Từ năm 1999, hợp tác nghiên cứu về ruồi hại quả với Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Australia ACIAR đã xác định được thành phần ruồi hại quả ở Việt nam, mức độ thiệt hại do ruồi
Trang 1SỬ DỤNG BẢ PROTEIN PHÒNG TRỪ RUỒI HẠI QUẢ TRONG SẢN XUẤT
MỘT SỐ LOẠI QUẢ VÀ RAU ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM
Lê Đức Khánh, Đào Đăng Tựu, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Trần Thanh Toàn,
Vũ Thị Thuỳ Trang, Phan Minh Thông, Vũ Văn Thanh, Đặng Đình Thắng
I Đặt vấn đề
Ruồi hại quả là đối tượng gây hại trên nhiều loại quả và rau ăn quả của các nước trên thế giới Do chúng có phổ ký chủ rộng và phạm vi gây hại rất rộng từ vùng ôn đới đến vùng nhiệt đới nên chúng là đối tượng gây hại nguy hiểm hàng đầu cho sản xuất một số loại rau ăn quả và hầu hết các loại quả Ruồi hại quả là đối tượng kiểm dịch của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, hầu hết các loại quả đều bị ruồi gây hại và tỷ lệ quả bị hại ngày càng gia tăng và
đã gây tổn thất lớn cho người sản xuất Nhiều loại quả có giá trị kinh tế và có tiềm năng xuất khẩu nhưng quả lại bị ruồi gây hại như: Nhãn, vải, mận, đào, hồng, mướp đắng, thanh long Theo Dick Drew, Hà Minh Trung và CTV [2], ở đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ quả ổi bị hại tới 100%, còn ở miền núi phía Bắc tỷ lệ quả đào bị hại là 70-100%
Từ năm 1999, hợp tác nghiên cứu về ruồi hại quả với Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Australia (ACIAR) đã xác định được thành phần ruồi hại quả ở Việt nam, mức độ thiệt hại
do ruồi trên một số loại cây ăn quả (CĂQ) và rau ăn quả (RĂQ), biện pháp phòng ruồi hại quả bằng
bả protein Báo cáo này thể hiện các kết quả đã được nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả tại nhiều vùng ở miền Bắc và Bắc trung bộ
II Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Điều tra thu thập thành phần ruồi bằng bẫy dẫn dụ
- Chất dẫn dụ: Methyl eugenol (ME) và Culure (CuE)
- Thời gian thu mẫu: + Khu vực Hà Nội: 1 tuần/ lần
+ Các vực khác: 2 tuần /lần
- Địa bàn đặt bẫy thu thập thành phần ruồi tại các vùng sinh thái
+ Vùng miền núi (MR): Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Lạng Sơn, Hoà Bình
+ Vùng trung du (ML): Bắc Giang, Phú Thọ,
+ Vùng đồng bằng sông Hồng (RRD): Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng
+ Vùng bắc Trung bộ (NCC): Nghệ An, Thừa Thiên Huế
Điều tra thành phần ký chủ của ruồi từ quả bị hại
Địa bàn thu thập thành phần ký chủ ruồi hại quả (quả ăn được và quả dại) tại miền Bắc và Bắc trung
bộ
+ Vùng miền núi (MR): Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thái Nguyên, Hà Giang, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai
+ Vùng trung du (ML): Bắc Giang, Phú Thọ,
+ Vùng đồng bằng sông Hồng (RRD): Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam
+ Vùng bắc Trung bộ (NCC): Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế
Trang 2Đánh giá mức độ thiệt hại do ruồi hại quả
