Vì nguồn lực còn hạn chế nên cộng đồng các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi cần phải lựa chọn đầu tư các nguồn lực đó vào các chương trình nghiên cứu ưu tiên, có khả năng mang lại
Trang 1Bộ Nông nghiệp và PTNT
CÁC ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU CHĂN NUÔI
THÚ Y, GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
HỘI THẢO XẾP HẠNG ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU
TẠI HÀ NỘI
Trang 2Mục lục
1 Giới thiệu 1
2 Phương pháp Error! Bookmark not defined 2.1 Mục đích Error! Bookmark not defined 2.2 Khung ưu tiên nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.3 Chuẩn bị trước Hội thảo Error! Bookmark not defined Tổ chức và kế hoạch Tập huấn về phương pháp xác định ưu tiên Các lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu (ARDOs) 2
Bảng số liệu, phiếu đánh giá và tài liệu hướng dẫn hội thảo 4
2.4 Tổ chức Hội thảo 5
Địa điểm và cách tổ chức Hội thảo 5
Chủ tọa và người hướng dẫn thảo luận nhóm 5
Quy trình Hội thảo 3 Kết quả Hội thảo 5
3.1 Lợi nhuận thu được nếu đầu tư nghiên cứu 5
3.2 Tính hấp dẫn 7
3.3 Tính khả thi 9
4 Các ưu tiên nghiên cứu trong từng ARDO 11
5 Danh mục đầu tư cho nghiên cứu 13
6 Các bước tiếp theo 14
Tài liệu đính kèm
Tài liệu hướng dẫn cách xác định ưu tiên nghiên cứu cho ngành Chăn nuôi thú y
Bản thông tin và số liệu dùng để xác định ưu tiên nghiên cứu cho ngành Chăn nuôi thú y
Trang 31 Giới thiệu
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những kỳ vọng của chính phủ đối với Nông nghiệp và phát triển nông thôn Năm 2007 Bộ NN&PTNT đã vạch ra các mục tiêu cho ngành Chăn nuôi theo đó đến năm 2010 tổng đàn lợn của cả nước sẽ đạt 35-40 triệu con, trâu 2,8-3 triệu con, bò thịt 6,5 triệu con, bò sữa 200 ngàn con và sản xuất 300 ngàn tấn sữa tươi, và gia cầm là 380-390 triệu con Để đạt được các mục tiêu này đòi hỏi ngành chăn nuôi phải có mức tăng trưởng 12-15%/năm trong khi tốc
độ tăng trưởng của toàn ngành nông nghiệp là 3-5%/năm
Việt Nam hiện vẫn đang là nước nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi và với mức thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi đặc biệt là thịt đỏ (trâu, bò, lợn, dê, cừu) được dự đoán sẽ vượt quá khả năng cung cấp của các cơ sở sản xuất trong nước Sự thay đổi lớn trong cơ cấu ngành chăn nuôi vẫn còn xảy ra với tốc
độ chậm nhưng với riêng chăn nuôi lợn và gia cầm thì chăn nuôi thâm canh qui mô lớn đang ngày càng phát triển Xu hướng thay đổi cơ cấu này rất có thể sẽ được đẩy nhanh và đòi hỏi mức đầu tư vốn tăng lên đáng kể
Nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi có truyền thống là tập trung vào các hệ thống chăn nuôi qui mô nhỏ nhưng trong những năm gần đây các nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của các hệ thống chăn nuôi thâm canh qui mô lớn Đối với đại gia súc khả năng cung cấp đầy đủ thức ăn có chất lượng đảm bảo đang là yếu tố chính cản trở sản xuất và sự phát triển của chăn nuôi bò sữa và bò thịt sẽ phụ thuộc rất lớn vào việc nâng cao khả năng sử dụng các phụ phẩm của ngành trồng trọt, sự phát triển sản xuất các loại thức ăn bổ sung với giá thành hợp lí và việc đưa vào sản xuất cũng như phát triển các loại cây thức ăn mới hoặc các giống đã được cải tiến Đối với gia súc nhỏ, lợn và gia cầm, cũng cần phát triển các hệ thống nhân giống, chăn nuôi và vỗ béo thâm canh Khả năng cạnh tranh với các sản phẩm chăn nuôi ngoại nhập có giá thành thấp hơn và chất lượng cao hơn của Việt Nam còn thấp và nếu sức cạnh tranh không được cải thiện đáng
kể thì cái giá mà Việt Nam phải trả cho việc nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi sẽ còn tiếp tục tăng lên Trên tất cả, Việt Nam dễ bị ảnh hưởng bởi các đợt dịch bệnh truyền nhiễm có thể gây nên những tổn thất nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi và mang đến mối
đe dọa cho sức khỏe cộng đồng Việc xây dựng các cơ chế kiểm soát và phòng bệnh mới, được cải tiến sẽ là công việc tối quan trọng để Việt Nam có thể đạt được các mục tiêu sản xuất đề ra
Các cơ hội để nghiên cứu đóng góp vào sự phát triển của ngành chăn nuôi, qua đó nâng cao hơn nữa mức đóng góp của chăn nuôi cho tổng GDP của cả nước, đã tăng lên và các vấn đề nghiên cứu đã trở nên phức tạp hơn Tuy nhiên có sự hạn chế đối với nguồn lực nghiên cứu (nhân lực, kinh phí, cơ sở hạ tầng) mà có thể sử dụng để đem lại các lợi ích từ nghiên cứu Vì nguồn lực còn hạn chế nên cộng đồng các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi cần phải lựa chọn đầu tư các nguồn lực đó vào các chương trình nghiên cứu ưu tiên, có khả năng mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất Câu hỏi quan trọng nhất về mặt chính sách là nên đầu tư vào nghiên cứu cái gì Việc xây dựng trình tự các ưu tiên và danh mục vốn đầu tư cho nghiên cứu là khâu đầu tiên của một chiến lược nghiên cứu sẽ mang lại những cải thiện cho tính thích hợp và mức độ tác động của nghiên cứu Do đó, việc định ra các ưu tiên nghiên cứu là một khâu quan trọng của quá trình phân bổ nguồn
Trang 4cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Nông nghiệp và PTNT (CARD) do AusAID tài trợ
Báo cáo này trình bày chi tiết phương pháp đã sử dụng và những kết quả đạt được từ Hội thảo xác định ưu tiêu nghiên cứu trong lĩnh vực Chăn nuôi thú y tổ chức tại Hà Nội ngày
12 tháng 12 năm 2007 Các ưu tiên nghiên cứu được xác định tại Hội thảo này là bước khởi đầu cho việc định ra các Chương trình nghiên cứu và việc xác định danh mục vốn đầu tư cho nghiên cứu Ngay sau khi công việc này được hoàn thành Bộ NN&PTNT sẽ xây dựng và và công bố Kế hoạch nghiên cứu trung hạn cho lĩnh vực Chăn nuôi thú y
2 Phương pháp
2.1 Mục đích
• Đưa ra phương pháp xác định ưu tiên hợp lý và phù hợp để Bộ NN và PTNT sử dụng trong tương lai
