Thí nghiệm đồng ruộng về lợi ích của việc sử dụng chất thải rắn ao cá cho canh tác lúa được thực hiện trong mùa mưa 2007 ở khu thí nghiệm Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long.. Các kết quả n
Trang 1
Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo Cáo Tiến Độ Dự Án
023/06VIE
11th July, 2009
Trang 2Mục lục
1 Thông tin về Viện _ 3
2 Tóm tắt Dự án 4
3 Tóm lược việc thực hiện 4
4 Giới thiệu & Nền tảng _ 6
5 Tiến độ cho đến nay _ 8 5.1 Điểm nổi bật về thực thi _ 8 5.2 Lợi ích cho tiểu nông _ 29 5.3 Xây dựng nhân lực 29 5.4 Truyền thông _ 29 5.5 Quản lý dự án _ 30
6 Báo cáo về các vấn đề gặp phải 30 6.1 Môi trường _ 30 6.2 Giới và xã hội _ 30
7 Các vấn đề về thực hiện và ổn định dự án _ 31 7.1 Các trở ngại cần nêu _ 31 7.2 Giải pháp 31
7.3 Sự bền vững 31
8 Các bước chính sắp tới 31
9 Kết luận 32
10 Xác nhận chính thức 33
Trang 31 Thông tin về Viện
Nhân viên cần liên hệ
In Australia: Team Leader
In Australia: Administrative contact
Ở Việt Nam
Cửu Long Email: phungcv@yahoo.com.vncaovanphung@hcm.vnn.vn
Trang 4NH4 và TSS Điều kiện nước lũ mùa mưa làm giảm bớt tác động nhưng vẫn không ngăn chận được chất lượng nước vượt quá tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 hoặc trị số cho phép nước thải
ao nuôi cá thải theo thông tư số 02 của Bộ Thủy Sản
Thí nghiệm đồng ruộng về lợi ích của việc sử dụng chất thải rắn ao cá cho canh tác lúa được thực hiện trong mùa mưa 2007 ở khu thí nghiệm Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long
Ba liều lượng chất thải là 1, 2 và 3 tấn/ha được dùng kết hợp với phân vô cơ ở liều lượng 1/3
và 2/3 mức khuyến cáo Mức phân vô cơ 100 % liều lượng theo khuyến cáo (60N-40P2O530K2O) dùng làm nghiệm thức đối chứng Không có sự khác biệt về năng suất lúa ở tất cả các nghiệm thức Điều này cho thấy rằng chất thải rắn ao nuôi cá có thể giúp cho nông dân tiết kiệm bằng cách giảm lượng phân bón áp dụng Thí nghiệm được lập lại trong mùa khô năm 2008 và cũng cho kết quả tương tự Nghĩa là có thể giảm được từ 1/3rd đến 2/3rd lượng phân vô cơ theo mức khuyến cáo khi sử dụng chát thải rắn ao nuôi cá ở mức 1-3 t/ha
-Ba thí nghiệm (tại Viện lúa và hai huyện Châu Phú và Phú Tân) nghiên cứu hiệu quả của việc giảm lượng phân bón trên năng suất lúa tưới bằng nước thải ao nuôi cá Không có sự
Nuôi cá ao hầm là ngành chính ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng nước thải và chất thải rắn xả ra từ ao nuôi cá gây ô nhiễm cho kênh rạch
Kết quả lấy mẫu nước cho thấy tác động đo đạc được của nước thải trên chất lượng dòng nước tối thiểu 100 mét ngược dòng và 500 mét xuôi dòng nước tại hai địa điểm nghiên cứu ở tỉnh An Giang Trị số đo đạc được làm giảm chất lượng nước do gia tăng các thông số COD, NH4 và TSS Điều kiện nước lũ mùa mưa làm giảm bớt tác động nhưng vẫn không ngăn chận được chất lượng nước vượt quá tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 hoặc trị số cho phép nước thải ao nuôi cá thải theo thông tư số 02 của Bộ Thủy Sản
Thí nghiệm đồng ruộng về việc sử dụng chất thải rắn cho canh tác lúa được thực hiện vào mùa mưa năm 2007 và tiếp tục cho đến năm 2008 và 2009 tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long Vụ 4 trồng vào mùa khô năm 2009 Không có sự khác biệt nào về năng suất lúa ở tất cả các nghiệm thức trong mùa khô năm 2009 Ba vụ trước cũng cho kết quả tương tự Nghĩa là có thể bớt 1/3rd đến 2/3rd lượng phân vô cơ ở mức khuyến cáo khi sử dụng chất thải rắn ở liều lượng 1-3 t/ha