- Chủng loại quả đánh giá: Các loại cây ăn quả (CĂQ) và rau ăn quả (RĂQ) có giá trị kinh tế, ruộng đánh giá không sử dụng thuốc trừ sâu
- Thời vụ đánh giá: Bắt đầu thu hoạch đến kết thúc thu hoạch, định kỳ 5 -7 ngày thu mẫu ngẫu nhiên
100 quả đưa về phòng Mẫu được đặt mỗi quả vào 1 hộp để thu ruồi và xác định tỷ lệ quả bị hại
Phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein
- Hỗn hợp phòng trừ: 100 ml Ento -pro + 0,1g Regent 800 WG + 0,9 lít nước
- Loại cây ăn quả: Đào mèo, táo ta, ổi, hồng
- Phương pháp phun: Mỗi cây phun 1 điểm, mỗi điểm phun 1m2 cách mặt đất 1,5 - 2 m, phun vào mặt sau tán lá, không phun vào quả
- Liều lượng phun: Phun 50 ml hỗn hợp / điểm
- Thời điểm phun: phun trước thu hoạch rộ 1,5 - 2 tháng, đến thu hoạch xong
- Sử dụng bẫy dẫn dụ để đánh giá quần thể ruồi tại khu vực phun bả và không phun bả
- Phương pháp lấy mẫu:
Lấy ngẫu nhiên 100 quả ở vùng phun bả và vùng đối chứng không sử dụng bả trước khi mỗi lần phun
- Chỉ tiêu theo dõi: Tính tỷ lệ % quả bị ruồi hại ở vùng phun bả và vùng đối chứng không phun bả
III Kết quả và thảo luận
3.1 Thành phần loài ruồi hại quả và phân bố ở các vùng sinh thái
Kết quả nghiên cứu thành phần ruồi hại quả thu được từ bẫy dẫn dụ và quả bị hại cho thấy số lượng loài ruồi hại quả ở các tỉnh miền Bắc và bắc Trung bộ là rất phong phú gồm 23 loài thuộc 2
giống Bactrocera và Dacus Giống Bactrocera có 21 loài thuộc 3 giống phụ, giống Dacus có 2 loài thuộc giống phụ Callantra Bẫy CuE thu được 16 loài ruồi trong khi đó bẫy ME chỉ thu được 5 loài Riêng 2 loài B pyrifoliae và B latifrons không thu được ở cả 2 loại bẫy dẫn dụ Me, CuE
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thành phần loài ở vùng núi phong phú hơn vùng trung du
và vùng đồng bằng sông Hồng Có 10 loài ghi nhận được ở Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hải Phòng (RRD), 9 loài ở Bắc Giang, Phú Thọ (ML) và 7 loài ở Thừa Thiên Huế và Nghệ An (NCC) Trong khi đó 19 loài ruồi hại quả thu được ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn và Hoà Bình (MR)
3.2 Thành phần ký chủ của ruồi hại quả
Bảng 1 Số lượng mẫu quả thu thập tại miền Bắc và bắc Trung bộ (2001 - 2005)
Nhóm cây
Tổng số loại Số loại có ruồi Tổng số Có ruồi
Kết quả điều tra thành phần ký chủ của ruồi hại quả theo phương pháp thu thập quả bị hại, đã ghi nhận được 831 mẫu quả có ruồi trên tổng số 1122 mẫu đã thu Xác định được 34 loại quả bị ruồi
Trang 3gây hại trên tổng số 52 loại cây điều tra Có 6 loài ruồi gây hại trên 18 loại quả ở miền Bắc và bắc Trung bộ, 3 loài gây hại trên 11 loại rau quả và 4 loài gây hại trên 5 loại cây dại (bảng 1,2,3,4) Bảng 2 Thành phần ký chủ của ruồi hại quả trên một số loại cây ăn quả (2001-2005)
T
T
Tên VN Tên khoa học
BD
Ghi chú: BDO: B dorsalis; BCO: B correcta; BPY: B pyrifloliae BCA : B carambolae;
BCU : B cucurbitae ; BTA : B tau ; BLA : B latifrons ; BVE : B verbascifoliae
Bảng 3 Thành phần ký chủ của ruồi hại quả trên một số loại rau ăn quả (2001 - 2005)
Loài ruồi hại quả
TT Tên Việt
Nam
Tên
Tổng cộng
Trang 4Bảng 4 Thành phần ký chủ của ruồi hại quả trên một số loại quả dại