• Xác định các lĩnh ưu tiên để đầu tư trong số những lĩnh vực cơ hội nghiên cứu và phát triển (sau đây xin được viết tắt là ARDO) cho Chăn nuôi Thú y
• Xác định ưu tiên giữa các đối tượng trong từng ARDO
• Phác thảo những bước tiếp theo trong việc xây dựng chiến lược nghiên cứu đối với các Chương trình nghiên cứu được ưu tiên cao và xây dựng Kế hoạch nghiên cứu Trung hạn
2.2 Khung ưu tiên nghiên cứu
Phân tích ưu tiên được dựa vào Khung phân tích các Tiêu chí đã được chấp nhận ở nhiều điều kiện khác nhau tại các nước đang phát triển
Khung khái niệm được trình bày trong Sơ đồ 1
Trang 5Sơ đồ 1 Khung ưu tiên nghiên cứu
Lợi ích/Tác động tiềm năng
cản khả năng đạt được Lợi ích tiềm năng
Lợi nhuận từ đầu tư
cho nghiên cứu và
Nghiên cứu đối với phát triển
NN và nông thôn
Năng lực nghiên cứu
Phương pháp đã được trình bày cụ thể trong Tài liệu Hội thảo (Tài liệu 1) với trợ giúp
của các Bản Thông tin và Dữ liệu về các ARDO (Tài liệu 2)
Mục đích của Hội thảo là tạo quyền sở hữu qua việc xây dựng sự nhất trí giữa người sử
dụng kết quả nghiên cứu và người cung cấp kết quả nghiên cứu đối với các lĩnh vực ưu
tiên nghiên cứu 60 đại biểu đại diện cho nghiên cứu và quản lý nghiên cứu, cán bộ
khuyến nông, trường đại học và nghiên cứu, công ty Nhà nước, tư nhân đã tham dự Hội
thảo
Hội thảo yêu cầu đại biểu đọc Tài liệu và cho điểm từng ARDO theo 4 Tiêu chí và mang
kết quả cho điểm sơ bộ đến Hội thảo 4 Tiêu chí gồm (i) Lợi ích tiềm năng; (ii) Khả năng
(hoặc những cản trở) để đạt được Lợi ích tiềm năng; (iii) Tiềm năng nghiên cứu; và (iv)
Năng lực nghiên cứu Hội thảo chia đại biểu thành các Nhóm làm việc Mỗi Nhóm được
một cán bộ (của Vụ KHCN và Viện nghiên cứu) điều khiển, các cán bộ này đã được tập
huấn cách hướng dẫn Nhóm Trong từng Nhóm, đại biểu trình bày lý do cho điểm từng
ARDO và sau khi thảo luận họ có thể sửa lại điểm đã chấm nếu thấy cần thiết Các bảng
điểm được thu lại và được nhập vào phần mềm Excel
Sau khi đã xếp hạng các ARDO, các đối tượng trong mỗi ARDO cũng được xác định ưu
tiên Đây là bước đầu tiên hướng tới việc xây dựng các Chương trình nghiên cứu tổng
hợp (đa ngành)
Trang 62.3 Chuẩn bị trước Hội thảo
Tổ chức và lập kế hoạch
Bộ NN và PTNT đã thành lập Nhóm xây dựng ưu tiên nghiên cứu và phát triển Nhóm có nhiệm vụ đưa ra những căn cứ và hướng dẫn xây dựng các ưu tiên cho nghiên cứu nông nghiệp Một Hội thảo phác thảo quy trình xây dựng ưu tiên đã được trình bày với Nhóm
và từng thành viên của Nhóm giúp họ đảm trách việc thúc đẩy tiến độ và điều khiển, chủ trì các Hội thảo xây dựng ưu tiên
Tập huấn Phương pháp xác định ưu tiên
Bộ NN và PTNT đã thành lập Mạng lưới Theo dõi và Đánh giá (M&E) Mạng lưới bao gồm các cán bộ của Vụ KHCN và của các Viện nghiên cứu với trách nhiệm theo dõi và đánh giá Đã tổ chức 2 Hội thảo tập huấn với Nhóm này Trong hai Hội thảo, 12 thành viên của Nhóm từ Bộ NN và PTNT và Bộ Thủy sản đã thể hiện sự hiểu biết về phương pháp Sau đó các thành viên của Nhóm đã điều khiển các Hội thảo xác định ưu tiên và hướng dẫn nhóm trong các Hội thảo xác định ưu tiên
