1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Thay thế phân bón hoá học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường " pptx

49 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thay thế phân bón hoá học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường
Trường học Vietnam Academy of Agriculture (Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 501,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng của điều tra là nông dân, cán bộ khuyến nông cũng như kỹ thuật viên nông nghiệp tại địa phương, là những người chịu trách nhiệm cho việc mở rộng các ứng dụng kỹ thuật mới, như

Trang 1

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Hợp tác vì sự Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn

Báo cáo đánh giá

013/06VIE Thay thế phân bón hoá học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu

để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ

môi trường

August 2010

Trang 2

Thông tin các cơ quan tham gia dự án

Tên dự án: Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi

sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập cho nông dân và cải thiện môi trường

Cơ quan Việt nam chủ trì dự án Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI)

Chủ nhiệm dự án Việt nam Ths Trần Yên Thảo

Cơ quan Úc NSW Department of Primary Industries

Đại học Sydney

Nhân sự phía Úc Dr David Herridge

Dr Rosalind Deaker

Bà Elizabeth Hartley Ông Greg Gemell

Thời gian bắt đầu 3/2007

Thời gian hòan tất (đầu tiên) 3/2009

Thời gian hòan tất (sửa đổi) 8/2010

Cán bộ liên lạc

Tại Úc: trưởng nhóm

Tên: Dr David Herridge Telephone: 02 67631143

Chức vụ: Nhà Khoa học cao cấp Fax: 02 67631222

Cơ quan Sở các nghành Công nghiệp

cơ bản NSW

Email: david.herridge@dpi.nsw.gov.au

Tại Úc: cán bộ quản lý

Tên: Mr Graham Denney Telephone: 02 63913219

Chức vụ: Quản lý Tài chính Fax: 02 63913327

Cơ quan Sở các nghành Công

nghiệp cơ bản NSW Email: graham.denney@dpi.nsw.gov.au

Tại Việt nam

Tên: Ths Trần Yên Thảo Telephone: 08 9143024 –

8297336

Cơ quan Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có

dầu (OPI) Email: yenthao@ioop.org.vn yenthao9@yahoo.com

Trang 3

Báo cáo bao gồm:

1 Thay đổi về thái độ và thực hành về sử dụng chế phẩm vi khuