Dự án AusAID CARD 008/07VIE Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Việt Nam và Trương Đai học Sydney, Australia Kết quả điều tra tình hình sản xuất và chế biến khoai lang tại 3 tỉnh Quản
Trang 1Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
008/07VIE Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc
và Miền Trung Việt Nam
MS2: Báo cáo điều tra cơ bản
22 tháng 7 năm 2008
Trang 2MỤC LỤC
Tóm tắt…… ……… 3
I Tính cấp thiết ……… 4
II Mục đích điều tra……… 4
III Phương pháp điều tra ……… 4
IV Kết quả điều tra ……… 5
Bảng mẫu câu hỏi điều tra ……… 21
Trang 3Dự án AusAID CARD 008/07VIE
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Việt Nam và Trương Đai học Sydney, Australia
Kết quả điều tra tình hình sản xuất và chế biến khoai lang tại 3 tỉnh Quảng
Trị, Thanh Hóa và Bắc Giang, Việt Nam năm 2008
Các tổ chức hợp tác:
- Viện Cây lương thực và cây thực phẩm, Bộ Nông nghiệp và PTNT (MARD), Việt Nam
- Trường Đại học Sydney, Australia
Chủ nhiệm Dự án và các thành viên tham gia:
- Phía Việt Nam: PGS TS Nguyễn Văn Tuất
TS Trương Công Tuyện
- Phía Úc: GS.TS Les Copeland
Hải Dương, Việt Nam, Tháng 5 năm 2008 Tóm tắt
Một điều tra hiện tại về kỹ thuật sản xuất khoai lang và các sản phẩm sử dụng do các khuyến nông viên địa phương tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Bắc Giang và Quảng Trị Việc điều tra thông qua bảng câu hỏi đã xây dựng sẵn ( đã được ký kết giữa đối tác Viện Cây lương thực và cây thực phẩm và Trường Đại học Sydney; Attachment A) và được phỏng vấn tại 3 hợp tác xã cho mỗi huyện và 3 huyện cho một tỉnh đã được xác định điều tra, và trong đó bao gồm các nội dung:
Trang 4Nguồn gốc vật liệu trồng; phương phương pháp để giống; thời gian trồng và thu hoạch; Đầu vào; diện tích trồng; năng suất và hàm lượng chất khô củ; sử dụng củ; lá thân Một khái quát tổng thể về quá trình phát triển khoai lang và sự cần thiết cần phải tiến hành một dự án
Có một số kết luận rút ra từ điều tra như sau::
• Nông dân tại 3 tỉnh đã và đang trồng khoai lang từ rất lâu và chính cây trồng này đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân tại 3 tỉnh tiến hành điều tra Khoai lang đã được trồng xen canh trong hệ thống cây trồng
• Khoai lang được trồng chính tại vụ Xuân ở tỉnh Quảng Trị, vụ Đông ở tỉnh Thanh Hóa và Bắc Giang
• Nông dân cần đầu tư mới về: các giống khoai lang có năng suất cao và những gói kỹ thuật tiến tiến nhất là vật liệu trồng, giống trồng, kỹ thuật trồng cơ bản, kỹ thuật chế biến và bảo quản Những kỹ thuật về giống, kỹ thuật trong toàn bộ sự đầu tư của các địa phương dựa trên những kinh nghiệm của nông dân và rất tụt hậu
• Sản phẩm chế biến từ khoai lang rất đơn giản, đơn điệu Thân lá khoai lang chủ yếu dùng cho làm thức ăn gia súc Củ khoai lang, một phần dùng cho làm thức ăn gia súc, một phần làm lương thực và một phần sử dụng làm mục đích khác Tuy nhiên, sản phẩm chế biến như: tinh bột, chips và rượu chưa được coi trọng sản xuất
• Sản phẩm chế biến khoai lang đã và đang được thương mại hóa, và được bán tại nhà, chợ địa phương Dù vậy, giá cả khoai lang vẫn còn rất thấp và không ổn định, trong khi giá cả cho đầu tư cho sản xuất rất cao