Loài ruồi hại quả
TT Tên
Vi ệt Nam
Tên khoa học
BLA BLA BLA BLA
Tổng cộng
Ghi chú: BD: B dorsalis; BCA: B carambolae; BCU : B cucurbitae; BLA: B latifrons
3.3 Đánh giá mức độ thiêt hại do ruồi gây ra
Đánh giá mức độ thiệt hại do ruồi hại quả gây ra được thực hiện từ năm 1999 - 2007 trên 7
loại CĂQ và 1 loại RĂQ tại một số vùng trồng CĂQ và RĂQ tập trung tại một số tỉnh miền núi phía
Bắc Kết quả cho thấy tất cả các loại quả theo dõi đánh giá đều bị ruồi gây hại từ trung bình tới rất
nặng
Bảng 5: Mức độ thiệt hại do ruồi trên một số loại cây ăn quả và rau ăn quả (2002 - 2007)
Tỷ lệ quả bị hại (%)
TT Loại quả Thời gian đánh
giá (năm)
Địa điểm
Đầu vụ Giữa vụ Cuối vụ
2 Mướp đắng
6 Hồng nhân hậu
* Quả đã được bọc trong túi nilon
Với các loại quả, ruồi gây hại từ trước khi thu hoạch từ 40 - 45 ngày ngay khi quả bắt đầu vào giai
đoạn chín sinh lý tới khi thu hoạch Đối với các loại quả có thời gian thu hoạch trong mùa hè hoặc hè
thu, tỷ lệ quả bị hại tăng dần từ đầu vụ tới cuối vụ như: đào từ 4% đầu vụ tăng lên 100% vào cuối
vụ, vải từ 2% giữa vụ tăng lên 10% vào cuối vụ, ổi từ 60,0% giữa vụ tăng lên 94% vào cuối vụ Các
loại quả thu hoạch cuối mùa thu hay trong mùa đông thì tỷ lệ quả bị hại cao nhất vào giữa vụ như
hồng Nhân hậu và quýt Bắc sơn giữa vụ là 51,5%, cuối vụ là 7,5%, quýt vàng Bắc sơn giữa vụ là
Trang 529%, cuối vụ là 0 % (bảng 5) Trong vụ thu dông do thời tiết có xu thế lạnh dần càng về cuối vụ
càng rét nên trong điều kiện nhiệt độ xuống thấp không thuận lợi cho ruồi gây hại
Với các loại rau ăn quả (mướp đắng) ruồi gây hại ngay từ khi quả còn non và tỷ lệ quả bị hại
trong vụ xuân hè cao hơn vụ thu đông (bảng 5)
3.4 Phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein
3.4.1 Phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein ở diện hẹp
Bảng 6 Kết quả phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein diện hẹp tại một số địa phương
Tỷ lệ quả bị hại (%) Năm Địa điểm thí nghiệm Loại cây
Phòng trừ Không phòng trừ
2 000
14,0 21,00
Từ năm 1999-2002, thí nghiệm phòng ruồi hại quả bằng bả protein diện hẹp được thực hiện trên
nhiều loại cây trồng và nhiều vùng sinh thái:
- Phòng trừ ruồi hại quả trên cam được thực hiện tại Cao Phong-Hoà Bình
- Phòng trừ ruồi hại quả đào Mèo được thực hiện tạị SaPa-Lao Cai
- Phòng trừ ruồi hại quả ổi được thực hiện tạị Thanh Liêm-Hà Nam
- Phòng trừ ruồi hại quả đào Mèo được thực hiện tạị Lóng Luông-Mộc Châu-Sơn La
Kết quả của các thí nghiệm phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein trên diện tích hẹp đưa lại hiệu quả
thấp Tỷ lệ quả bị hại có giảm nhưng tỷ lệ giảm không nhiều (chỉ giảm được 5-53%, bảng 6)
3.4.2 Mối quan hệ giữa mật độ quần thể ruồi và tỷ lệ quả bị hại
Bảng 7 Mối quan hệ giữa mật độ ruồi và tỷ lệ quả bị hại trên đào
2002 2004 Vườn phòng trừ
(TN diện hẹp )
Vườn không phòng trừ
Vườn phòng trừ (TN diện rông)
Vườn không phòng trừ
Đợt
thu
mẫu
Ngày
theo
dõi
Con /bẫy
% quả
bị hại
Con /bẫy
% quả
bị hại
Con /bẫy
% quả bị hại
Con /bẫy
% quả bị hại
