Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn MARD 008/07VIE Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc và Miền
Trang 1Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD)
008/07VIE Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến
tại Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam
MS4: Đánh giá và chọn lọc một số giống khoai lang mới tại các tỉnh Bắc Giang, Thanh Hóa và
Quảng Trị, 2008 - 2009
Tháng 7 năm 2008
Trang 2Thông tin về tổ chức nghiên cứu
cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam
Tổ chức Nghiên cứu phía VN Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
trường Đại học Sydney
Thời gian hoàn thành (điều chỉnh) 02/2010
Thông tin liên lạc
Phía Úc: Chủ dự án
Tổ chức Khoa Nông nghiệp, Lương
thực và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Sydney
Email: l.copeland@usyd.edu.au
Phía Úc: Thông tin hành chính
Tổ chức Khoa Nông nghiệp, Lương thực
và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Sydney
Email: a.vervoort@usyd.edu.au
Phía Việt Nam:
Tên PGS.TS Nguyễn Văn Tuất Telephone: 0320 716395
Tổ chức Viện Cây lương thực và Cây thực
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Dự án "Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có củ có chất lượng
hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam"
có các mục tiêu sau:
1 Lựa chọn một số giống khoai lang từ bộ giống khoai lang của Viện Cây lương thực có khả năng thích hợp với điều kiện canh tác tại khu vực miền Bắc, miền Trung, Việt nam giúp cho mục đích chế biến
2 Phát triển và đánh giá một số phương pháp chế biến khoai lang, (qui trình sản xuất bột, chips và rượu từ củ khoai lang)
3 Phát triển phương pháp cách ủ chua thân lá, củ khoai lang phục vụ cho chăn nuôi tại chỗ cho các hộ nông dân
4 Tăng cường năng lực nghiên cứu của cán bộ khoa học và khuyến nông Việt Nam
về kỹ thuật nâng cao chất lượng cây trồng, công nghệ bảo quản, chế biến, kỹ thuật phân tích chất lượng sản phẩm, sản xuất giống sạch bệnh
5 Nâng cao sự hiểu biết cho người dân để phát triển qui trình kỹ thuật chăm sóc cây khoai lang như là một phần của hệ thống canh tác bền vững
6 Xây dựng mô hình trình diễn giống tốt công nghệ sản xuất tiên tiến, tổ chức các hội nghị đầu bờ nhằm truyền bá kiến thức tới người nông dân
7 Việc nghiên cứu một số giống khoai lang mới và biện pháp kỹ thuật tại các tỉnh
Bắc Giang, Thanh Hóa và Quảng Trị năm 2008-2009 nhằm chọn ra giống khoai
lang mới phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng là rất cần thiết
Dưới đây là kết quả thu được từ các thí nghiệm triển khai tại 10 địa phương thuộc 3
tỉnh Bắc Giang, Thanh Hóa, Quảng Trị và Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
II MỤC TIÊU
- Chọn ra được 1-2 giống khoai lang tốt nhất có năng suất cao chất lượng tốt cho 3 tỉnh Quảng Trị, Thanh Hoá và Bắc Giang
III PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
1 Viện Cây lương thực
2 Bắc Giang (Bich Sơn, Việt Yên, Ngoc Châu, Tân Yên, Mai Trung, Hiệp Hoà)
3 Thanh Hoa (Nguyên Bình, Tĩnh Gia, Quảng Lưu, Quang Xương, Đông Thành, Đông Sơn)
4 Quảng Trị (Vĩnh Thái, Vĩnh Linh, Gio Hải, Gio Linh, Hai Quy, Hai Lang,)
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Gồm 10 giống được chọn lựa từ Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm và lấy giống khoai lang Hoàng Long hoặc giống khoai địa phương làm giống đối chứng
Trang 43.1.3 Kiểu thí nghiệm
- Ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD)
- Diện tích thí nghiệm: 11 giống x 4 nhắc x 15 m2 = 660 m2
- Cắt và trồng cho toàn bộ các điểm thí nghiệm với các vật liệu sạch bệnh
- Khoảng cách trồng: giữa hai cây trong hàng là 0.2m và mật độ trồng là 40.000 cây/ha
- Trồng dây thẳng theo mặt luống
3.1.6 Thời gian trồng: Đông và Xuân 2008-2009
Thanh Hoá và Bắc giang: 5-10 tháng 10 năm 2008
Trang 53.1.9 Nước tưới:
- Mô hình được tưới nước sau khi bón phân ba ngày
3.1.10.Thu thập số liệu thu hoạch;
- Củ khoai lang được thu hoạch từ giữa của 4 m dài theo luống của mỗi công thức - Củ khoai lang được theo dõi các chỉ tiêu bị hại bởi các yếu tố sâu, bệnh, bị gãy/công thức
- Đếm số củ trong mỗi công thức
- Cân khối lượng củ (Khối lượng và đếm số củ) củ to có trọng lượng từ; 30-50g, 51-100g
và >100g, củ nhỏ <30g
3.1.11 Cán bộ tham gia:
- Viện Cây lương thực: Nguyễn Văn Tuất, Trương Công Tuyện, Nguyễn Đạt Thoại, Trương Thị Thuỷ, Nguyễn Phan Anh, Trần Quốc Anh, Đỗ Thị Liễu, và Nguyễn Thị Hiền
- Trường Đại học Sydney: Les Copeland, Peter Sharp, Richard Trethowan
3.12 Xử lý thống kê- +Các số liệu được tập hợp và xử lý thống kê theo phần mềm do
chuyên gia Úc giúp
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Giới thiệu đặc điểm, nguồn gốc chọn tạo các giống khoai lang mới
- Đặc tính thực vật học của 11 giống tham gia thí nghiệm
- Đặc điểm khí hậu thời tiết năm 2008-2009 tại 3 tỉnh Bắc Giang, Thanh Hoá và Quảng Trị
- Kết quả đánh giá và chọn lọc giống khoai mới tại Bắc Giang
- Kết quả đánh giá và chọn lọc giống khoai mới tại Thanh Hoá
- Kết quả đánh giá và chọn lọc giống khoai mới tại Quảng Trị
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Giới thiệu đặc điểm, nguồn gốc chọn tạo các giống khoai lang mới
4.1.1 Nguồn gốc chọn tạo của các giống khoai lang:
1 Giống khoai lang KL5:
Giống KL-5 (từ tổ hợp thụ phấn tự do (Open Pollinated) của giống số 8) Thân lá
trung bình, lá xẻ thuỳ sâu khả năng sinh trưởng khoẻ và tái sinh nhanh, thích hợp cho việc cắt tỉa thân lá định kỳ Thân lá mềm ngọt thích hợp làm thức ăn gia súc Năng suất thân lá 25-30 tấn/ha, năng suất củ rất cao, trung bình đạt 20- 22tấn/ha nếu thâm canh có thể đạt 28-30 tấn/ha