Ba thí nghiệm (1 tại Viện lúa và 2 huyện Châu Phú & Phú Tân của tỉnh An Giang) nghiên cứu hiệu quả của việc giảm lượng phân bón hóa học trên năng suất lúa được tưới bằng nước thải ao nuôi cá không có sự khác biệt nào về năng suất lúa tại cả 3 địa điểm CLRRI, Châu Phú và Phú Tân Các kết quả này một lần nữa cho thấy rằng hàm lượng dinh dưỡng chứa trong nước thải ao nuôi cá đủ để thay thế phần lớn đạm và có lẻ kể cả lân và kali cần cho nhu cầu tăng trưởng của cây lúa, giúp cho nông dân trồng lúa tiết kiệm chi phí rất đáng kể
Trang 5khác biệt nào về năng suất ở tất cả các nghiệm thức tại 3 điểm thí nghiệm Các kết quả này một lần nữa cho thấy rằng hàm lượng dinh dưỡng chứa trong nước thải ao nuôi cá đủ để thay thế phần lớn đạm và có lẻ kể cả lân và kali cần cho nhu cầu tăng trưởng của cây lúa, giúp cho nông dân trồng lúa tiết kiệm chi phí rất đáng kể
Sử dụng dòng vi khuẩn khử đạm P stutzeri do Đại Học Cần Thơ cung cấp để chủng vào
nuwsc thải ao cá được tiến hành khảo sát tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long Kết quả cho thấy rằng nghiệm thức đối chứng hàm lượng NH4-N cũng giảm nhanh chóng như nghiệm
thức có chủng bằng vi khuẩn P stutzeri Vì vậy, việc nghiên cứu này sẽ tạm ngưng Thay vào
đó việc sử dụng các vi khuẩn hiện có trên thị trường sẽ được tiến hành tại Viện lúa nhằm xác định hiệu quả của chúng trong việc làm giảm vi khuẩn gây bệnh hiện diện trong nước thải Việc kết hợp biện pháp sinh học (lục bình và cá) và hóa học (ozone) để giảm nồng độ nitrate và mật độ tảo trong nước ao cá trước khi thải ra môi rường được thực hiện tại Bộ môn Thỷ sản của Đại Học Cần Thơ vào năm 2008 Ba nghiệm thức như sau 1 Đối chứng: không
có lục bình và cá; 2 Cá rô phi và ; 3 Lục bình và cá rô Phi với 3 lần lập lại Vi khuẩn trong nước thải ao cá Tra giảm đến 99 % sau khi xử lý bằng ozone trong 48 giờ trong bể đựng
4000 m3 Trong lúc xử lý bằng ozone nồng độ ammonium (TAN) giảm nhưng nitrate và phosphate gia tăng theo thời gian do sự oxid hóa của ozone Nồng độ nitrate và phosphate giảm nhanh chóng khi có sự hiện diện của tảo và Lục Bình Tuy nhiên, tảo trong nghiệm thức
xử lý bằng cá rô Phi là cao do chất thải có lẻ do cá bài tiết ra Trong khi đó ở nghiệm thức kết hợp của cá và Lục Bình thì nitrate và phosphate bị giảm một cách có ý nghĩa và tảo không thể phát triển được Trong chừng mực nào đó thì cá rô Phi và Lục bình là nghiệm thức tốt nhất vì nó làm giảm nồng độ các chất dinh dưỡng và ngăn tảo phát triển Kết hợp biện pháp hóa học (ozone) và sinh học (cá rô Phi và Lục Bình) nên được áp dụng để xử lý nước thải ao
cá Tra để làm giảm hàm lượng đạm và lân cũng như mật số tảo trước khi thải ra môi trường Hai thí nghiệm về sử dụng 3 loài thực vật thủy sinh (Lục Bình, rau Ngỗ và rau Dừa) và
hai loại bèo (Bèo Tai Chuột và bèo Tai Tượng) được thiết lập tại Viện lúa đồng bằng sông
Cưu long để xác định hiệu quả của chúng trong việc xử lý nước thải ao cá Đối chứng chỉ có nước thải được dùng để so sánh trong cả hai thí nghiệm Thí nghiệm đầu tiên mô phỏng điều kiện như ao lắng (nước tỉnh) và thí nghiệm thứ hai dùng hệ thống nước chảy liên tục Trong