4 1/6 306 4,00 372 5,00 0 0,00 79 0,00
6 15/6 224 13,00 376 81,00 10 3,00 146 33,00
7 23/6 311 51,00 593 93,00 25 5,00 96 95,00
Ghi chú: - Diện tích thí nghiệm phòng trừ năm 2002 là 0,5 ha
- Diện tích mô hình phòng trừ năm 2004 là 35 ha
Trang 6Kết quả theo dõi trong 2 năm cho thấy số lượng ruồi vào bẫy năm 2002 cao hơn năm 2004 hơn hai lần Năm 2002 số lượng ruồi vào bẫy ở công thức phòng trừ đã giảm đi 150 con/bẫy tương đương 63,10%, nhưng tỷ lệ quả bị hại chỉ giảm đi được 11% Năm 2004 số lượng ruồi vào bẫy ở công thức phòng trừ đã giảm 109 con /bẫy tương đương 81,95%, tỷ lệ quả bị hại đã giảm 95 % (bảng 7) Như vậy việc phòng trừ ruồi bằng bả protein trên diện rộng đã khống chế được mật độ quần thể ruồi và có hiệu quả cao
3.4.3 Phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein trên diện rộng
3.4.3.1 Phòng ruồi trên táo ta (Ziziphus jujuba) tại Phục Lễ-Thuỷ Nguyên -Hải Phòng năm 2003
Thuỷ Nguyên – Hải Phòng có diện tích trồng táo hàng trăm ha, trồng rải rác ở các vườn gia đình, mỗi gia đình trồng táo có từ 10 đến 50 cây (300 – 1000m2) Giống táo phổ biến là giống Đột biến ghép cải tạo trên táo địa phương Hàng năm hiện tượng táo bị rụng do ruồi hại quả xảy ra rất nhiều đôi khi mất trắng, thời gian bị rụng nhiều là cuối tháng 9 và tháng 10, người dân đã áp dụng biện pháp phòng trừ ruồi bằng thuốc hoá học, nhưng hiệu quả phòng trừ thấp, mặt khác nhiều vườn táo gần kề các nhà dân nên biện pháp sử dụng thuốc hoá học không được người dân chấp nhận Vùng thử nghiệm phòng trừ ruồi bằng bả protein năm 2003 là toàn bộ diện tích táo thôn Nam (khoảng 8 ha) xã Phục Lễ, cách biệt với các thôn khác bằng các cánh đồng lúa lớn
Kết quả thử nghiệm: ở vườn sử dụng hỗn hợp bả protein phòng trừ ruồi đem lại hiệu quả cao Tỷ lệ quả bị hại cao nhất vào cuối vụ chỉ ở mức 6 - 4%, trong khi vườn đối chứng tỷ lệ hại là 37% (bảng 8)
Kết quả trên đây bước đầu cho thấy bả protein chỉ có khả năng khống chế mật độ ruồi khi vùng phòng trừ có quần thể tích luỹ tại chỗ, thành phần cây ký chủ đơn điệu tuy nhiên cũng cần hỗ trợ thêm bằng các biện pháp khác như vệ sinh vườn quả,
Bảng 8 Kết quả thí nghiệm phòng trừ ruồi hại quả táo tại Phục Lễ - Thuỷ Nguyên - Hải Phòng, 2003
Tỷ lệ quả bị hại (%) Đợt thu mẫu Ngày theo dõi
Vườn phòng trừ Vườn đối chứng
3.4.3.2 Phòng trừ ruồi hại quả diện rộng trên đào tại Lóng Luông, Mộc Châu - Sơn La năm
2004- 2005
Diện tích phòng trừ tiến hành trên diện rộng là 2 bản: Bản Co Lóng và bản Săn Cài có diện tích đào 35 ha
Kết quả phòng trừ năm 2004: Tỉ lệ thiệt hại do ruồi vùng thí nghiệm phun bả diện rộng (35 ha) là 5% vào cuối vụ, trong khi đối chứng tỉ lệ hại ở cuối vụ là 100% (bảng 9) Kết quả trên đây cho thấy nếu áp dụng biện pháp phòng trừ ruồi bằng bả proein trên diện rộng sẽ cho hiệu quả phòng ruồi cao
Trang 7Bảng 9 Tỷ lệ quả đào bị hại (%) tại Lóng Luông – Mộc Châu năm 2004
Phun protein
Ngày thu
mẫu Số mẫu thu
(quả) Số quả bị hại Tỷ lệ quả bị
hại (%) Số quả bị hai Tỷ lệ quả bị hại (%)
Ghi chú: N1: Vườn phun bả Protein