I Tính cấp thiết của việc điều tra
Để thực hiện Dự án "Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam"
với các mục tiêu đặt ra là :
1) Lựa chọn một số giống khoai lang từ bộ giống khoai lang của Viện Cây lương thực có khả năng thích hợp với điều kiện canh tác tại khu vực miền Bắc, miền Trung, Việt nam giúp cho mục đích chế biến
2) Phát triển và đánh giá một số phương pháp chế biến khoai lang, (qui trình sản xuất bột, chips
và rượu từ củ khoai lang)
3) Phát triển phương pháp cách ủ chua thân lá, củ khoai lang phục vụ cho chăn nuôi tại chỗ cho các hộ nông dân
4) Tăng cường năng lực nghiên cứu của cán bộ khoa học và khuyến nông Việt Nam về kỹ thuật nâng cao chất lượng cây trồng, công nghệ bảo quản, chế biến, kỹ thuật phân tích chất lượng sản phẩm, sản xuất giống sạch bệnh
5) Nâng cao sự hiểu biết cho người dân để phát triển qui trình kỹ thuật chăm sóc cây khoai lang như là một phần của hệ thống canh tác bền vững
6) Xây dựng mô hình trình diễn giống tốt công nghệ sản xuất tiên tiến, tổ chức các hội nghị đầu
bờ nhằm truyền bá kiến thức tới người nông dân
Trang 5Việc đánh giá lại tình hình sản xuất và chế biến nông sản từ khoai lang tại 3 tỉnh đã được lựa chọn là: Quảng Trị, Thanh Hoá và Bắc Giang là rất cần thiết Từ những thông tin trên Dự án
sẽ đề ra các nội dung nghiên cứu sát thực với những yêu cầu của sản xuất đang đòi hỏi đặt ra
Sau đây chúng tôi xin trình bày những thông tin thu được từ các bảng câu hỏi có sẵn được
xây dựng từ trước tại 3 tỉnh nói trên
II Mục tiêu của điêu tra
-Đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến thực tế cây khoai lang tại 3 tỉnh Quảng Trị, Thanh Hoá và Bắc Giang Từ những khiếm khuyết của sản xuất sẽ đề ra hướng nghiên cứu của dự án sát với điều kiện thực tế hơn
III Phương pháp và nội dung Điều tra
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm điều tra
- Lựa chọn 3 tỉnh; Quảng Trị, Thanh Hoá và Bắc Giang
3.1.2 Chọn mẫu và phương pháp điều tra
+ Chọn điểm: Mỗi tỉnh chọn 3 huyện, mỗi huyện chọn 3 xã
+ Chọn maũu: Tiến hành điều tra các nông hộ tại các tỉnh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
+ Phương pháp điều tra: Phỏng vấn tình hình sản xuất, tiêu thụ và chế biến khoai lang theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của nông dân PRA (Participatory Rural Assesment) theo mẫu có sẵn được xây dựng từ trước
+ Những người phỏng vấn được tập huấn nội dung điều tra, phương pháp lấy số liệu trước khi tiến hành điều tra
+ Các số liệu được tập hợp và xử lý thống kê theo phần mềm EXEL
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra tình hình sản xuất cây khoai lang
- Các biện pháp thâm canh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế cây khoai lang tại các tỉnh điều tra
3.2.2 Tình hình chế biến từ cây khoai lang
Trang 6IV Kết quả thực hiện điều tra
4.1 Tình hình sản xuất cây khoai lang tại 3 tỉnh điều tra
4.1.1 Đất đai và tình trạng sử dụng đất tại các xã của các tỉnh điều tra
Từ kết quả điều tra ở bảng 1 cho thấy:
Bình quân diện tích đất nông nghiệp các xã trong từng huyện biến động từ 169,8-439,4ha
Diện tích này có sự thay đổi tuỳ theo từng xã trong huyện và từng huyện trong tỉnh Mỗi tỉnh