2 Giống khoai lang Số 8:
Giống khoai lang Số 8 được lai tạo từ hai giống 1b Miền Nam × Bất Luận Xuân,
là giống có tiềm năng năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn 90 - 120 ngày Trong điều kiện bình thường giống Số 8 cho năng suất từ 12 - 15 tấn củ/ha, nếu thâm canh cao có thể đạt được 20 - 25 tấn củ/ha Giống có tính thích ứng rộng
3 Giống khoai lang KB1:
Giống khoai lang KB1 là giống được chọn từ tổ lai tự nhiên (Open Pollinated) giống mẹ là Regal (có nguồn gốc từ Mỹ) ký hiệu dòng là: 93-65-629 Gièng KB-
Trang 61có đặc điểm lá non có màu tím, lá trưởng thành có hình tam giác màu xanh Dạng củ thuôn nhẵn, vỏ củ màu trắng, ruột củ màu trắng ngà
4 Giống khoai lang HT2:
Giống khoai lang HT2 được chọn lọc từ một giống địa phương của Hà Tây, ký hiệu: HT2 Giống HT2 có đặc điểm lá non và lá trưởng thành hình tam giác xanh nhạt có răng cưa ở phía ngoài Dạng củ thuôn nhẵn, củ dài màu vỏ trắng, củ có độ
bở cao hương vị ngon rất thích hợp cho ăn tươi Năng suất đạt 20-22 tấn/ha
5 Giống khoai lang TM1:
Giống khoai lang TM1 được chọn lọc từ một giống địa phương của Hải Dương,
ký hiệu: TM1 Giống TM1 có đặc điểm lá non và lá trưởng thành hình tim, màu xanh nhạt có răng cưa ở phía ngoài Dạng củ dài, củ màu đỏ hồng, ruột củ màu trắng.Năng suất đạt 18-22 tấn/ha
6 Giống khoai lang VC01:
Giống khoai lang VC01 được chọn lọc từ một giống địa phương của Thái Bình,
ký hiệu là VC01 Giống VC01 có đặc điểm thân bò, lá non và lá trưởng thành hình tim màu xanh Dạng củ dài, vỏ có màu trắng ngà, ruột củ màu trắng Năng suất củ đạt 18-20 tấn/ha
7 Giống khoai lang VC68-2:
Giống khoai lang VC86-2 được nhập nội từ CIP, ký hiệu là VC86-2 Giống khoai lang VC68-2 có dạng thân bò, thân và lá có màu xanh đậm, lá dạng hình tim Dạng củ tròn, vỏ củ màu tím, ruột củ màu trắng ngà.Năng suất đạt 25-28tấn/ha
8 Giống khoai lang VC97-6-3:
Giống khoai lang VC97-6-3 được chọn lọc từ tổ hợp lai tự do của giống khoai lang 97-6 Giống có dạng thân bò, lá và thân có màu xanh nhạt, lá dạng hình tim
Củ có dạng tròn, vỏ củ màu trắng, ruột củ màu trắng ngà Năng suất trung bình của VC97-6-3 đạt 22-25 tấn/ha
9 Giống khoai lang VC04-24:
Giống khoai lang VC04-24 được chọn lọc từ tổ hợp lai ký hiệu là VC04-24 Giống khoai lang VC04-24 có đặc điểm dạng thân nửa đứng, thân và lá có màu xanh nhạt Lá trưởng thành hình tim xẻ thuỳ nông, dạng củ tròổnguột củ màu vàng có điểm hồng Năng suất đạt từ 20-22 tấn/ha
10 Giống khoai lang VC02-193:
Giống khoai lang VC02-193 được chọn lọc từ tổ hợp lai tự do (Open Pollinated) của giống khoai lang KB4 Giống khoai lang VC02-193 có đặc điểm dạng thân
bò, thân màu xanh nhạt, lá màu xanh đậm, lá trưởng thành xẻ thuỳ sâu Củ có màu trắng, dạng củ dài, ruột củ màu trắng ngà Năng suất củ trung bình đạt 20-22 tấn/ha
11 Giống khoai lang Hoàng Long:
Giống khoai lang Hoàng Long có nguồn gốc từ Trung Quốc nhập nội vào nước ta
từ năm 1969 Hiện được trồng phổ biến ở nhiều địa phương Thân bò màu vàng,
lá hình tim, lá non phớt tím Vỏ củ màu hồng, thịt củ màu ngà Năng suất củ khá cao, năng suất thân trung bình Chất lượng củ trung bình Khả năng ra hoa đậu quả trung bình
Trang 74.2 Đặc tính thực vật học của 11 giống tham gia thí nghiệm
Kết quả trong bảng 1 cho thấy mỗi một giống có những đặc điểm thực vât học
riêng biệt nhìn chung các giống khoai lang có dạng thân nửa đứng hoặc là bò lan Màu
sắc thân các giống có màu xanh đến xanh đậm Tuy nhiên giống khoai lang Hoàng Long
có thân màu tím Về màu sắc lá các giống có màu xanh hoặc xanh đậm Riêng giống
khoai lang Hoàng Long lá có màu tím nhạt Dạng lá của các giống tham gia thí nghiệm
cũng khá khác nhau có giống xẻ thuỳ sâu, giống xe thuỳ nông, có giống có lá dạng hình
tim, có giống dạng hình tim nhưng có răng cưa (bảng 1)
Bảng 1: Các đặc tính thực vật học của 11 giống khoai lang trong dự án CARD
STT Chỉ
tiêu
Giống
Dạng thân
Màu sắc thân
1 KL5 Nửa đứng Xanh Xanh Xẻ thuỳ sâu Đỏ Dài Trắng ngà
2
Số 8 Nửa đứng Xanh đậm Xanh đậm Xẻ thuỳ Đỏ tím Dài Vàng ngà
3 KB1 Nửa đứng Xanh Xanh
nhạt Tim Trắng ngà Tròn Vàng ngà có điểm tím
4 HT2 Nửa đứng Xanh Xanh Xẻ thuỳ nông Trắng Dài Trắng
5 TM1 Nửa đứng Xanh Xanh Tim có răng
Xanh nhạt Tim Trắng ngà Tròn Trắng ngà
9
VC04-24 Nửa đứng
Xanh nhạt
Xanh nhạt Xẻ thuỳ nông Tím Tròn
Vàng có điểm hồng
10
Xanh đậm Xẻ thuỳ sâu Trắng Dài Trắng ngà
11 Hoàng
4.3 Đặc điểm khí hậu thời tiết năm 2008-2009 tại 3 tỉnh Bắc Giang, Thanh Hoá và
Quảng Trị
4.3.1 Nhận xét thí nghiệm tại Bắc Giang
Cây khoai lang có nguồn gốc nhiệt đới Để thân lá sinh trưởng thuận lợi, hình
thành và phát triển tốt khoai lang cần nhiệt độ tương đối cao, nhiệt độ thích hợp là
khoảng 21-23oC Vốn có nguồn gốc nhiệt đới nên cây khoai lang có phản ứng với ánh
sáng ngày ngắn Thời gian chiếu sáng thích hợp trong một ngày từ 8-10 giờ
Trang 8Bảng 2: Tình hình thời tiết khí hậu tỉnh Bắc Giang năm 2008
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Giang
Bảng 3: Tình hình thời tiết khí hậu tỉnh Bắc Giang năm 2009
Tháng Nhiệt độ trung bình
( 0 C
Tổng lượng mưa (mm)
Độ ẩm không khí (%)
Tổng số giờ nắng
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Giang
Thí nghiệm tại Bắc Giang bắt đầu từ 5-10/10/2008 thu hoạch vào 15/2 /2009 thông qua
số liệu thời tiết tại bảng 2 và 3 cho thấy:
- Giai đoạn đầu trồng khoai lang tháng 10 và tháng 11 nhiệt độ tương tối tốt để
cho khoai lang sinh trưởng và phát triển (tháng 10 nhiệt độ là 29.80C, tháng 11
là 20.50C) bảng 2
- Đến giai đoạn phình to củ tháng 12 và tháng 1 năm sau nhiệt độ đột ngột hạ quá
thấp nên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tích luỹ chất dinh dưỡng về củ Nhiệt
độ lúc này chỉ còn 17.30C tại tháng 12 và 14.90C tại tháng 1 năm sau Ngoài ra
số giờ chiếu sáng suốt từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 2 năm 2009 là quá thấp
biến động từ 5.1 giờ/ngày tại tháng 11/2008, 4.3 giờ/ngày tại tháng 12/2008, 3.1
giờ/ngày tại tháng 1/2009
Nếu so với tiêu chuẩn về nhu cầu về nhiệt độ (21-230C) và số giờ chiếu sáng
(8-10giờ/ngày) thì thì thí nghiệm tại Bắc Giang bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố
ngoại cảnh
Trang 94.3.2 Nhận xét thí nghiệm tại Thanh Hoá
Bảng 4: Tình hình thời tiết khí hậu tỉnh Thanh Hoá năm 2008
Tháng Nhiệt độ trung bình
( 0 C
Tổng lượng mưa (mm)
Độ ẩm không khí (%)
Tổng số giờ nắng
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Thanh Hoá
Bảng 5: Tình hình thời tiết khí hậu tỉnh Thanh Hoá năm 2009
Tháng Nhiệt độ trung bình
( 0 C
Tổng lượng mưa (mm)
Độ ẩm không khí (%)
Tổng số giờ nắng
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Thanh Hoá
Thí nghiệm tại Thanh Hoá bắt đầu từ 5-10/10 năm 2008 thu hoạch vào 15/2 năm
2009 thông qua số liệu thời tiết tại bảng 4 và 5 cho thấy:
- Giai đoạn đầu trồng khoai lang tháng 10 và tháng 11 nhiệt độ tương tối tốt để
cho khoai lang sinh trưởng và phát triển (tháng 10 nhiệt độ là 25.70C, tháng 11
là 21.70C) bảng 2a
- Đến giai đoạn phình to củ tháng 12 và tháng 1 năm sau nhiệt độ đột ngột hạ
xuống nhưng không quá thấp như ở tỉnh Bắc Giang nên đỡ ảnh hưởng đến quá
trình tích luỹ chất dinh dưỡng về củ Nhiệt độ lúc này chỉ còn 18.60C tại tháng
12 và 16.20C tại tháng 1 năm 2009 Ngoài ra số giờ chiếu sáng biến động giữa
các tháng trong năm đạt 4.3 giờ/ngày tại tháng 11/2008, 3.5giờ/ngày tháng
12/2008, 2.5giờ/ngày tháng 1/2009
Trang 10Nếu so với tiêu chuẩn về nhu cầu về nhiệt độ (21-230C) và số giờ chiếu sáng
(8-10giờ/ngày) thí nghiệm tại Thanh Hoá cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố
ngoại cảnh
4.3.3 Nhận xét thí nghiệm tại Quảng Trị
Thí nghiệm tại Quảng Trị bắt đầu từ 15-20/12 năm 2008 thu hoạch vào 15-20 /4
năm 2009 thông qua số liệu thời tiết tại bảng 6:
- Giai đoạn đầu trồng khoai lang tháng 15/12/2008 và tháng 1/2009 nhiệt độ
tương tối thấp ảnh hưởng nhất định đến sinh trưởng và phát triển khoai lang
(nhiệt độ tháng 1 năm 2009 là 18.10C, tháng 2 là 23.50C) bảng 6
- Đến giai đoạn phình to củ tháng 2 (23,50C) và tháng 3 (24.10C) năm 2009 nhiệt
độ khá ổn định và thích hợp cho khoai lang tích luỹ chất dinh dưỡng về củ Tuy
nhiên, số giờ chiếu sáng/ ngày rất thấp (tháng 1 đạt 2.3giờ/ngày, tháng 2 đạt
4.4giờ/ngày, tháng 3 đạt 4.1 giờ/ngày) nên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
quang hợp
Nếu so với tiêu chuẩn về nhu cầu về nhiệt độ (21-230C) và số giờ chiếu sáng
(8-10giờ/ngày) thì thí nghiệm tại Quảng Trị cũng bị ảnh hưởng lớn bởi yếu tố
Độ ẩm không khí (%)
Tổng số giờ nắng
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Quảng Trị
4.4 Kết quả đánh giá và chọn lọc giống khoai lang mới tại Bắc Giang và Thanh Hóa
Từ kết quả thu được tại bảng 7 cho thấy: Nếu xét chung cho tất cả các điểm thí
nghiệm cho từng giống, có 2 giống khoai lang có khối lượng trung bình củ lớn đó là
giống KB1 đạt 73.43g, tiếp đến là giống VC 04-24 đạt 71.37g vượt xa giống đối hứng
Hoang Long và giống địa phương Tuy nhiên chỉ số này có sự chênh lệch đáng kể các
giống ở giữa các điểm nghiên cứu từ điểm nghiên cứu S1 cho đén điểm S6 (Số liệu bảng
7) Các điểm S1, S2 và S5 có chỉ số trung bình củ đều cao hơn só với các điểm S3, S4 và
S6 Như vậy, ngoài yếu tố giống, yếu tố môi trường (bao gồm yếu tố đất đai, khí hậu thời
tiết) cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chỉ tiêu trung bình củ của các giống khoai lang
Trang 11Bảng 7: Khối lượng trung bình củ của các giống khoai lang tại các điểm thí nghiệm vụ đông năm 2008 (g)
S1= Bích Sơn-Việt Yên, Bắc Giang S2= Cao Xá, Tân Yên, Bắc Giang
S3= Đồng Quang, Đông Sơn, Thanh Hoá S4= Mai Trung, Hiệp Hoà, Bắc Giang
S5= Nguyên Bình, Tĩnh Gia, Thanh Hoá S6= Quang Minh, Quảng Xương, Thanh Hoá
Khi đánh giá hàm lượng chất khô củ của các giống tham gia thí nghiệm tại 2 tỉnh
Thanh Hóa và Bắc Giang số liệu bảng 8 đã chỉ ra rằng: có 2 giống có hàm lượng chất khô cao nhất đó là: giống HT2 đạt 25.65% và VC.01 đạt 25.38%, Ngoài ra, các giống hàm lượng chất khô biến động từ 20-23% (số liệu bảng 8) Các chỉ tiêu của 2 giống trên vượt xa giống khoai lang đối chứng Hoàng Long (21.29%) và giống địa phương (20.49%) Tuy nhiên, trong cùng 1 giống các điểm khác nhau tỷ lệ chất khô cũng khác nhau ví dụ: giống khoai lang HT2 tại điểm S1 đạt 23.37%, nhưng điểm S2 đạt 33.5% và điểm S6 đạt 30.73% Tuy nhiên tại điểm S3 tỷ lệ chất khô chỉ đạt 18.57% Như vậy rõ ràng ngoài yếu tố giống, yếu tố môi trường của từng vùng sinh thái đã tác động rất mạnh đến năng suất và chất lượng củ của các giống khoai lang
Nguyên nhân tác động chủ yếu ở dây là do điều kiện khí hậu thời tiết vụ Đông tại 2 tỉnh Thanh Hóa và Bắc Giang không thuận lợi nên hàm lượng chất khô của các giống chưa phản ánh được tiềm năng của các giống
Trang 12Bảng 8: Tỷ lệ chất khô củ của các giống khoai lang ở các điểm thí nghiệm vụ đông năm 2008 (%)
S1= Bích Sơn-Việt Yên, Bắc Giang S2= Cao Xá, Tân Yên, Bắc Giang
S3= Đồng Quang, Đông Sơn, Thanh Hoá S4= Mai Trung, Hiệp Hoà, Bắc Giang
S5= Nguyên Bình, Tĩnh Gia, Thanh Hoá S6= Quang Minh, Quảng Xương, Thanh Hoá
Bảng 9: Tỷ lệ chất khô thân lá các giống khoai lang tại các điểm thí nghiệm vụ đông
S1= Bích Sơn-Việt Yên, Bắc Giang S2= Cao Xá, Tân Yên, Bắc Giang
S3= Đồng Quang, Đông Sơn, Thanh Hoá S4= Mai Trung, Hiệp Hoà, Bắc Giang
S5= Nguyên Bình, Tĩnh Gia, Thanh Hoá S6= Quang Minh, Quảng Xương, Thanh Hoá