Email: An Giang và thành phố Cần Thơ, và của nông dân nuôi cá Trê ở Cần Thơ khẳng định rằng việc xả chất thải lỏng và rắn ra nguồn nước cộng đồng có hơn 75% trường hợp vào sông rạch.. Mẫ
Trang 1Báo cáo kỹ thuật (CARD 023/06 VIE) Cải thiện chất lượng nước từ ao cá chảy vào đường nước
Cao văn Phụng1 và Bell R.W.2
1 Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, Vietnam Email:
An Giang và thành phố Cần Thơ, và của nông dân nuôi cá Trê ở Cần Thơ khẳng định rằng việc xả chất thải lỏng và rắn ra nguồn nước cộng đồng có hơn 75% trường hợp vào sông rạch Những người dân dùng nước ở các khu vực này nơi có các ao nuôi cá cho rằng nước thải từ các ao nuôi cá là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng nước Mẫu nước được thu ở 2 nơi
xả thải của tỉnh An Giang trong 5 tháng khẳng định rằng việc xả thải làm cho nước kênh vượt các tiêu chuẩn xả thải về COD, TSS và NH4 Tuy nhiên, ngay cả mức chất lượng nền tảng trước cũng thường trên mức ấn định để sử dụng cho sinh hoạt Hai nghiên cứu tình huống cho thấy khi đưa nước thải ao nuôi ca Trê qua ruộng lúa hoặc nước có chứa chất thải ao nuôi cá Trê đi qua ruộng lúa thì chất lượng nước được cải thiện về cơ bản, bằng cách giảm được về
cơ bản TSS, COD, BOD, N và P Cùng với chứng cứ là chất thải ao nuôi cá có thể thay thế được một phần nhu cầu phân bón dùng cho lúa, các kết quả này cho thấy tái chế chất thải rắn
và nước thải từ ao nuôi cá có thể thúc đẩy một kỹ thuật hữu hiệu dể cải thiện chất lượng nước cho cộng đồng Mới đây việc giảm mật độ ao nuôi cá ở vùng ĐBSCL, do lợi tức thấp, có thể
có tác động tốt cho chất lượng nước
1 Corresponding author Cuu Long Rice Research Institute, O’Mon district, Cantho city-Vietnam Phone No (84)
710861452 Fax: (84) 710861457 Email: caovanphung@hcm.vnn.vn
Trang 2Nội dung
• Dẫn nhập
• Điều tra cơ bản
• Chất lượng nước trong kênh nhận chất thải từ ao nuôi cá
• Nghiên cứu chất lượng nước trong hệ thống VAC
• Chất lượng nước sau khi qua ruộng lúa
• Ruộng lúa tải chất thải ao cá
• Khuôn khổ chiến lược để xác định áp dụng chất thải ao cá
Trang 3Dẫn nhập
Mục tiêu chính của dự án này là tìm ra phương pháp hữu hiệu để làm giảm ô nhiễm nước do chất xả thải từ ao nuôi cá Trong các báo cáo khác, việc xử lý nước và chất thải rắn đã được nghên cứu (Cao et al 2010a,b) Trong báo cáo này, nhấn mạnh vào chất lượng nước trong ao
cá và trong nước bị ảnh hưởng do xả thải Báo cáo xem vấn đề chất lượng nước gắn liền với
cá Tra cũng như cá Trê nuôi trong hệ thống VAC
Trong báo cáo này, kết quả của điều tra cơ bản được đùng để chứng minh dạng của ô nhiễm nước do chất xả thải từ ao nuôi cá Tra theo cách nhìn của nông dân và còn do lấy mẫu trên đồng ruộng ở tại 2 địa điểm
Mẫu nước thu thập được dùng để xác định hiệu quả của xử lý nước bằng cách tái chế qua ruộng lúa Sau cùng có thảo luwjn về nguyên tắc dự kiến cho việc áp dụng để xử lý nước trong tương lai bằng cách xả thải qua ruộng lúa
Điều tra cơ bản ở Cần Thơ và An Giang
Điều tra được tiến hành vào tháng 10 và tháng 11 năm 2007 ở Cần Thơ và vào tháng Giêng