N2: Vườn người dân không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Kết quả phòng trừ năm 2005: Tỉ lệ thiệt hại do ruồi vùng thí nghiệm phun bả diện rộng (35 ha) là 4% vào cuối vụ, trong khi đối chứng tỉ lệ hại ở cuối vụ là 100% (bảng 10 )
Bảng 10 Tỷ lệ quả đào bị hại (% ) tại các khu thí nghiệm tại Lóng Luông- Mộc Châu, 2005
Phun Protein (N1) Đối chứng (N2) Ngày thu
mẫu Số mẫu thu (quả) Số quả bị hại % hại Số quả bị hại % hại
9/5 100 0 0,00 0 0,00 3/6 100 0 0,00 0 0,00 15/6 100 0 0,00 0 0,00 20/6 100 0 0,00 6 6,0 25/6 100 3 3,00 41 41,00 4/7 100 2 2,00 79 79,00 17/7 100 4 4,00 100 100
Ghi chú: N1: Vườn chỉ phun bả protein;
N2: Vườn người dân không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
3.4.3.3 Sử dụng bả protein phòng trừ ruồi hại quả tại các địa phương
Bảng 11 Kết quả phòng trừ ruồi hại quả diện rộng tại các địa phương
Tỷ lệ quả bị hại (%) Năm Địa điểm thí nghiệm Diện
tích (Ha)
Loại cây
Phòng trừ Không phòng trừ
Ghi chú:* quả bao trong túi nilon
Trang 8Kết quả phòng trừ ruồi hại quả diện rộng trên đào Mèo thành công tại Mộc Châu-Sơn La trong hai năm từ 2004-2005 đã được mở rộng trong những năm tiếp theo sang các cây ăn quả khác ở các vùng ở miền Bắc và miền Trung
Ở tất cả các mô hình đã triển khai thực hiện phòng ruồi hại quả bẳng bả protein đều cho kết quả tỷ lệ quả bị hại chỉ còn 4 – 5% trong khi ở khu vực không phòng trừ tỷ lệ quả bị hại từ 95 – 100% ( với ổi đã bọc trong bao nilon vẫn có tỷ lệ quả bị hại là 25%) Với qui mô ứng dụng càng rộng hiệu quả phòng trừ càng cao, nhưng ở diện tích hẹp tỷ lệ quả bị hại vẫn cao 9,5% (Đông Dư –
Hà Nội, 2007.) (bảng 11)
IV Kết luận và đề nghị
Kết luận
- Thành phần ruồi hại quả ở khu vực phía Bắc và miền Trung khá phong phú, gồm 23 loài, trong đó
có 8 loài gây hại quan trọng trên CĂQ và RĂQ ở miền Bắc
- Xác định phổ ký chủ của ruồi hại quả ở miền Bắc và bắc Trung bộ là 34 loại bao gồm 18 loại cây
ăn quả, 11 loại rau ăn quả và 5 loại cây dại, nhiều hơn kết quả điều tra đã công bố là 7 loài
- Mức độ thiệt hại do ruồi hại quả trên 6 loại cây trồng có giá trị kinh tế: Tỷ lệ hại ở cuối vụ trên đào
là 100%, mướp đắng vụ xuân hè 100%, vải 10%, táo ta 40%, quýt vàng Bắc Sơn – Lạng Sơn 29% giữa vụ, hồng Đà Bắc – Hoà Bình 52%, ổi t ừ 25* - 60%
- Biện pháp phòng trừ ruồi bằng bả protein trên diện rộng đem lại hiệu quả rất cao, giảm tỷ lệ thiệt hại trên táo ta từ 37% xuống còn 6%, trên đào giảm thiệt hại trên 95%, trên ổi giảm thiệt hại từ 25*-90%
Đề nghị: Xây dựng mô hình phòng trừ ruồi hại quả bằng bả protein (Ento-pro) trên qui mô rộng
nhằm tạo ra vùng sản xuất quả an toàn phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu
Tài liệu tham khảo
1 Allwood A.J., L Leblanc, 1996 Losses caused by fruit flies (Diptera: Tephritidae) in seven Pacific Island countries, Management of fruit flies in the pacific, ACIAR proceedings N076
2 Dick Drew R.A.I., Ha Minh Trung, Le Duc Khanh, 2001 Reasults of fruit fly project in Vietnam code TCP/VIE/8823(A) 1999-2000
3 Leweri L 1996 Management of fruit flies in the Pacific, ACIAR proceeding N076