Các lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu (ARDOs)
Hội thảo lần thứ nhất gồm các cán bộ chủ chốt của các Cục, Viện nghiên cứu trong lĩnh vực Chăn nuôi và thú y đã thảo luận và thống nhất danh mục các lĩnh vực cần ưu tiên nghiên cứu trong Chăn nuôi và thú y
Bảy lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu đã được xác định Mẫu viết Bản thông tin dữ liệu và đánh giá đã được thiết kế cho các ARDO Các cán bộ chủ chốt có kiến thức rộng về sâu
về ngành chăn nuôi của các Cục và Viện nghiên cứu được chỉ định thu thập và viết bản Thông tin, dữ liệu và đánh giá cho từng ARDO
Bảy ARDO đó là:
ARDO 1: Đại gia súc ARDO 2: Tiểu gia súc nhai lại ARDO 3: Chăn nuôi lợn ARDO 4: Chăn nuôi gia cầm ARDO 5: Côn trùng hữu ích (ong và tằm) ARDO 6: Vaxin và thuốc thú y
ARDO 7: Chế biến và bảo quản thức ăn gia súc
Bản thông tin dữ liệu và tài liệu hướng dẫn hội thảo
Sau khi nhận được các tài liệu Thông tin và Dữ liệu về các ARDO do người viết gửi tới, Văn phòng CARD biên tập lại để đảm bảo các thông tin dữ liệu cần thiết đã được cung cấp và các tài liệu đã viết theo cùng mẫu
Tài liệu Thông tin và Dữ liệu của 7 ARDO được in riêng theo từng ARDO (Phụ lục 1 và 2), sau đó in thành tập và gửi tới đại biểu tham dự Hội thảo trước ngày họp Tài liệu gửi đại biểu có nêu phương pháp xác định ưu tiên, cách cho điểm và yêu cầu đại biểu đọc các Bản Thông tin dữ liệu về 7 ARDO và cho điểm sơ bộ từng ARDO dựa theo 4 Tiêu chí
Trang 72.4 Tổ chức Hội thảo
Địa điểm và cách tổ chức Hội thảo
Hội thảo được tổ chức tại Khách sạn La Thành, Hà Nội vào ngày 12 tháng 12 năm 2007
Chủ trì và người hướng dẫn thảo luận nhóm
Ông Hoàng Kim Giao (Cục Chăn nuôi) và Ông Lê Văn Bầm (Vụ Khoa học và Công nghệ) đồng chủ tọa Hội thảo xác định các ưu tiên nghiên cứu
Trước Hội thảo, thành viên của Nhóm Theo dõi và Đánh giá và một số cán bộ được tuyển chọn của các Viện nghiên cứu đã gặp Điều phối viên kỹ thuật của CARD để nắm nội dung Hội thảo và phác thảo quá trình điều khiển Nhóm làm việc trong Hội thảo
Danh sách hướng dẫn thảo luận Nhóm gồm:
Ông Vũ Chí Cương, Viện Chăn Nuôi
Ông Phạm Sĩ Tiệp, Viện Chăn Nuôi
Ông Tống Xuân Chinh, Cục Chăn Nuôi
Ông Trịnh Phú Ngọc, Viện Thú y
Ông Nguyễn Viết Hải, Vụ Khoa học và Công nghệ
Tiến trình Hội thảo:
Hội thảo đã tiến hành theo trình tự như sau:
1 Đưa ra cách thức và tiến trình Hội thảo, giới thiệu tóm tắt phương pháp và phác thảo Khung ưu tiên
2 Mô tả cụ thể tiêu chí đánh giá Lợi ích tiềm năng trong đó có những nội dung đánh giá chủ yếu
3 Đại biểu cho điểm sơ bộ tiêu chí Lợi ích tiềm năng của từng ARDO
4 Thảo luận Nhóm về lý do cho điểm cao nhất và thấp nhất về Lợi ích tiềm năng Sau đó đại biểu xem lại điểm mình đã chấm và điều chỉnh nếu thấy cần
5 Thu bản chấm điểm của đại biểu và nhập điểm vào excel cho tiêu chí Lợi ích tiềm năng
6 Lặp lại các bước từ 2 đến 5 cho 3 tiêu chí đánh giá còn lại (Khả năng đạt được Lợi ích tiềm năng, Tiềm năng nghiên cứu và Năng lực nghiên cứu)
7 Chia lại các đại biểu theo các Nhóm chuyên ngành (theo ARDO) để xác định ưu tiên cho các đối tượng/sản phẩm trong mỗi ARDO
8 Trình bày kết quả Hội thảo
9 Phác thảo Những Bước Cần Thiết Tiếp Theo để xây dựng các ưu tiên nghiên cứu
3 Kết quả Hội thảo
3.1 Lợi nhuận thu được nếu đầu tư nghiên cứu
Lợi nhuận thu được nếu đầu tư nghiên cứu được xác định từ Tính hấp dẫn và Tính khả thi của hoạt động đầu tư nghiên cứu Lợi nhuận tương đối của khoản đầu tư ở mỗi ARDO được trình bày vắn tắt dưới đây
Trang 8Nhận xét
Những điểm chính cần lưu ý trong kết quả đánh giá của Hội nghị đối với lợi nhuận có thể thu được nếu đầu tư đem nghiên cứu là:
Nhóm các ARDO có lợi nhuận cao nhất
• ARDO 6 (Vaxin và thuốc thú y) được đánh giá là có khả năng thu lợi nhuận cao nhất từ đầu tư nghiên cứu Lợi nhuận cao do tiềm năng nghiên cứu đóng góp vào nâng cao năng suất của ngành chăn nuôi là khá lớn Mức lợi nhuận do đầu tư đem lại có thể còn tăng cao hơn nữa nếu tính hấp dẫn (tương đối thấp do khả năng khai thác bị đánh giá là thấp và năng lực nghiên cứu của ARDO này đã được cải thiện)
có thể đạt được Có thể dễ dàng nhận thấy khả năng thu được lợi nhuận cao nếu đầu tư vào ARDO này vì nguy cơ gia súc chết hàng loạt do bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam cao và vì bệnh dịch có ảnh hưởng rất lớn đối với năng suất vật nuôi
• Lợi nhuận từ đầu tư nghiên cứu ARDO 3 và 4 (Lợn và Gia cầm) là tương tự nhau
và chỉ thấp hơn một chút so với ARDO 6 Điều này có thể giải thích dựa trên qui
mô của chăn nuôi lợn và gia cầm và tiềm năng nâng cao năng suất khi thay đổi phương thức chăn nuôi theo hướng thâm canh qui mô lớn để dễ áp dụng công nghệ tiên tiến hơn Tuy nhiên, do tiềm năng nghiên cứu tương đối thấp nên mức lợi nhuận có thể thu được từ đầu tư nghiên cứu bị kéo xuống thấp hơn Tiềm năng nghiên cứu thấp có thể do mức đầu tư nghiên cứu vào lĩnh vực này trước đây đã khá cao và cũng có thể đối với hệ thống chăn nuôi truyền thống thì lợi nhuận tăng thêm nhờ nghiên cứu sẽ bị hạn chế trong khi hệ thống chăn nuôi thâm canh qui
mô công nghiệp có khuynh hướng nhập khẩu công nghệ, thiết bị và tự trang bị năng lực nghiên cứu cho riêng mình
Trang 9• Nhóm này bao gồm ARDO 1 (Đại gia súc) và ARDO 7 (Chế biến và bảo quản thức ăn chăn nuôi)
• Cả hai ARDO này đều có điểm về tính khả thi tương đối cao nhưng tính hấp dẫn
ở mức trung bình Kết quả đánh giá từng chỉ tiêu cho thấy trong khi Lợi ích tiềm năng, Tiềm năng nghiên cứu và Năng lực nghiên cứu là tương đối cao thì Khả năng khai thác được các tiềm năng này lại tương đối thấp Các lí do cho khả năng khai thác thấp bao gồm qui mô chăn nuôi đại gia súc còn nhỏ nên khó cải tiến năng suất thông qua chọn lọc và lai tạo, những khó khăn trong việc tiếp cận và bảo quản cũng như gia tăng giá trị cho các phụ phẩm của ngành trồng trọt sử dụng làm thức ăn gia súc, thiếu diện tích chăn thả đặc biệt là trong mùa vụ trồng lúa, sự kiểm soát ngành công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc của các công ty lớn với đa phần là công ty nước ngoài thống trị, và sự thiếu hụt nguồn lực để tiếp thu và sử dụng các hệ thống sản xuất và bảo quản thức ăn thô
Nhóm các ARDO có lợi nhuận thấp nhất
• Lợi nhuận thu được nếu đầu tư cho nghiên cứu của ARDO 2 (Tiểu gia súc) và ARDO 5 (Côn trùng hữu ích) là thấp ngang nhau Tuy nhiên tiềm năng nghiên cứu cho côn trùng hữu ích đạt mức trung bình cho thấy sự đa dạng hóa các sản phẩm từ ngành nuôi ong và việc tạo ra các giống tằm có năng suất cao hơn có thể mang đến cơ hội nhỏ cho đầu tư nghiên cứu
3.2 Tính hấp dẫn
Tính hấp dẫn là sự ước tính thực tế phần lợi ích tương đối có thể đạt được Tính hấp dẫn được đánh giá bằng cách xây dựng đồ thị mô tả mối quan hệ giữa Lợi ích tiềm năng của ARDO với Khả năng khai thác lợi ích tiềm năng đó Đồ thị dưới đây trình bày các giá trị trung bình của điểm số do các thành viên tham gia Hội thảo chấm
Nhận xét:
Những điểm chính cần lưu ý trong kết quả đánh giá của Hội nghị đối với tính hấp dẫn của nghiên cứu là:
Trang 10Nhóm các ARDO có tính hấp dẫn cao
Chăn nuôi lợn là ngành có tính hấp dẫn cao nhất ở Việt Nam Điều này phản ánh qui mô của ngành công nghiệp này, sự thay đổi cơ cấu đang diễn ra với sự phát triển các hệ thống chăn nuôi thâm canh có qui mô lớn hơn Tính hấp dẫn của ngành chăn nuôi gia cầm cũng cao nhưng thấp hơn so với lợn Mặc dù sự thay đổi trong cơ cấu của ngành chăn nuôi gia cầm diễn ra sớm hơn với sự tham gia của các công ty thương mại qui mô lớn nhưng lợi ích tiềm năng thấp hơn có thể là do tác động tiềm ẩn của dịch bệnh chẳng hạn dịch cúm gia cầm và đánh giá cho rằng chăn nuôi gia cầm có mức rủi ro cao hơn chăn nuôi lợn
Hội thảo đã đánh giá và cho rằng khả năng khai thác lợi ích tiềm năng của ngành chăn nuôi lợn và chăn nuôi gia cầm là cao và điều này có thể là do hầu hết các hộ chăn nuôi ở khu vực nông thôn đã có nhiều kinh nghiệm với các hệ thống chăn nuôi lợn và chăn nuôi gia cầm truyền thống cũng như mức độ tiếp thu công nghệ của các hệ thống chăn nuôi qui mô lớn hơn nhìn chung là nhanh
Nhóm các ARDO có tính hấp dẫn trung bình
Nhóm ARDO tiếp theo bao gồm Vaxin và thuốc thú y, Đại gia súc và Chế biến và bảo quản thức ăn gia súc
• ARDO 6 (Vaxin và thuốc thú y) có lợi ích tiềm năng cao (tương đương với lợn và gia cầm) Tính hấp dẫn thấp hơn, theo đánh giá của các thành viên tham gia Hội thảo, có thể do nhìn chung ngành chăn nuôi khó thu được lợi ích đem lại bởi những tiến bộ trong sản xuất các sản phẩm thú y và các kỹ năng quản lí gia súc Điều này có thể có thể do công nghệ phức tạp hơn với những khó khăn trong việc