khác nhau diện tích trồng trọt cũng có sự biến đổi khác nhau Tuy nhiên, diện tích trồng khoai
lang trung bình của các xã ở các huyện tại 3 tỉnh biến động từ 10ha-61,3ha Các xã có diện tích
trồng khoai lang ít nhất thuộc về
Bảng 1: Số nhân khẩu và diện tích nông nghiệp, diện tích trồng khoai lang tại các
tỉnh điều tra (% trung bình các xã điều tra)
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
huyện Đông Sơn – Thanh Hoá Các xã có diện tích khoai lang nhiều thuộc về huyện Gio
Linh-Quảng Trị (47,6ha); Linh-Quảng Xương – Thanh Hoá (54,7ha) và Tân Yên-Bắc Giang (61,3ha)
Về số nhân khẩu trung bình của các xã trong các huyện biến động từ 2708- 8126 nhân
khẩu Xã có số nhân khẩu ít nhất thuộc về huyện Quảng Xương – Thanh Hoá Các xã có số nhân
khẩu nhiều thuộc về các xã thuộc huyện Hải Lăng-Quảng Trị (5049 khẩu); huyện tính Gia-
Thanh Hoá (8126 khẩu); huyện Hiệp Hoà -Bắc Giang (7690 khẩu)
4.1.2 Thời vụ, mục đích sử dụng khi trồng khoai lang và những đề nghị
Thông qua só liệu điều tra ở bảng 2 cho thấy:
- Thời vụ trồng khoai lang của hai tỉnh Thanh Hoá và Bắc Giang thời vụ khoai lang tập trung chủ
yếu vào vụ Đông Tuy nhiên, Tại tỉnh Quảng Trị thời vụ khoai lang lại tập chủ yếu vào vụ Đông
Trang 7Xuân Ngoài ra, tại tỉnh Thanh hoá trên đất chuyên màu của hai huyện Quảng Xương và Đông Sơn khoai lang còn được trồng cả trong vụ Xuân
Bảng 2: Thời vụ, mục đích sử dụng trồng khoai lang và những mong muốn điều chỉnh
trong tương lai (% trung bình số xã điều tra)
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
- Về mục đích sử dụng khi trồng khoai lang cho thấy: 100% số phiếu điều tra cho rằng trồng khoai lang lấy thân lá khoai lang làm thức ăn cho gia súc Tuy nhiên, chỉ có 30% củ khoai lang sản xuất ra được làm lương thực và 30% được làm thức ăn thức ăn giá súc Mặt khác, từ sản phẩm củ khoai lang tại tỉnh Quảng Trị có tới 20% tổng số củ được chế biến ra sản phẩm “Khoai gieo” tại cả các xã của 3 huyện điều tra Ngoài ra, số củ thu được chỉ có 10-20% được sử dụng
ăn tươi như là luộc và 10% được thương mại hoá thông qua trao đổi mua bán
Trang 8- Về ý kiến cần điều chỉnh trồng khoai lang trong tương lai cho thấy: 100% số phiếu nhất trí đề nghị là nên có điều chỉnh sản xuất khoai lang trong những năm tới mà trước mắt tập trung đi sâu vào cải tạo bộ giống khoai lang, thay các giống khoai lang cũ bằng các giống khoai lang mới có chất lượng, có năng suất cao Đi kèm với các giống mới, 100% các kiến nghị cũng tập trung vào xây dựng một quy trình canh tác mới và biện pháp canh tác khoai lang tiên tiến
4.1.3 Thực trạng sử dụng giống khoai lang tại 3 tỉnh điều tra
Khi thu thập thông tin về giống tại (bảng 3) ở các tỉnh điều tra cho thấy:
- Hiện tại ba tỉnh điều tra có gần 100% số xã đều trồng giống khoai lang địa phương chỉ trừ có hai huyện Tĩnh Gia và Đông Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá đã sử dụng giống khoai lang mới với tỷ
lệ tùe 33-67%