hệ thống nước tỉnh, tất cả loài thực vật thủy sinh mọc nhanh và đạt trọng lượng tươi tối đa sau 30 ngày nhưng bèo cần 45 ngày để đạt trọng lượng tối đa trong cả hai thí nghiệm pH của tất cả các nghiệm thức dao động từ 6.0-8.5 và EC của tất cả các nghiệm thức giảm có ý nghĩa từ 0.250 đến khoảng 0.100 mS/cm ngoại trừ nghiệm thức đối chứng Ammonium, nitrite, nitrate, và tổng N và P ở tất cả các nghiệm thức giảm xuống dưới mức cho phép xả thải ra nguồn nước mặt (TCVN 5942-95) COD của tất cả các nghiệm thức cũng giảm nhưng còn cao hơn tiêu chuẩn cho phép Trị số TSS của tất cả các nghiệm thức xử lý bằng thực vật htuyr sinh và bèo giảm xuống sau 15 ngày thí nghiệm nhưng gia tăng trở lại vượt quá trị số ban đầu do sự phân hủy của các bộ phận già bị chết ở trong bể Tuy nhiên, nghiệm thức đối chứng có trị số TSS thấp hơn mức giới hạn Trong thí nghiệm thứ hai, kết quả cũng tương tự như thí nghiệm 1 trong đó rau dừa dường như tốt nhất trong thí nghiệm này Bèo tai chuột cũng cho thấy có hiệu quả trong việc làm giảm TSS nhưng Lục Bình và rau Ngỗ không hiệu quả trong hệ thống này Như vậy ao lắng kết hợp với rau dừa có thể xử lý nước thải từ ao nuôi cá Tra hiệu quả, hơn thế nữa loài cây này cũng được dùng như rau cho người Việt Nam AYAD Stephanie Birch tiếp tục nghiên cứu về nuôi trùn đất cho đến tháng Ba năm 2009 Nghiên cứu của cô về khảo sát việc nuôi trùn đất để xử lý chất thải rắn ao cá hay bùn đáy ao
Trang 6tốt nhất; Tuy nhiên kết quả cho thấy loài trùn Quế trưởng thành khi nuôi ghép cho kết quả tốt hơn Hai loài trùn bản địa là trùn Cơm và trùn Quắn có tỉ lệ trùn trưởng thành sống cao nhưng sinh sản thấp Rơm rạ được thấy là phân hủy rất chậm Thí nghiệm 2 sử dụng trùn Quế
(P excavatus) để sản xuất phân trùn với các tỉ lệ khác nhau của bùn đáy ao, rơm rạ và ục Bình Perionyx excavatus dường như sinh sản tăng theo tỉ lệ của bùn đáy ao được dùng, tuy
nhiên, hổn hợp có chất độn cao sẽ làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn
Phân trùn từ thí nghiệm 2 sau đó được dùng để trồng cải xà lách (Lactuca sativa var capitata
L.) Cải sinh trưởng tốt trong phân trùn nuôi thuần túy trên bùn đáy ao (không có chất độn) nhưng triệu chứng thiếu đạm xuất hiện trên tất cả các cây Bùn đáy ao cá ở đồng bằng sông Cửu Long dường như thích hợp cho việc sử dụng để nuôi trùn Quế Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại chỉ mới là khởi đầu để xác định phương pháp thích hợp cho tiến trình này và cần có các nghiên cứu sâu xa hơn về các tỉ lệ phối trộn thích hợp và loài trùn đất trên qui mô vừa trước khi thử nghiệm trên diện rộng tại nông trại của nông dân
4 Giới thiệu và Nền tảng
Nuôi cá trong ao hầm là ngành công nghiệp chính ở đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, nước thải và chất thải rắn xả ra từ ao gây ô nhiễm kênh rạch làm hại cho chất lượng nước dùng cho sinh họat và đe dọa tương lai cho chính ngành công nghiệp nuôi cá Rõ ràng và gấp rút cần phát triển chiến lược để giảm lượng chất thải xả ra từ ao nuôi cá để ngành công nghiệp nuôi cá ao hầm tiếp tục hổ trợ cho đa dạng nguồn thu nhập ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tuân thủ theo tiêu chuẩn về chất lượng nước xả thải theo các qui định và luật
lệ của Việt Nam (Bộ Thuỷ Sản 2006)1
Nước trong ao nuôi cá được thay thường xuyên thải ra một khối lượng lớn hoặc cần phải tái
sử dụng Hiện nước thải hầu như được thải trực tiếp vào hệ thống kênh rạch, nhưng việc này làm ô nhiễm nước vùng hạ lưu vì hầu hết các ao hầm đều nằm trên khu vực đầu nguồn Để làm giảm ô nhiễm, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 nghiêm cấm việc xả thải trực tiếp nước thải vào kênh rạch Người vi phạm sẽ bị phạt tiền hoặc bị đóng cửa cơ sở cho đến khi khắc phục được hậu quả Thêm vào đó việc nạo vét ao hầm hàng năm và sên ao là cần thiết
