bộ phận bán hàng, thì lại là chi phí không kiểm soát được đối với người quản lý bán hàng bởi vì quyền quyết định xây dựng các kho hàng cũng như quyết định cách thức tính khấu hao của nó thuộc về bộ phận quản lý doanh nghiệp

Trang 32

Chi phí không kiểm soât được ở một bộ phận năo đó thường thuộc hai dạng: câc khoản chi phí phât sinh ở ngoăi phạm vi quản lý của bộ phận (chẳng hạn câc chi phí phât sinh ở câc bộ phận sản xuất hoặc thu mua lă chi phí không kiểm soât được đối với người quản lý bộ phận bân hăng), hoặc lă câc khoản chi phí phât sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối vă kiểm soât từ cấp quản lý cao hơn (như chi phí khấu hao câc phương tiện kho hăng đối với người quản lý bộ phận bân hăng trong ví dụ trín) Cũng cần chú ý thím rằng việc xem xĩt khả năng kiểm soât câc loại chi phí đối với một cấp quản lý có tính tương đối vă có thể có sự thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ phđn cấp trong quản lý

Xem xĩt chi phí ở khía cạnh kiểm soât có ý nghĩa lớn trong phđn tích chi phí vă

ra câc quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toân trâch nhiệm trong doanh nghiệp

5.2 Chi phí trực tiếp vă chi phí giân tiếp

Trong câc doanh nghiệp sản xuất, câc khoản chi phí phât sinh có liín quan trực tiếp đến quâ trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện câc đơn đặt hăng, do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hăng và được gọi lă chi phí trực tiếp (direct costs) Ngược lại, câc khoản chi phí phât sinh cho mục đích phục vụ vă quản

lý chung , liín quan đến việc sản xuất vă tiíu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hăng cần được tiến hănh phđn bổ cho câc đối tượng sử dụng chi phí theo câc tiíu thức phđn bổ phù hợp, ta gọi lă chi phí giân tiếp (indirect costs) Thông thường, khoản mục chi phí nguyín vật liệu trực tiếp vă chi phí nhđn công trưc tiếp lă câc khoản mục chi phí trực tiếp, còn câc khoản mục chi phí sản xuất chung, chi phí bân hăng vă chi phí quản lý doanh nghiệp lă chi phí giân tiếp

Câch phđn loại chi phí năy giúp ích cho việc xđy dựng câc phương phâp hạch toân

vă phđn bổ thích hợp cho từng loại chi phí

5.3 Chi phí lặn (sunk costs)

Khâi niệm chi phí lặn chỉ nảy sinh khi ta xem xĩt câc chi phí gắn liền với câc phương ân hănh động liín quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chọn Chi phí lặn được hiểu lă khoản chi phí đê bỏ ra trong quâ khứ vă sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương

ân với giâ trị như nhau Hiểu một câch khâc, chi phí lặn được xem như lă khoản chi phí không thể trânh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương

ân năo Chính vì vậy, chi phí lặn lă loại chi phí không thích hợp cho việc xem xĩt, ra quyết định của người quản lý Tuy nhiín, trong thực tế, việc nhận diện được chi phí lặn cũng như sự nhận thức rằng chi phí lặn cần được loại bỏ trong tiến trình ra quyết định không phải lúc năo cũng dễ dăng Vấn đề sẽ được minh hoạ rõ ở chương 6 với nội dung phđn tích thông tin để ra quyết định

5.4 Chi phí chính lệch (differential costs)

Trang 33

Tương tự như chi phí lặn, chi phí chênh lệch (cũng còn được gọi là chi phí khác biệt) cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương án so với một phương án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên

cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định

5.5 Chi phí cơ hội (Opportunity costs)

Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác Chẳng hạn, với quyết định tự sử dụng cửa hàng để tổ chức hoạt động kinh doanh thay vì cho thuê thì thu nhập có được từ việc cho thuê của hàng trở thành chi phí cơ hội của phương án tự tổ chức kinh doanh

Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các phương án bị loại bỏ

Tóm lại: Cho nhiều mục đích khác nhau, chi phí được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau Trước hết là một sự hiểu biết chung cần có về nội dung của chi phí kết hợp với việc xem xét chức năng của nó Doanh nghiệp đã sử dụng những loại chi phí gì

và sử dụng vào các mục đích gì là những dạng thông tin nhất thiết phải có trong các báo cáo tài chính Tuy nhiên, phục vụ tốt cho hoạt động quản lý đòi hỏi những hiểu biết kỹ lưỡng hơn về chi phí Chi phí xem xét ở giác độ kiểm soát được hay không kiểm soát được là điều kiện tiền đề cho việc thực hiện kế toán trách nhiệm Chi phí khi được nhận thức và phân biệt thành dạng chi phí không thích hợp và chi phí thích hợp cho việc ra quyết định có tác dụng lớn phục vụ cho tiến trình phân tích thông tin, ra quyết định của người quản lý Được sử dụng một cách tích cực và phổ biến nhất trong kế toán quản trị

đó là cách phân loại chi phí theo cách ứng xử của nó với sản lượng thực hiện Xem xét chi phí theo cách thức ứng xử của nó giúp thấy rõ một mối quan hệ rất căn bản trong quản lý: quan hệ giữa chi phí - sản luợng - lợi nhuận Báo cáo thu nhập của doanh nghiệp lập theo cách nhìn nhận chi phí như vậy trở thành công cụ đắc lực cho người quản lý trong việc xem xét và phân tich các vấn đề

CÂU HỎI ÔN TẬP

Trang 34

Phân biệt chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ Hãy cho ví dụ liên quan đến chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ trong doanh nghiệp sản xuất, thương mại và dịch vụ.

Hãy chỉ ra sự khác biệt quan trọng nhất giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ trong việc phân loại chi phí là chi phí sản phẩm hay chi phí thời kỳ?Tại sao nói rằng: chi phí sản phẩm là chi phí tồn kho?

Khi phân loại chi phí theo chức năng kinh tế của chi phí, chi phí trong doanh nghiệp thương mại gồm những loại chi phí gì? Cho ví dụ minh họa

Phân biệt giữa biến phí và định phí Hãy cho mỗi loại hai ví dụ minh họa

Thế nào là nguồn sinh phí (Cost driver)? Nguồn sinh phí có vị trí như thế nào đối với cách ứng xử chi phí?

Tại sao có quan điểm cho rằng: định phí sản xuất chung trong các doanh nghiệp sản xuất là chi phí thời kỳ? Nếu nhìn nhận vấn đề này thì nó sẽ tác động như thế nào đối với báo cáo kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Phân tích ưu, nhược điểm của các phương pháp để phân tích chi phí hỗn hợp thành biến phí và định phí

10 Thế nào là chi phí cơ hội Hãy cho ví dụ minh họa Tại sao chi phí cơ hội không được sử dụng trong kế toán tài chính?

11 Thế nào là chi phí lặn, chi phí khác biệt Hãy cho ví dụ minh họa

BÀI TẬP THỰC HÀNH

Bài 2.1 Công ty May mặc X chuyên may áo sơ mi Một số chi phí phát sinh như trình

bày dưới đây Với mỗi khoản mục chi phí, hãy chỉ rõ nó thuộc loại chi phí nào trong các cách phân loại sau (mỗi chi phí phát sinh có thể thuộc nhiều nhóm):

Phân loại chi phí:

3 Chi phí thời kỳ 8 Chi phí nguyên vật liệu trực

tiếp

4 Chi phí sản phẩm 9 Chi phí nhân công trực tiếp

Các chi phí phát sinh

a Chi phí vải may áo g Chi phí khấu hao máy may

b Lương nhân viên may áo h Chi phí thuê nhà xưởng

c Chi phí lắp đặt bảng hiệu mới i Chi phí thuê cửa hàng

d Tiền lương nhân viên sửa máy may k Chi phí thuê văn phòng

e Chi phí tiền điện ở bộ phận may l Chi phí quảng cáo

f Tiền lương nhân viên bán hàng m Chi phí bảo hiểm cho công nhân

Trang 35

Bài 2.3 Chi phí sửa chữa bảo trì máy móc thiết bị tại một DNSX được nhận định là chi

phí hỗn hợp Để phân tích chi phí này, phòng kế toán sử dụng số liệu số giờ máy hoạt động và chi phí sửa chữa bảo trì trong năm vừa qua như sau:

2 Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất để ước lượng chi phí hỗn hợp

Bài 2.4 Chi phí sản xuất sản phẩm tại công ty A được nhận định là chi phí hỗn hợp,

trong đó phần biến phí có quan hệ với số lượng sản phẩm sản xuất Để phân tích, kế toán đã tập hợp tình hình chi phí sản xuất qua hai năm X4 và X5 theo từng quý như sau:

Năm Quý Số lượng Tổng chi phí

Trang 36

Bài 2.5 Một bệnh viện đa khoa trang bị một máy chụp cắt lớp Kế toán quản trị nhận

định rằng chi phí hoạt động máy chụp cắt lớp là chi phí hỗn hợp Để dự toán chi phí hoạt động của máy trong năm đến, phòng kế toán bệnh viện đã xem lại số liệu trong bốn quý năm vừa qua như sau:

Quý Số lượng bệnh

nhân (người)

Số giờ sử dụng (giờ)

Tổng chi phí (1.000đ)

Dựa vào phương pháp đồ thị phân tán, xác định nhân tố thích hợp ảnh hưởng đến

sự thay đổi chi phí hoạt động của máy chụp cắt lớp

Với nhân tố vừa xác định, vẽ đường chi phí và tính định phí, biến phí đơn vị

Sử dụng kết quả câu 1, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất để xác định biến phí đơn vị và định phí từng quý

Sử dụng kết quả câu 1, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất để xác định biến đổi phí và định phí

Theo dự đoán trong năm đến sẽ có 1.600 bệnh nhân sử dụng máy với số giờ hoạt động của máy là 1.400 Hãy ước tính chi phí hoạt động năm đến dựa vào kết quả câu 4

Bài 2.6 Khách sạn Năm Mới có 200 phòng, vào mùa du lịch bình quân có 70% số

phòng được thuê, ở mức này chi phí hoạt động bình quân là 90.000 đ/phòng/ngày Mùa

du lịch thường kéo dài trong 1 tháng (30 ngày) Tháng thấp nhất tỷ lệ thuê phòng chỉ đạt 40% Tổng số chi phí hoạt động của tháng này là 300.000.000 đ

Yêu cầu:

Xác định biến phí mỗi phòng trong ngày

Trang 37

Xác định tổng số định phí hoạt động trong tháng

Xây dựng công thức dự đoán chi phí Nếu tháng 4, khách sạn dự kiến số phòng thuê được là 65% thì tổng chi phí hoạt động trong tháng 4 là bao nhiêu?

Bài 2.7 Dựa vào các thông tin dưới đây, hãy vẽ đường biểu diễn thể hiện cách ứng xử

thích hợp nhất của từng loại chi phí:

1 Khấu hao MMTB, trong đó tổng số khấu hao tính theo số lượng sản phẩm sản xuất

2 Trong một hoá đơn tiền điện: gồm tiền điện trả theo định mức sử dụng và tiền điện vượt định mức Đơn giá cho mỗi Kwh điện vượt định mức là 600 đ và trong định mức là 450 đ Định mức điện cho mỗi hộ gia đình là 100 Kwh

3 Tiền lương sản phẩm của một tổ sản xuất như sau:

6 Số lượng nhân viên sửa chữa MMTB thuê tại phân xưởng tuỳ thuộc vào số giờ máy chạy Cứ 1000 giờ máy chạy cần một nhân viên sửa chữa Tiền lương trả cho mỗi nhân viên như nhau

7 Theo hợp đồng, công ty phải trả hàng tháng số tiền sửa chữa tối thiểu là 3.000.000 đ với tối đa năm lần sửa chữa Số tiền trả phụ trội cho mỗi lần sửa chữa là 500.000 đ

8 Tiền lương của các nhân viên bán hàng được tính như sau: lương tối thiểu là 50.000.000 đ/ năm, cộng 10% hoa hồng bán hàng sau khi đạt được 100.000.000 đ doanh

số, với tổng lương tối đa là 200.000.000 đ

Bài 2.8 Chi phí hỗ trợ kỹ thuật của một nhà máy sản xuất đồ hộp gồm hai loại: chi phí

nhân công và chi phí vật liệu, phụ tùng Một nghi vấn của bộ phận kỹ thuật cho biết chi phí này thay đổi theo số giờ máy chạy Số liệu thu thập trong 9 tháng vừa qua như sau:Tháng Chi phí hỗ trợ kỹ thuật (1.000 đ) Số lượng giờ

máy chạy

Trang 38

Biến phụ thuộc Biến độc lập

Chi phí nhân công Số giờ máy chạyChi phí vật liệu Số giờ máy chạy

Đánh giá từng trường hợp qua phân tích

2 Áp dụng phương pháp điểm cao, điểm thấp; ước lượng các tham số của hàm chi phí trong từng trường hợp