và tháng Hai năm 2008 ở tỉnh An Giang Trong tổng số 240 phiếu phỏng vấn hoàn tất do các bên có liên quan (nông dân trồng lúa và nông dân nuôi cá được chọn ngẫu nhiên với số lượng bằng nhau) được thu thập (2 huyện/tỉnh) (Bảng 1, 2) Kết quả điều tra cơ bản được báo cáo đầy đủ vào tháng Tư năm 2009 (Cao et al 2009) Kết quả chính của nghiên cứu này được thảo luận bên dưới để nêu bật mối quan tâm chính về chất lượng nước như các nông dân nông dân nhận thức Thêm vào đó, kết quả điều tra báo cáo về tình hình lan tràn bệnh trên cá
và trên người mà chúng có thể là dấu hiệu cho sự ô nhiễm
Chất lượng nước
Nhìn chung khoảng phân nửa số nông dân hài lòng về chất lượng nước và 15-24 % cho rằng chất lượng nước kém Chỉ có 5-8 % nông dân nuôi cá có ao lắng riêng và đa số họ thải trực tiếp chất thải vào kênh rạch mà không qua xử lý Phan et al (2009) trong cuộc điều tra 89 trại nuôi cá dọc theo sông ở DDBSCL thấy chỉ có 3 % nông dân cho biết là có ao lắng riêng Tuy nhiên 15-24 % nông dân nuôi cá trong nghiên cứu này xử dụng ruộng lúa làm nơi xả thải Chất thải ao cá được nhìn nhận là tác nhân chính gây ô nhiễm ở An Giang trong khi ở Cần Thơ 37 % trả lời cho rằng ao cá Tra là nguyên nhân chính làm cho chất lượng nguồn nước kém Một phần cho lý do có sự khác biệt này là do 50 % của người được phỏng vấn ở An Giang sử dụng nước sông cho mục đích sinh hoạt trong khi có một tỉ lệ hộ tương tụ ở Cần Thơ sử dụng nước giếng khoan (Cao et al 2009) Nông dân cũng quan tâm đến hiểm họa cho việc nuôi cá do thuốc trừ sâu thải ra từ ruộng lúa
Loại thức ăn và các phụ liệu cung cấp cho cá làm ảnh hưởng đến chất lượng nước Ở thành phố cần Thơ phần lớn nông dân nuôi cá bằng thức ăn viên trong khi ở An Giang hầu hết nông dân tự chế thức ăn (Bảng 3) Cả hai nơi bổ sung trong thức ăn với các loại vitamins, enzymes
và khoáng Theo De Silva et al (2010) thức ăn tự chế làm gia tăng P thải ra chứ không phải
N so với thức ăn viên
Trang 4Bảng 1 Nhận thức của nông dân về chất lượng nước mặt gần nhà và việc thực hành xả thải hiện nay của các nông dân nuôi cá Tra Giá trị tính theo % của người được phỏng vấn trong
đó N=60 là số người trong 4 nhóm trả lời
- Sông hoặc kênh
Penicilline, Kanamycine, Oxamet, Tetracylline.được sử dụng để trộn vào thức ăn ở An Giang (96 %) hoặc hòa vào nước trực tiếp 40% nông dân ở Cần Thơ Hầu như tất cả nông dân đều
sử dụng thuốc kháng sinh ở liều lượng được khuyến cáo
Để trừ rong tảo trong ao nuôi cá, 93 % nông dân ở Cần Thơ và khoảng 66 % ở tỉnh An Giang dùng copper sulphate, BKC, Vikong, Chlorine, jucca và ngay cả muối ăn và vôi bột (Bảng 4) Điều đáng ghi nhận là chất thải rắn ao nuôi cá thường có shuwas một lượng đánh kể Cu
nhưng không đến mức dư thừa (Bảng 14) Trong số các hóa chất sử dụng, BKC và chlorine là phổ biến nhất cho cả hai nơi An Giang và Cần Thơ
Bảng 3: Đặc tính của thức ăn và phụ gia được sử dụng trong nông trại nuôi cá Tra Giá trị
theo % của người trả lời phỏng vấn N= 60 tại mỗi tỉnh
Loại thức ăn (%)
Trang 5Hầu hết nông dân thường rải vôi hoặc muối ăn dọc bờ ao và đáy ao nuôi sau khi lập ao mới
hoặc sên ao sau khi thu hoạch Lượng vôi và muối biến thiên từ 300-400 kg/ ha Ao được
phơi khô trong 3-5 ngày trước khi cho nước vào để nuôi vụ kế tiếp Có hơn 95 % nông dân
thay và/ hoặc châm thêm nước vào ao thường xuyên (khoảng 1/3 thể tích ao hàng ngày) và có
khoảng 50 % nông dân ở cả hai nơi thực hành vệ sinh đáy ao bằng cách bơm bùn ngoài trong
lúc nuôi cá Thêm vào đó, tất cả nông dân đều bơm bùn ra khỏi ao sau khi thu hoạch cá
(Bảng 5) Thực hành bơm chất thải rắn trực tiếp vào nguồn nước được 63-70 % nông dân
nuôi cá thực hiện (Bảng 6)
Hầu hết nông dân đều có máy đo pH cầm tay để giám sat chất lượng nước (Bảng 5) Cách
khác để phát hiện chất lượng nước bằng cách quan sát màu hoặc mùi nước Nông dân kết
luận rằng thiếu oxygen khi hầu hết cá nổi lên mặt ao ravào sáng sớm
Bảng 5: Quản lý nước trong ao nuôi cá Tra Giá trị theo % của người trả lời với N= 60 ở
Trang 6Nông dân nuôi cá thường vét sạch chát thải hữu cơ trong ao cá để ngăn ngừa bệnh lây lan cho
cá (Bảng 6) Số liệu điều tra cho thấy hầu hết bùn được thải trực tiếp ra đường nước (63 %),
các cách sử dụng bùn khác như để lấp chổ trủng hoặc tôn gốc cây ăn trái (37 %) Bơm bùn ra
từ 1 hoặc 2 lần (97 %), nhưng có khi hơn 2 lần là không phổ biến Bơm bùn thường bằng
máy bơm đáy ao (86%) hoặc bơm nước ra rồi vét bùn bằng tay (14 %)
Bệnh cá
Như đã cho thấy ở trên, hầu hết nông dân được phỏng vấn ở Cần Thơ và An Giang đều xả
thải trực tiếp vào sông rạch Việc xả chất thải từ ao cá có lẻ là nguyên nhân làm lây lan dịch
bệnh cho các ao lân cận Trong điều tra cơ bản, nông dân ở Cần Thơ và An Giang cho biết là
bệnh cá thường hiện hữu ở hai tỉnh này (Bảng 7) Hơn 65-73 % nông dân nuôi cá có kinh
nghiệm nhận diện triệu chứng bệnh xuất huyết hoặc phù đầu cá Tra, đặc biệt ở giai đoạn còn
nhỏ
Ở các huyện Châu Phú, Phú Tân, Thốt Nốt và Cần Thơ nơi có mật độ ao nuôi tương đối cao
so với diện tích tự nhiên, thường ở các nơi dễ tiếp cận với nước sông hoặc kênh chính Tất cả
các ao dọc theo kênh hoặc sông lấy nước cho ao cá Tra từ một nguồn nước chung Như vậy,
vi sinh vật gây bệnh có thể sản sàng lây lan từ người này sang người khác Việc phát tán bệnh
–do vi sinh vật trong kênh rạch không được khảo sát trong nghiên cứu này, mặc dù việc phát
tán chất rắn lơ lững trong chất thải tối thiểu là 600 m từ điểm xả thải Trong khi nông dân cho
biết thường có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát các loài dịch bệnh chính, giảm thiểu sự lây
lan bệnh tật bằng chất lượng nước tốt hơn có lẻ là kết quả của biện pháp xử lý chất thải ao
nuôi cá hiệu quả hơn
Bảng 6: Quản lý chất thải rắn ở trại nuôi cá Tra Giá trị theo % của người trả lời phỏng vấn
Trang 7Thời điểm nạo vét bùn
Tường trình về bệnh trên ngườido ô nhiễm:
Khảo sát về bệnh trên người do ô nhiễm được hoàn tất ở huyện Ô Môn và Thốt Nốt của TP
Cần Thơ và ở huyện Châu Phú và Phú Tân tỉnh An Giang Theo số liệu thu thập được từ
Trung tâm Y tế Dự phòng ở huyện Ô Môn và Thốt Nốt, trong năm 2006 và 2007 bệnh sốt
xuất huyết gia tăng Bệnh này lại xảy ra vào cuối năm 2008 chủ yếu ở miền Nam Việt Nam,
tình rất nghiêm trọng ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp (Cục Y Tế Dự Phòng – MOH Việt
Nam, 2008) Số liệu trong Bảng 8 cũng cho thấy bệnh tiêu chảy vào năm 2007 vao hơn năm
2006
Bệnh sốt xuất huyết, tiêu chảy và lỵ ở Phú Tân cao hơn ở Châu Phú và chúng có chiều hướng
gia tăng (Bảng 9) Dịch bệnh có liên quan đến hệ thống đê bao khép kín ở huyện Phú Tân nơi
mà mước kênh không thoát được Như đã báo cáo trong kết quả điều tra cơ bản, đa số nông
dân ở tỉnh An Giang (57 %) hiện vẫn còn dùng nước kênh rạch là nguồn cung cấp nước cho
cho gia đình sử dụng
Bảng 7: Bệnh trên cá Tra, giai đoạn xuất hiện và biệm pháp phòng trừ Giá trị tính theo %
của người trả lời N= 60 tại mỗi tỉnh
Trang 8Trong khi không phải là số liệu chính, thông tin về chiều hướng bệnh trên người ở 2 huyện có
mật độ ao nuôi cá cao có lẻ liên quan đến sự mở rộng nhanh chóngao nuôi cá trong những
Bảng 9: Bệnh trên người theo báo cáo của Trung Tâm Y Tế Dự Phòng năm 2006 & 2007 tại
huyện Phú Tân và Châu Phú
2005 2006 2007 2005 2006 2007 Sốt xuất huyết 112 300 495 411 595 438
Trang 9Chất lượng nước ở kenh nhận chất xả thải từ ao nuôi cá
Các địa điểm được chọn để thu mẫu nước là: huyện Châu Phú và Phú Tân ở tỉnh An Giang; huyện Thốt Nốt ở Cần Thơ Khu vực nghiên cứu có mật độ ao nuôi cá cao (Phan et al 2009) Việc thu mẫu nước cũng được tiến hành ở huyện Bình Thủy và Phong Điền gần TP Cần Thơ, trên mô hình VAC
Mẫu nước ở Châu Phú và Phú Tân trong mùa khô và mùa mưa (đặc biệt ở mùa lũ) được thu
ở cống xả, 100 m ngược dòng và 100, 200, 300, 400 và 500 m xuôi dòng Mẫu nước được đo
pH, EC, TSS, COD và NH4-N Mẫu nước trong kênh được thu định kỳ 15 ngày/lần trong 5 tháng vào 2 thời điểm trước khi xả thải 1-2 giờ và sau khi xả thải (Tháng Mười hai đến tháng Tư)
Số liệu trong hình 1 cho thấy pH nước trước khi mở cống cao hơn sau khi xả thải; tuy nhiên chúng không khác biệt nhau (P < 0.05) trong cả hai mùa mưa và nắng Trong mùa lũ, sự khác biệtt của hai bộ số liệu còn nhỏ hơn là vào mùa nắng do yếu tố pha loãng trong lúc lũ cao hơn nhiều (số liệu không được trình bày) Tóm lại pH nước trong kênh sau khi xả thải vẫn còn nằm trong giới hạn chấp nhận được cho nước dùng cho sinh hoạt (TCVN-5492-2005)
Độ dẫn điện đo được sau khi mở cống xả thải cao hơn so với giá trị trước khi mở cống (Fig 2) Tuy nhiên, trị số pH, EC của các lần thu mẫu trong mùa lũ là không khác biệt nhau có ý nghĩa về thống kê
Không giống như pH, nhưng tương tự như EC, trị số trung bình của COD rất khác biệt nhau qua phân tích thống kê trước và sau khi mở cống (Hình 3) Sự gia tăng trị số COD hiện hữu ngay cả khi mùa lũ Trung bình, trị số COD giảm theo khoảng cách từ điểm xả thải Tại điểm
500 m cách nơi xả thải, chúng chỉ vào khoảng một nửa nhưng vẫn còn cao hơn trị số trước khi xả thải
Hình 1: pH của nước kênh trước và sau khi mở cống xả chất thải ao nuôi cá vào nguồn nước Giá trị trung bình cho 40 số được thu 15 ngày 1 lần trong 5 tháng (Tháng Mười Hai đến tháng Tư) ở hai địa điểm của tỉnh An Giang (huyện Phú Tân và Châu Phú)
Trang 10Hình 2: Độ dẫn điện (EC) của nước kênh trước và sau khi xả chất thải ao nuôi cá Giá trị trung bình cho 40 số được thu 15 ngày 1 lần trong 5 tháng (Tháng Mười Hai đến tháng Tư) ở hai địa điểm của tỉnh An Giang (huyện Phú Tân và Châu Phú)
Thông thường COD của chất thải lỏng từ ao nuôi cá vượt trị số cho phép nước sử dụng cho sinh hoạt (dưới10 mg/L) ngoại trừ trong mùa lũ (tháng Mười – tháng Giêng) Thật vậy, ngay
cả trị số trong kênh chính trước và sau khi xả thải thường > 10 mg /L Tất cả các trị số trước avf sau khi xả thải vẫn nằm trong khoảng chấp nhận được cho chất thải thủy sản vào nguồn nước (35 mg/L <COD<100 mg/L)
Nồng độ ammonium ở cống xả vẫn cao hơn trước khi xả thải cho tới 500 m xuôi dòng chảy (Hình 4) Các nồng độ này nhìn chung cao hơn Tiêu chuẩn Việt Nam cho phép dùng làm nước sinh hoạt (ít hươn 0.5 mg/L) dựa theo TCVN5492-2005 nhưng chúng vẫn còn chấp nhận được cho xả thải theo Thông Tư số 02 của Bộ Thủy Sản
Trong trường hợp của nồng độ nitrite và nitrate đo được ở các thời điểm khác nhau trước và sau khi mở cống, chúng còn thấp hơn mức cho phép sử dunjng làm nước sinh hoạt ngay cả
Trang 11trong mùa khô khi nồng độ nitrite và nitrate trong nước kênh đạm đặc hơn mùa lũ (số liệu không được trình bày)
Trị số trung bình TSS trong nước kênh sau khi xả thải (261± 64 mg/l) cao hơn gấp 5 lần trước khi xả thải (54 ± 20 mg/l) Hình 5 cho thấy rằng hầu hết trị số TSS trong nước kênh do tác động của xả thải cao hơn từ 10-13 lần Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995 (cột A- TSS nhỏ hơn 20 mg/l) Ngay cả giá trị cho phép (nhỏ hơn 80 mg/L) chất thải ao cá xả vào nguồn nước mặt theo Thông Tư số 02 của Bộ Thủy Sản cũng thường bị vượt quá
Như vậy kết quả lấy mẫu cho thấy rõ rằng tác động đo đạc được của nước thải trên chất lượng nước kênh tối thiểu 100 m ngược dòng và 500 m xuôi dòng nước chảy Chất lượng nước đo được suy giảm do COD, NH4 và TSS tăng cao
Số liệu chất lượng nước này bổ trợ cho kết quả điều tra cơ bản của nông dân Tại Cần Thơ và
An Giang, 7-36 % nông dân đánh giá chất lượng nước là xấu, mà trong đó 37 đến 91 % là do chất lượng nước xấu do các ao cá thải ra Một tỉ lệ nông dân ở An Giang cao hơn nông dân ở Cần Thơ bị lâm nguy do chất lượng nước kém, có lẻ bởi vì tỉ lệ hộ gia đình cao hơn vẫn còn
lệ thuộc vào nước sông rạch dùng cho sinh hoạt
Hình 4: Nồng độ ammonium trong nước kênh trước và sau khi mở cống xả nước thải ao cá Giá trị trung bình 40 mẫu được thu 15 ngày 1 lần trong 5 tháng (Tháng Mười Hai đến tháng Tư) ở hai địa điểm của tỉnh An Giang (huyện Phú Tân và Châu Phú)
Trang 12Hình 5: Tổng chất rắn lơ lững trong nước kênh trước và sau khi xả nước thải ao cá Giá trị trung bình 40 mẫu được thu 15 ngày 1 lần trong 5 tháng (Tháng Mười Hai đến tháng Tư) ở hai địa điểm của tỉnh An Giang (huyện Phú Tân và Châu Phú)
Điều kiện lũ vào mùa mưa cải thiện được tác động xấu nhưng vẫn không tránh được nước thải vượt tiêu chuẩn xả thải theo TCVN 5942-1995 hoặc trị số cho phép của chất thải từ ao nuôi cá thải vào nguồn nước theo Thông Tư số 02 của Bộ Thủy Sản Nếu cống xả thải nước
ao cá bên cạnh cách khoảng dưới 500 m sẽ làm tác động tích lủy trên chất lượng nước trong khi Bosma et al (2009) chứng tỏ rằng tác động dồn của chất thải ao cá Tra lên chất lượng nước trên dòng chính sông Mekong sẽ không có ý nghĩa, trong các kênh sườn và trong hệ thống đê bao khép kín, sự suy giảm chất lượng nước đo lường được là bằng chứng trong các mẫu nước ở huyện Châu Phú và Phú Tân Thật vậy, sau khi xả thải, mẫu nước trong kênh dưới mức tiêu chuẩn về TSS, COD và NH4 Trong nghiên cứu này chúng tôi không khảo sát các đỉnh cao nồng độ về chất lượng nước tồn tại bao lâu theo phút, giờ hay ngày Sự hiện diện của các đỉnh trong nước ô nhiễm do chất thải ao nuôi cá xả ra dường như có liên quan dến mức độ ô nhiễm của nước thải, thể tích của nước thải quan hệ với dòng nước chảy trong kênh Kênh nhỏ vào mùa nắng với dòng chảy thaaspddeer tẩy rữa dường như chịu suy giảm
về chất lượng nước
Chất lượng nước trong ao nuôi cá:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng Mười Hai năm 2007 đến tháng Sáu 2008 ở huyện Phú Tân và Châu Phú của tỉnh An Giang trên chất lượng nước của 12 ao nuôi cá sử dụng 2 loại thức ăn viên và thức ăn tự chế
Kết quả cho thấy rằng trị số pH vẫn nằm trong mức chấp nhận được (7.0-8.0) mặc dù có sự khác biệt giữa các ao sử dụng thức ăn viên và thức ăn tự chế (kết quả không được trình bày) Tất cả các ao cá đều có độ đục cao hơn mức cho phép để ao cá xả thải (80 mg/L; kết quả không được trình bày) Ao cá ở Phú Tân có TSS thấp hơn ở Châu Phú bởi vì hầu hết ao ở Phú Tân gần sông lớn để họ có thể thay nước tốt cho ao cá (số liệu không trình bày) Trị số TSS
và BOD trong ao nuôi thức ăn viên thấp hơn ao nuôi bằng thức ăn tự chế nhưng không khác biệt về thống kê COD ở cả hai nơi đều cao hơn giới hạn cho phép về nước thải ao nuôi thủ
Trang 13sản thải ra nguồn nước mặt điều này cũng phù hợp với mẫu thu trong kênh có xả thải (Hình Fig 3)
Bảng 10: So sánh chất lượng nước ao nuôi cá Tra ở tinh An Giang (huyện Phú Tân và Châu Phú) dùng thức ăn khác nhau Giá trị trung bình của 4 ao nuôi bằng thức ăn viên và 8 hộ nuôi bằng thức ăn tự chế
Ao nuôi bằng thức ăn viên có trị số N hữu dụng và tổng P cao hơn thức ăn tự chế do thức ăn viên có dinh dưỡng đậm đặc hơn (Bảng 10) Tuy nhiên , nồng độ nitrite và nitrate trong ao nuôi bằng thức ăn viên thấp hơn
Tổng đạm hữu dụng, nitrite, nitrate, phosphate, tổng N và P gia tăng theo thời gian sau khi thả cá nhưng không có sự khác biệt gì đáng kể cho cả hai nơi (số lieju không trình bày ở đây
Nghiên cứu chất lượng nước ở hệ thống VAC
Hệ tống VAC thường ở các khu vực đất cao ven sông Những nơi này có sa cấu đất thịt có độ thấm rút nước cao thích hợp cho việc lập vườn cây ăn trái và trồng các loại rau màu
Một nghiên cứu nhỏ được tiến hành trên hệ thống VAC ở 2 quận/huyện Bình Thủ và Phong Điền của TP Cần Thơ Vườn cây ăn trái được bố trí trên những chổ đất cao cạnh các mương vườn và ao nuôi cá Cây ăn trái gồm nhã, vú sữa, sầu riêng, chôm chôm hoặc cam quít/chanh
là các loại cây phổ biến nhất ở những nơi này Vịt được nuôi nhiều nhất kế đến là gà hoặc heo Cá rô phi, cá mè và cá tai tượng được nuôi trong các mương vườn Những loài này thường được nuôi với mật số thấp (<30 fish/m2) và chúng không gây ra ô nhiễm nào được ghi nhận Cá da trơn với loài khác cá Tra như cá Trê trắng, Trê vàng, Trê lai được nuôi trong ao
để bán cho thị trường nội địa là chủ yếu
Không có sự khác biệt lớn về kích cở và chiều sâu ao giữa hai địa điểm này (Bảng 11) Do ao không qáu lớn, lao động gia đình có thể quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến việc nuôi
cá Cá Trê đạt trọng lượng 200-250 g/con được bán thịt (cở thương mại) Kích cở lớn hơn hoặc nhr hơn thì bán giá thấp hơn Hầu hết nông dân nuôi cá Trê nuôi bằng thức ăn tự chế
TP (mg/L)
BOD (mg/L)
COD (mg/L)
TSS (mg/L)
Trang 14hoặc mua nguyên liệu từ lối xosmvowsi giá 2,500-3,000VND/kg Cá Trê được bán với giá
12,000-20,000VND/kg tùy theo nhu cầu của thị trường
Canh tác cá Trê (Clarias sp.) gây ra ô nhiễm nguồn nước mặt cao hơn cá Tra bởi vì nước thải
chủ yếu xả vào sông rạch Nước thải từ ao nuôi cá Trê có đặc trưng là màu đen, các chỉ tiêu
TSS, BOD và COD rất cao, mùi tanh do thiếu oxy (Bảng 12) Tác động sâu sắc nhất của
nước thải ao cá Trê là làm cho cá tự nhiên trong sông rạch bị chết do có nồng độ oxygen thấp
trong nước thải Bùn tích tụ trong ao nuôi cá Trê là không đáng kể do các chất thải hầu như lơ
lũng do mật độ cá trong ao cao và độ sâu thấp nên được quậy liên tục (khoảng 120-150 con/
m2 diện tích mặt ao) Chất thải rắn được trộn với nước và thải ra môi trường bên ngoài Tuy
nhiên, các vật chất lơ lững sẽ lắng tụ dọc đường nước và kênh rạch làm ngăn trở giao thông
thủy
Bảng 11: Thông tin tổng quát về nuôi cá Trê ở hai huyện của tỉnh Cần Thơ
Trang 15BOD5 (200C) (mg/L) 120 104
Tất cả các ao nuôi cá Trê qua điều tra cho thấy đều thải nước trực tiếp vào đường nước làm
cho ô nhiễm cao ở các khu vực này Sự xung đột giữa nông dân nuôi cá Trê và cư dân trong
vùng là phổ biến vì vậy rất khó để thuyết phục học hợp tác để xử lý chất thải Mặc dù chính
quyền địa phương đã xiết chặt việc cấm xả thải trực tiếp vào nguồn nước nhưng vấn đề này
hầu như vượt ngoài tầm kiểm soát Do hầu hết nông dân nuôi cá Trê không có ao lắng hoặc
ruộng để áp dụng xử lý, ô nhiễm nguồn nước trong khu vực này rất nghiêm trọng
Dù cá Trê có thể sống được trong nước bị ô nhiễm, nó cũng bị các bệnh do vi khuẩn gây ra
nhưng tỉ lệ hao hụt thì thấp hơn nhiều so với cá Tra Các chất hóa học và sinh học dùng cho
nuôi cá Trê ít nhiều cũng giống như trong việc nuôi cá Tra (Bảng 13)
Bảng 13: Hóa chất dùng cho xử lý nước và trị bệnh cá Tra Giá trị được tính theo % của nông
dân có sử dụng sản phẩm
Sản phẩm sinh học: biozyme, US-zyme,
Chất lượng nước sau kho đi qua ruộng lúa
Tác động của đường nước thải đi qua ruộng lúa trên chất lượng nước được đánh giá ở 2 địa
điểm Châu Phú và Phong Điền Trong trường hợp đầu nước di vào kênh dẫn chứa nước thải
nhiều ao cá tập trung Nước đước hướng đi qua ruộng lúa bằng kênh khác Mẫu nước được