để kiểm sóat sự lây lan bệnh cho cá Động thái này tạo ra chịnh (bùn lỏng) có chứa khỏang 35% chất rắn Việc thải chịnh vào nguồn nước mặt cũng bị luật pháp ngăn cấm Tuy nhiên dường như những người nuôi cá không chấp hành nghiêm luật lệ Việc tuân thủ nghiêm nhặt luật lệ mà không có biện pháp xử lý có hiệu quả kinh tế và chiến lược tái sử dụng sẽ làm tê liệt ngành nuôi cá ao hầm Điều cực kỳ quan trọng là phải tìm ra sách lược có hiệu quả cho người nuôi cá để họ xử lý nước và bùn đáy ao đạt theo tiêu chuẩn mà không tốn kém nhiều Trong khi ai cũng nhận thấy sự ô nhiễm nguồn nước do chất thải từ ao nuôi cá là hiện hữu, nhưng dường như lại ít có chứng cứ được thu thập hoặc công bố về vấn đề này Đặc biệt là dường như thiếu số liệu làm nền tảng để chứng minh cho sự suy giảm về chất lượng nước Hơn thế nữa ít có quan trắc về chất lượng nước hiện tại ở các kênh vừa và nhỏ nơi mà vấn đề
ô nhiễm là rất hiển nhiên Vậy thì điều còn chưa rõ là thông số nào của nước không đáp ứng được tiêu chuẩn của Việt Nam, thường bao lâu xảy ra, xảy ra nơi nào và yếu tố rủi ro nào là chính Từ nguyên tắc đầu tiên, dường như vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng nhất là vào mùa nắng khi nước thải ít được pha lỏang và rửa đi, và khi kênh mương nhỏ bị tắt dòng chảy do thực vật thủy sinh hoặc rào cản
Đồng bằng sông Cửu Long hiện sản xuất hơn 1 triệu tấn cá da trơn hàng năm hầu hết là cá nước ngọt Hầu hết cá da trơn được xuất khẩu sang các nước Châu Mỹ, châu Âu, Nga và
1 Ministry of Fisheries (2006) Maximum concentration limits allowable for pollutants discharged to
Trang 7Nhật Bản Cá xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu vệ sinh thực phẩm của các thị trường này Sự thay đổi chính về khả năng của người sản xuất về kiểm sóat đầu vào của ao cá là nước lấy vào ao nuôi từ sông và kênh rạch Tuy nhiên do ảnh hưởng tích tụ của ao nuôi thâm canh, sự suy giảm về chất lượng nước sông và kênh rạch do xả thải làm hạn chế sức sản xuất và sự phát triển của nghề nuôi cá do vùng hạ lưu bị phát tán vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng trong nước Nó còn tác động xấu lên sức khỏe của các hộ dân dùng một lượng đáng kể nước tại chổ từ nguồn ô nhiễm này
Thách thức cho dự án là bảo vệ ngành công nghiệp nuôi cá vì đây là nguồn đa dạng cho nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long bằng cách xử lý nước và chất thải rắn từ ao cá, đồng thời bảo vệ môi trường và dân cư sử dụng từ nguồn nước ô nhiễm
Kết quả dự kiến nhằm gia tăng tính cạnh tranh của những người nuôi cá ao hầm vùng đồng bằng sông Cửu Long Thêm vào đó, kỹ thuật phải được phát triển sẽ cải thiện việc quản lý tài nguyên thiên nhiên bằng cách giảm ô nhiễm nguồn nước từ việc xả thải không kiểm sóat nưiớc thải ao nuôi và bùn đáy ao vào sông ngòi và kênh rạch Mục tiêu tổng quát của dự án là cải thiện tính bền vững của sản xuất thủy sản nuôi trong ao hầm và chất lượng nước ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Mục tiêu cụ thể là:
• Phát triển chiến lược xử lý có hiệu quả nước và chất thải rắn từ ao cá trước khi lọai thải để làm giảm ô hiễm nước;
• Phát triển chiến lược thu hồi và tái sử dụng tài nguyên nước thải và bùn từ ao
cá bao gồm việc áp dụng trên đất và sử dụng mới cuối cùng;
• Gia tăng tính ổn định thu nhập của hộ gia đình từ nghề nuôi cá bằng cách khuyến khích đa dạng hóa sản xuất và thị trường ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Dự án này nhằm vào mục tiêu nuôi cá trong ao hầm, không phải các lọai nuôi trồng thỷ sản khác như nuôi trong lồng bè và nuôi tôm Nuôi cá bè dần kém quan trọng do chi phí tăng cao