- Khi phỏng vấn tại sao lại sử dụng giống địa phương tại tỉnh Quảng Trị có 67-100% số phiếu trả cho rằng các giống địa phương có tính chịu hạn khá, 33% cho rằng có chất lượng ngon, có 33-67% cho rằng giá giống khoai lang mua rẻ, 33% cho rằng khoai địa phương chống chịu sâu bệnh tốt Tại tỉnh Thanh hoá có tới 67% số phiếu điều tra tán thành là giống địa phương có năng suất cao, 33-100% số phiếu cho rằng giống địa phương có chất lượng tốt, 33% cho rằng giống có giá rẻ Tại tỉnh Bắc Giang có 67-100% số phiếu cho rằng là giống địa phương có chất lượng tốt
- Khi hỏi về thông tin các giống khoai lang mới có tới 67% dân Quảng Trị biết được qua hệ thống thông tin đại chúng, 33% biết được từ bạn bè Tại tỉnh Thanh hoá, 67% biết được thông tin qua cán bộ khuyến nông, 33% biết từ hàng xóm và 33% qua hệ thống thông tin đại chúng Tại tỉnh Bắc giang có tới trên 70% nông dân biết tin giống mới qua hệ thống thông tin đại chúng, 30% biêt được qua bạn bè
- Khi phỏng vấn mua tại đâu? gần như 100% số phiếu điều tra cho rằng đều mua ở chợ hoặc thông qua hàng xóm láng giềng Tuy nhiên, có 67% số phiếu tại huyện Đông Sơn- tỉnh Thanh hoá cho rằng giống mới được mua thông qua cơ quan khuyến nông
- Về công tác chọn lọc và đánh giá giống khoai lang xem như rất coi nhẹ Tại tỉnh Quảng trị, Bắc Giang 100% khoai lang giống không được chọn lọc Tại Thanh hoá có 10% tỷ lệ số hợp tác xã
có công tác chọn lọc giống khoai lang và duy nhất chỉ có 10% số hợp tác đứng ra chọn lọc giống khoai lang giúp cho nông dân
Trang 9Bảng 3: Thông tin về nguồn giống khoai lang trồng tại các tỉnh
(% trung bình số xã điều tra)
Giống được mua ở đâu (%)
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
Trang 104.1.4 Kỹ thuật nhân giống và trồng khoai lang tại các tỉnh điều tra
Khi điều tra về kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật trồng khoai lang tại các điểm điều tra thống qua
số liệu bảng 4 cho thấy:
- Việc phục tráng giống khoai lang ở các tỉnh chưa hề được coi trọng 100% số xã nông dân sử dụng giống không qua phục tráng Dây giống sử dụng đều nhiều hơn 3 vụ (ngoại trừ 3 huyện của tỉnh Bắc Giang là sử dụng giống 3 vụ)
- Về phương pháp nhân giống nông dân chủ yếu gơ dây ở trong vườn với tỷ lệ là 100% Số hộ sử dụng củ làm vật liệu nhân giống là 0%
- Về sử dụng đoạn dây đem trồng 100% nông dân của các xã điều tra trên 3 tỉnh đều sử dụng đoạn dây đoạn 1 và 2 Các đoạn 3 và 4 nông dân không sử dụng
- Khi điều tra về phương pháp trồng khoai lang 100% số hộ nông dân đều trồng theo tập quán canh tác của từng địa phương, việc áp dụng canh tác khoai lang theo phương pháp mới chưa hề được chú trọng
Bảng 4: Một số thông tin về kỹ thuật trồng khoai lang tại các tỉnh điều tra
(%trung bình số xã điều tra)
Phương pháp nhân giống (%)
Gơ dây trong vườn 100 100 100 100 100 100 100 100 100
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
Trang 114.1.5 Thời vụ, diện tích và năng suất khoai lang tại các tỉnh điều tra
Thông qua việc điều tra tại 3 tỉnh Quảng Trị, Thanh Hoá và Bắc Giang về diện tích trồng, năng
suất và thời vụ trồng khoai lang, kết quả được ghi nhận tại bảng 5 cho thấy:
Bảng 5: Thời vụ, diện tích và năng suất khoai lang ở các tỉnh
điều tra (% trung bình số xã điều tra)
T9 đến T10
T9 đến T10
Ngày trồng đến T1 T12
T12 đến T1
T1 đến
T7 đến
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
Trang 12- Vụ Đông: khoai lang chỉ được trồng tại 2 tỉnh Thanh Hoá và Bắc Giang Thời vụ trồng bắt đầu vào tháng 9 và 10 trong năm và thu hoạch vào tháng 12 và tháng 1 năm sau với năng suất biến động từ 5,3-13 tấn/ha Riêng tỉnh Quảng Trị khoai lang không được trồng vào thời vụ này
- Vụ Đông –Xuân: Thời vụ này chỉ được trồng tại tỉnh Quảng Trị trong khung thời vụ từ tháng 12 đến tháng 1, thu hoạch trong tháng 6 và tháng 7
- Vụ Xuân: Khoai lang được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Thanh Hoá trong khung thời vụ từ tháng 1 đến tháng 2, thu hoạch vào tháng 5 và tháng 6
4.1.6 Phương thức làm đất, cách đặt dây và phương pháp trồng khoai lang
Khi điều tra về biện pháp canh tác khoai lang tại 3 tỉnh (số liệu bảng 6) cho thấy:
- Về phương pháp làm đất nông dân chủ yếu dự vào sức kéo của trâu, bò Tại hai tỉnh Thanh hoá
và Bắc giang tỷ lệ này chiếm từ 67-100%
- Việc làm đất bằng máy chie được áp dụng tại huyện Đông Sơn của tỉnh Thanh hoá với tỷ lệ là 100%, huyện Tân Yên của tỉnh Bắc Giang là 33%
- Việc làm đất bằng tay tập trung vào tỉnh Quảng Trị trên cả 3 huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Hải Lăng với tỷ lệ 66%
- Về phương pháp đặt dây trồng khoai lang nông dân Quảng Trị và Bắc Giang áp dụng phương pháp đặt dây theo kiểu mui thuyền chiếm tới 100% Riêng tỉnh Thanh Hoá nông dân đặt dây theo phương pháp thẳng hàng
- Về phương thức trồng: có tới 100% nông dân tại 3 tỉnh đều trồng khoai lang theo phương pháp lên luống
Bảng 6: Phương thức làm đất và trồng khoai lang tại các tỉnh điều tra
(% trung bình số xã điều tra)
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
Trang 134.1.7 Kỹ thuật bón phân cho khoai lang tại các điểm điều tra
Khi tiến hành điều tra về phương pháp bón phân Kết quả được ghi nhận tại bảng 7 cho thấy:
- 100% số hộ nông dân bón phân theo phương pháp truyền thống của địa phương Cách bón phân theo quy trình kỹ thuật không hề được áp dụng
- Lượng phân bón NPK cho khoai lang ở mỗi địa phương là rất khác nhau, với các mức phân chênh lệch khá lớn (xem bảng 7)
- Về cách bón phân của các địa phương cũng rất khác nhau Thậm chí ngay các huyện của một tỉnh cách bón phân này cũng khác nhau Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong tương lai
Bảng 7: Kỹ thuật bón phân cho khoai lang tại các tỉnh điều tra
(% trung bình số xã điều tra)
100NP
K +20N
100P 100(PC+
P)
100(PC +P) +20N
100(PC +P) +50N
100P+3 0N
100(P+P C) +30(N+
K)
100(P+P C) +30(N+ K)
Thúc lần 1
30(N+
K)
40N+5 0K
40N+5 0K
40(N+
K)
40(N+ K)
Thúc lần 2
40(N+
K)
40N+5 0K
30(N+
K)
30(N+ K)
Ghi chú: GL = Huyện Gio Linh; VL= Huyện Vĩnh Linh; HL = Huyện Hải Lăng
TG = Huyện Tĩnh Gia; QX = Huyện Quảng Xương; ĐS= Huyện Đông Sơn
TY = Huyện Tân Yên; VY = Huyện Việt Yên; HH = Huyện Hiệp Hoà
4.1.8 Tình hình tiêu thụ khoai lang tại các điểm điều tra
Khi điều tra về tình hình tiêu thụ sản phẩm khoai lang Kết quả được ghi nhận tại bảng 8 cho thấy:
- Khoai lang sau khi sản xuất ra đã được thương mại hoá Tại tỉnh: Qunảg Trị tỷ lệ được thương mại hoá từ 67-100%, Thanh Hoá là 33-67%, Bắc Giang từ 67-100%
- Về phương thức thương mại nông dân chủ yếu kết hợp cả hai phương pháp bán đó là: bán buôn
và bán lẻ Tuy nhiên tỷ lệ tập trung vào bán lẻ vẫn cao hơn (bảng 8)