3 Áp dụng phương pháp phân tích tương quan hồi quy, hãy ước lượng và kiểm định các tham số của hàm chi phí trong từng trường hợp So sánh với kết quả yêu cầu 2 theo từng trường hợp tương ứng

Trang 39

CHƯƠNG 3 TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP

Tính giá thành là một nội dung có tính xuất phát điểm cho nhiều công việc khác trong kế toán quản trị, vì nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều chức năng quản trị, như hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định Công tác tính giá thành không chỉ là tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất, mà còn là giá thành của các hoạt động dịch vụ và nhiều hoạt động khác có nhu cầu quản trị chi phí Với vị trí đó, chương này tập trung vào các phương pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất để người học có thể vận dụng trong từng ngành kinh tế cụ thể Những xu hướng mới về tính giá thành đang vận dụng ở các nước công nghiệp phát triển cũng được đề cập để người học có thể vận dụng một cách phù hợp trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay

1 VAI TRÒ CỦA TÍNH GIÁ THÀNH VÀ NHỮNG QUAN TÂM KHI TỔ CHỨC TÍNH GIÁ THÀNH

Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình sử dụng các nguồn lực kinh tế tại doanh nghiệp để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có ích cho người tiêu dùng Quá trình đó làm phát sinh các loại chi phí tại nhiều địa điểm khác nhau trong doanh nghiệp

Do vậy, tập hợp chi phí và tính giá thành là một nội dung cơ bản và có tính truyền thống trong kế toán quản trị Vai trò của tính giá thành trong công tác quản trị doanh được thể hiện:

-Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, là cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của từng sản phẩm, ngành hàng, từng bộ phận và toàn doanh nghiệp

-Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ giúp các nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chi phí gắn với kết quả thực hiện được ở từng nơi phát sinh chi phí (từng phân xưởng, từng hoạt động…)

- Tính giá thành còn trợ giúp các nhà quản trị trong các nỗ lực nhằm giảm thấp chi phí sản phẩm, có giải pháp cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

-Tính giá thành sản phẩm còn là cơ sở để các nhà quản trị xây dựng một chính sách giá bán hợp lý, có tính cạnh tranh và là cơ sở cho nhiều quyết định tác nghiệp khác

Với tầm quan trọng đó, việc xây dựng và vận dụng một hệ thống tính giá thành phù hợp là rất cần thiết trong tổ chức công tác kế toán quản trị ở doanh nghiệp Việc xây dựng hệ thống tính giá thành cần quan tâm đến một số khía cạnh sau:

- Cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của vấn đề tính giá thành Một hệ thống tính giá thành rất chi tiết và cụ thể có thể cung cấp nhiều thông tin cho nhà quản trị, nhưng lại

Trang 40

mất nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là các chi phí về đào tạo Do vậy, hệ thống tính giá thành phức tạp chỉ vận dụng khi các nhà quản trị tin tưởng rằng hoạt động chung của toàn doanh nghiệp sẽ được cải thiện nhiều trên cơ sở các thông tin được cung cấp của hệ thống tính giá thành.

- Hệ thống tính giá thành cần phải được thiết kế phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại Nó phụ thuộc vào bản chất của ngành sản xuất, qui trình công nghệ, tính đa dạng của sản phẩm và dịch vụ và yêu cầu về thông tin cho công tác quản trị Chẳng hạn, tính giá thành trong các doanh nghiệp xây lắp hoàn toàn khác với doanh nghiệp may mặc, hoặc sản xuất nước giải khát Do vậy, khi xây dựng một hệ thống tính giá thành cần phân tích kỹ lưỡng qui trình sản xuất tiến hành như thế nào, cũng như phải xác định rõ dữ liệu nào cần thu thập và báo cáo

2 ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH

Kế toán định nghĩa chi phí là một nguồn lực được hy sinh hay mất đi để đạt một mục tiêu nhất định nào đó Chi phí phát sinh luôn gắn liền với một không gian cụ thể tại một thời điểm cụ thể Do tài nguyên của bất kỳ tổ chức nào cũng khan hiếm nên các nhà quản trị luôn đặt ra câu hỏi chi phí phát sinh ở đâu, với qui mô ra sao và ảnh hưởng đến các hoạt động khác như thế nào Do vậy, xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là một đặc tính quan trọng trong kế toán quản trị, bởi vì nó không chỉ đơn thuần phục vụ cho công tác tính giá thành mà còn liên quan đến công tác tổ chức dữ liệu, và phục vụ các nhu cầu khác của nhà quản trị

Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí

Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tổ chức tập hợp chi phí phục vụ tính giá thành Khái niệm này không chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất mà còn

có thể áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh khác Trên một góc độ chung, có hai biểu hiện về đối tượng tập hợp chi phí:

Một là, các trung tâm chi phí Trung tâm chi phí là những bộ phận trong doanh nghiệp mà nhà quản trị ở bộ phận đó chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh trong kỳ Trong DNSX, trung tâm chi phí có thể là từng phân xưởng, từng đội sản xuất, đơn vị sản xuất Mỗi phân xưởng có thể là một giai đoạn công nghệ trong quy trình sản xuất ở doanh nghiệp, hoặc có thể hoàn thành một công việc có tính độc lập nào

đó Trung tâm chi phí có thể là mỗi cửa hàng, quầy hàng trong doanh nghiệp thương mại, hoặc từng khách sạn, khu nghỉ mát, từng bộ phận kinh doanh trong doanh nghiệp

du lịch

Hai là, sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại, một công việc (đơn đặt hàng) hay một hoạt động, một chương trình nào đó như chương trình tiếp thị, hoạt động nghiên cứu và triển khai một sản phẩm mới, hoạt động sữa chữa TSCĐ Đối tượng tập hợp chi

Ngày đăng: 22/06/2014, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin trong doanh nghiệp - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin trong doanh nghiệp (Trang 3)
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ hệ thống hệ thống thông tin trong doanh nghiệp - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ hệ thống hệ thống thông tin trong doanh nghiệp (Trang 5)
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa Kế toán tài chính và Kế toán quản trị - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa Kế toán tài chính và Kế toán quản trị (Trang 9)
Sơ đồ 1.4. Sơ đồ thể hiện chức năng quản trị 2.4. Hỗ trợ ra quyết định - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Sơ đồ 1.4. Sơ đồ thể hiện chức năng quản trị 2.4. Hỗ trợ ra quyết định (Trang 11)
Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến theo mức độ hoạt động như  sau: - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
th ị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến theo mức độ hoạt động như sau: (Trang 21)
Đồ thị 2.3. Dạng phi tuyến và phạm vi phù hợp. - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
th ị 2.3. Dạng phi tuyến và phạm vi phù hợp (Trang 23)
Đồ thị 2.5. Phạm vi thích hợp của chi phí bất biến 4.3 Chi phí hỗn hợp (Mixed costs) - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
th ị 2.5. Phạm vi thích hợp của chi phí bất biến 4.3 Chi phí hỗn hợp (Mixed costs) (Trang 25)
Sơ đồ 4.1. Trình tự xây dựng dự toán tổng thể trong DNSX - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Sơ đồ 4.1. Trình tự xây dựng dự toán tổng thể trong DNSX (Trang 96)
Bảng 5.4. Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của công ty ABC - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Bảng 5.4. Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của công ty ABC (Trang 101)
Bảng 5.14. Dự toán cung ứng vật liệu - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Bảng 5.14. Dự toán cung ứng vật liệu (Trang 115)
Bảng 5.21. Bảng cân đối kế toán dự toán - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Bảng 5.21. Bảng cân đối kế toán dự toán (Trang 117)
Bảng 5.25. Bảng phân tích chi phí dựa trên dự toán linh hoạt - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Bảng 5.25. Bảng phân tích chi phí dựa trên dự toán linh hoạt (Trang 120)
Đồ thị 6.1. Ảnh hưởng nhân tố lượng và giá đối với doanh thu - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
th ị 6.1. Ảnh hưởng nhân tố lượng và giá đối với doanh thu (Trang 136)
Đồ thị dưới đây biểu diễn cách xác định điểm hòa vốn qua đồ thị CVP: - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
th ị dưới đây biểu diễn cách xác định điểm hòa vốn qua đồ thị CVP: (Trang 161)
Đồ thị 6.1: Đồ thị chi phí-sản lượng-lợi nhuận - Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
th ị 6.1: Đồ thị chi phí-sản lượng-lợi nhuận (Trang 161)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w