và rủi ro khi sản xuất so với nuôi cá trong ao Các nghiên cứu khác đã khảo sát nuôi tôm trên nước lợ (Be, 1997) Nuôi tôm cũng đang bị đe dọa do tác động môi trường Như vậy có các bài học phải được học từ các dạng nuôi trồng thủy sản khác, đặc biệt cần phải nói đến vấn đề môi trường có thể tác động đến sự bền vững của ngành công nghiệp cho dù khi kinh tế nó rất thuận lợi
Nuôi cá trong so hầm được thực hiện bởi ba nhóm người ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: nông dân trong hệ thống VAC tái chế chất thải lỏng và rắn từ ao cá; tiểu nông vừa có ruộng vừa có ao cá nhưng không tích hợp các thành phần này trong trang trại; người chuyên nuôi cá tận dụng hết đất họ có để làm ao cá Hệ thống VAC đã thực hành tái chế nước thải và bùn đáy ao để thu hồi nguồn dưỡng chất Bằng cách làm như thế mức độ ô nhiễm do nước thải có
lẻ được giảm bớt Tuy nhiên, dường như ít có minh chứng cho thấy lợi ích của hệ thống VAC cho chất lượng nước vùng hạ lưu Dự án này sẽ đánh giá tác động của hệ thống VAC trên chất lượng nước kênh cuối nguồn và cần thiết xem xét việc cải tiến phương cách tái chế nước thải và bùn đáy ao để đạt tiêu chuẩn nước thải Nhóm thứ hai nuôi cá bao gồm các tiểu nông sản xuất lúa, cây ăn trái và trồng rau họ có vài ao cá trong trang trại Dự án này đặc biệt liên quan đến hai nhóm hộ sản xuất này vì họ có đử đất dùng cho việc xử lý chất thải lỏng và rắn bằng cách tái chế nhưng hiện tại đang thải nước và bùn đáy ra kênh rạch
Cả hai chất thải lỏng và rắn từ ao nuôi có chứa các bon và dưỡng chất có thể tái chế tại chổ
để đẩy mạnh sản xuất lúa, rau màu và cây ăn trái, cũng như các sản phẩm mới cho các xí nghiệp chế biến nông sản qui mô nhỏ Chất thải rắn có thể được xử lý bằng nhiều cách kể cả
Trang 8cải thiện chất lượng nước, và thu thập chứng cớ về hiệu quả của về đạt theo tiêu chuẩn chất
lượng nước đầu ra
Người chuyên nghiệp nuôi cá trong ao không có đất dư cho việc tái chế nước và chất thải rắn
Chất thải hiện được xả trực tiếp vào sông và kênh mương, đôi khi sau khi đã xử lý bằng chế
phẩm sinh học Các nghiên cứu sâu rộng hơn cần thiết để xác định tác động của các chế
phẩm sinh học trên môi trường nước vùng hạ lưu Thêm vào đó, cần khai thác cơ hội để thu
xếp sự hợp tác của người chuyên nghiệp nuôi cá và nông dân để cho phép xả thải nước và
chất thải rắn vào ruộng của họ Tuy nhiên, phương cách thực hành tốt nhất việc này cần phải
được phát triển, và một khi đã được thiết lập sẽ mở rộng cho nhóm sản xuất này
5 Tiến độ cho đến nay
Các kết quả thực hiện nổi bật
Điều tra cơ bản: điều tra được tiến hành vào tháng 10-11 năm 2007 tại thành phố Cần Thơ
và vào tháng Giêng và tháng Hai năm 2008 tại tỉnh An Giang Tổng số có 240 bảng phỏng
vấn cho các bên có liên quan (nông dân trồng lúa và nuôi cá được chọn phỏng vấn với số
lượng bằng nhau) được thu thập tại 2 huyện cho mỗi tỉnh/TP (Bảng 1&2) Điều tra cơ bản đã
kết thúc và báo cáo vào tháng 4 năm 2009
Một điều trar bổ sung được thực hiện trên hệ thống VAC ở vùng ven thành phố Cần Thơ tại
hai huyện Phong Điền và Bình Thủy Vườn cây ăn trái được trồng trên các liếp cạnh mương
hoặc ao Nhãn, vú sữa, sầu riêng, chôm chôm hoặc cam hay chanh là các loại cây ăn trái phổ
biến ở vùng này Vịt là gia cầm được nuôi nhiều nhất trong số các loài vật khác như gà hoặc
heo Các loài cá như cá rô phi, cá chép và cá tai tượng thường được nuôi trong mương vườn
Các loài cá này thường được nuôi với mật số thấp (<30 con/m2) và chúng không gây ô nhiễm
môi trường Cá da trơn ngoài cá Tra như cá Trê vàng, cá trê trắng, cá trê phi hoặc cá trê lai
được nuôi trong ao để bán ở thị trường nội địa mà thôi Canh tác cá Trê gây ra ô nhiễm môi
trường cao hơn cả nuôi cá Tra vì nước thải chủ yếu được xả trực tiếp vào sông rạch Tính
chất điển hình của nước thải cá Trê là có màu đen, rất hôi tanh, độ đục, COD và BOD đều rất
cao (Bảng 3) Tác động nổi bật của chất thải lỏng từ ao nuôi cá Trê là làm chết các loài cá tự
nhiên khác Bùn đáy từ ao nuôi cá Trê là không đáng kể vì hầu hét các chất thải rắn luôn bị
khuấy trộn do mật độ cá cao hiện diện trong ao (khoảng 120-150 con trên m2 mặt nước) và
ao cạn nên nó được trộn với nước và thải ra môi trường Tuy nhiên các chất rắn lơ lửng sẽ
lắng tụ dọc hteo kênh rạch và làm cạn lòng sông gây cản trở cho thuyền bè di chuyển
Không có khác biệt lớn về kích thước và dộ sâu ao nuôi cá tại hai nơi này Vì kích cở ao
không quá lớn, lực lượng lao động trong gia đình có thể thực hiện hầu hết các công việc liên
quan đến nuôi cá Cá Trê đạt kích cở 200-250g mỗi con (kích cở thương phẩm) thường được
bán Kích cở to hoặc nhỏ hơn cở thương phẩm thì rất khó bán trừ khi giảm giá Hầu hết hộ
nuôi cá Trê mua thức ăn tự chế khoảng 2,500-3,000VND/kg Cá Trê thương phẩm được bán
với giá dao động khoảng 12,000-20,000VND tùy theo nhu cầu của thị trường nội địa
Bảng 1: Bệnh cá da trơn, giai đoạn xuất hiện và cách phòng trị (%)
Trang 9Tất cả các ao nuôi cá Trê qua khảo sát đều thải trực tiếp nước thỉ ao hầm vào kênh
rạch làm ô nhiễm các khu vực này đến mức không còn các loài cá tự nhiên có thể sống còn
và giao thông thủy bị tắt nghẻn do bùn làm cạn lòng sông rạch Mâu thuẩn giữa các hộ nuôi
cá Trê và nhân dân quanh vùng là rất phổ biến và rất khó để thuyết phục họ hợp tác với nhau
Mặc dù chính quyền địa phương có qui định cấm xả thải trực tiếp nước ao hầm vào sông,
rạch nhưng tình trạng này xem ra vượt ngoài tầm kiểm soát Vì hầu hết các hộ nuôi cá không
có ao lắng hoặc ruộng lúa để áp dụng chất thải trên đất và vì thế ô nhiễm nước ở các khu vực
này rất nghiêm trọng
Bảng 2: Thông tin tổng quát về nuôi cá Trê
Bảng 3: Chất lượng nước ao cá Trê
Mặc dù cá Trê có thể sống trong nước ô nhiễm cao, nó vẫn bị nhiễm các bệnh do vi
khuẩn nhưng tỉ lệ chết thì thấp hơn so với cá Tra Thuốc dùng phòng trị bệnh cá Trê ít nhiều
giống như thuốc dùng cho nuôi cá Tra (Bảng 4)
Trang 10Bảng 4: Hóa chất dùng phòng trị bệnh cho việc nuôi cá Trê
Sản phẩm sinh học: biozyme, US-zyme,
VAC cơ hội và thách thức:
Hệ thống VAC chủ yếu nằm ở các nơi cao ven sông Đây là vùng đất thịt có độ thấm rút cao
thích hợp cho việc canh tác rau màu và cây ăn quả Phân hóa học chủ yếu được dùng cho
canh tác đó là lý do tại sao rất khó tìm người nông dân nào trong hệ thống này dùng phân
hữu cơ mặc dù rơm rạ, bèo lục bình, phân heo và chất thải rắn từ các ao cá có sẳn Điều tra
trên hệ thống VAC cũng cho thấy rằng nông dân trồng rau không thích sử dụng phân trùn
được sản xuất từ phân bò do học phải tốn thêm công để làm cỏ Dù cho nông dân biết lợi ích
của việc sử dụng phân hữu cơ trong canh tác rau màu và cây ăn quả nhưng họ không dùng
rộng rải vì các lý do sau:
- Tốn nhiều thời gian;
- Chưa thấy rõ hiệu quả;
- Hạn chế về nhân công nông nghiệp;
- Chi phí vạn chuyển và rải phân cao;
- Giá các sản phẩm hữu cơ được bán cùng giá với các sản phẩm hóa học khác;
- Nông dân không biết tường tận cách ủ phân hữu cơ
Bên cạnh các trở ngại trên về sản xuất và áp dụng phân hữu cơ, nông dân chưa biết tác động
xấu của việc đốt rơm rạ Ở vùng canh tác lúa 3 vụ, nông dân thường đốt rơm rạ để dọn đồng
ruộng thuận tiện cho việc làm đất sau khi thu hoạch vụ lúa Đông-Xuân Khả năng hiện hữu
cho dự án của chúng tôi là tăng cường kiến thức cho nông dân về bảo vệ môi trường qua các
khóa huấn luyện về tái chế các phế phụ phẩm nông nghiệp để làm phân hữu cơ để làm giảm
khí thải gây hiệu ứng nhà kính Qua các khóa huấn luyện, nông dân sẽ hiểu vai trò của chất
hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp bền vững Mục tiêu này là hiện thực vì giá phân hóa học
và thuốc sát trùng hiện nay đang tăng cao Khả năng khác để thúc đẩy nông dân nuôi trùn đất
và sản xuất phân trùn trong hệ thống VAC là trùn đất được dùng để nuôi các loài cá có giá trị
và tôm càng.xanh Nông dân áp dụng mô hình VAC có thể tận dụng các mương vườn để nuôi
trồng thủy sản
Báo cáo về dịch bệnh do ô nhiễm nước:
Khảo sát về bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm đã kết thúc ở huyện Ô Môn và hốt Nốt
của thành phố Cần Thơ và hai huyện Châu Phú và Phs Tân của tỉnh An Giang Theo các số
liệu thu thập được ở Trung Tâm Y Tế Dự Phòng của huyện Ô Môn và Thốt Nốt trong năm
2006 và 2007 cho thấy bệnh sốt xuất huyết tăng cao Bệnh này bùng phát vào cuối năm 2008
chủ yếu ở các tỉnh phía nam; tình hình càng nghiêm trọng hơn ở hai tỉnh An Giang và Đồng
Tháp (Cục y Tế và Dự Phòng- Bộ Y Tế, 2008) Số liệu trong bảng 5&6 cho thấy bệnh tiêu
chảy trong năm 2007 cao hơn năm 2006
Trang 11Bệnh sốt xuất huyết, tiêu chảy và bệnh lỵ ở Phú Tân cao hơn ở Châu Phú và chúng có chiều hướng gia tăng Có lẻ chúng có liên quan đến hệ thống đê bao khép kín ở huyện Phú Tân nơi các dòng kênh bị tắt nghẽn Như đã báo cáo trong kết quả điều tra cơ bản, hầu hết nông dân ở tỉnh An Giang là 57% số hộ vẫn còn dùng nước kênh rạch cho sinh hoạt
Bảng 5: Ghi nhận dịch bệnh năm 2006 & 2007 tại huyện Ô Môn và Thốt Nốt
Dịch bệnh
2006 2007 2006 2007 Sốt xuất huyết 179 237 246 546
Chất lượng nước trong ao cá :
Điều tra về bùn đáy ao cá được tiến hành vào năm 2007-2008 tại tỉnh An Giang Mẫu được thu liên tục trong 5 tháng từ 12 ao nuôi (Bảng 7) Hai ao nuôi tại huyện Phú Tân và hai ao tại huyện Châu Phú dùng thức ăn viên trong khi các ao khác nuôi bằng thức ăn tự chế Bùn đáy
ao có chứa 4.5-5.5 % C, và 0.2-0.35 % N cho thấy tỉ số thích hợp cho sự phân hủy nhanh pH của bùn đáy ao nuôi bằng thức ăn viên ổn định hơn trong suốt thời gian nuôi và pH của bùn đáy ao dùng thức ăn tự chế ở đợt htu mẫu đầu cao hơn ở các đợt khác Lý do là nông dân thường dùng vôi trước khi thả cá nuôi Ec và các bon hữu cơ trong bùn đáy ao nuôi bằng thức
ăn viên thường thấp hơn của ao nuôi bằng thức ăn tự chế có lẻ do nông dân thường bỏ nhiều muois khi trộn thức ăn (Hình 1) TN của bùn đáy từ ao nuôi bằng thức ăn viên biến động từ 0.2-0.37% nhưng trên ao nuôi bằng thức ăn tự chế cao hơn có trị số là 0.27-0.42% (Hình 2) Bùn đáy ao có hàm lượng N tương đối thấp hơn lân và kali (Bảng 7&8) Tuy nhiên có tỉ lệ đạm khoáng hóa cao dưới dạng NH4+ và NO3- trích bằng KCl Thành phần của bùn đáy ao thu qua 4 tháng cũng giống như ở tháng thứ 5 Ngoài sự khác biệt về hàm lượng N và P trong bùn đáy ao thì hầu như không có sự khác biệt nào khác giữa bùn đáy nuôi bằng hai loại thức
ăn này
Trang 12Hình 1: Độ dẫn điện ở bùn đáy ao qua các đợt thu mẫu
Hình 2: Hàm lượng đạm qua các lần thu mẫu bùn đáy trên 2 loại ao nuôi
Bảng 7: Hàm lượng lân của bùn đáy ao qua các đợt thu mẫu
Đợt thu mẫu
0.322±0.1650ab
0.325±0.336b
0.977±0.505a 0.472±0.377b 0.45±0.353b
0.519±0.336b
39.512±30.199ab
30.240±22.819bc 29.378±15.773bc 48.083±19.434a
14.545±13.789c
40.006±73.389 41.319±19.712 39.365±27.883 37.808±11.688
5th
Trang 13Total K(%) Lân hữu dụng (mg/kg)
Đợt thu
1.138±0.216a
168.582±90.717a
215.074±93.997ab 236.334±79.095b 159.950±66.909a
177.798±32.228ab
162.357±97.508a
244.556±225.893bc 275.380±75.329c 219.551±102.053ab
181.272±90.401abc
Trang 14Bảng 9 Thành phần bùn đáy ao cá qua điều tra tại 12 hộ ở An Giang vào năm 2007-2008 Số liệu từ các ao giai đọan 4 và 5 tháng và tính trung bình từ 62 mẫu của thức ăn tự chế và 15 mẫu từ thức ăn viên cùng với độ lệch chuẩn
% C % N % P % K
NH4+
NO3 -N (mg/kg)
Olsen P (mg/kg)
Exch K (mg/kg) % Fe % Mg % Mn
Cu (mg/kg)
Zn (mg/kg)
Ca (mg/kg)
Cd (mg/kg)
5 tháng
Thức ăn viên 4.64 0.23 1.13 266 49.2 194 3.61 0.06 0.05 35.7 107 162 3.2
SE 0.47 0.02 0.05 37.6 5.24 9.6 0.41 0.00 0.01 1.37 6.5 67.3 0.26 Trung bình
TC 5.73 0.34 0.39 1.13 410 46.8 152 5.35 0.07 0.04 28.2 100 126 5.5
SE 0.57 0.02 0.05 0.02 15.5 3.47 12.0 0.36 0.00 0.00 0.77 3.1 31.8 0.39
Trang 15Thu mẫu nước: Ba vùng nghiên cứu được chọn là Châu Phú và Phú Tân của tỉnh An Giang, huyện Thốt Nốt, huyện Phong Điền và Bình Thủy của thành Phố Cần Thơ nơi thực hiện mô hình VAC được chọn để nghiên cứu Chất thải lỏng trong mùa khô và mùa mưa (đặc biejt là trong mùa lũ) được quan sát tại cống xả, 100 mét ngược dòng
và 100, 200, 300, 400 và 500 mét xuôi dòng chảy
pH nước trong kênh được đo ở chu kỳ 15 ngày/lần Số liệu trong hình 1 cho thấy
pH nước trước khi mở cống cao hơn một ít so với pH sau khi mở cống; tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa ở mức xác suất 5% trong cả hai mùa khô à mùa nắng Trong mùa lũ, sự khác biệt của hai nhóm số liệu lại càng nhỏ hơn so với mùa khô bởi
vì yếu tố pha loảng trong mùa lũ cao hơn Nhìn chung pH trong nước kênh sau khi có
xả thải vẫn còn trong mức iowsi hạn cho phép dùng cho sinh hoạt theo tiêu chuẩn (TCVN-5492-2005)
Hình 1: pH nước kênh trước và sau khi mở cống xả thải nước ao cá
Về EC trong nước kênh , số liệu trong hình 2 chỉ cho thấy EC đo ở các thời điểm khác nhau sau khi mở cống cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các trị số trước khi mở cống
Hình 2: Độ dẫn điện của nước kênh trước và sau khi mở cống xả nước ao cá Cũng như pH, các trị số EC trong mùa lũ đo ở các thời ddierm khác nhau trước và sau khi mở cống xả không khác biệt nhau
Không như pH và EC, trị số COD rất khác biệt khi lấy mẫu trước và sau khi
mở cống ngay cả trong mùa lũ Thông thường thì trị số COD của nước thải ao cá
Trang 16Hình 4: Nồng độ ammonium trong nước kênh trước và sau khi mở cống xả nước thải ao nuôi cá
Trường hợp của nồng độ nitrite và nitrate qua các khỏang thời gian khác nhau
và ở các điểm trước và sau khi mở cống xả thải, chúng thấp hơn tiêu chuẩn cho phép để sử dụng cho nước sinh họat ngay cả trong mùa khô khi mà hàm lượng nitrite và nitrate trong nước kênh cô đặc nhất
Tính trung bình TSS trong nước kênh sau khi mở cống xả nước thải (261± 64 mg/l) cao gấp 5 lần hơn thời điểm trước khi mở cống (54 ± 20 mg/l) Hình 5 cho thấy đa số trị số TSS trong nước kênh do có nước xả thải thường cao gấp 10-13 lần tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 (cột A- TSS ít hơn 20 mg/l) Ngay cả mức cho phép xả thải nước ao cá vào nguồn nước mặt theo thông tư số 02 (thấp hơn 80 mg/L) nhưng các trị số đo đạc thường cao hơn nhiều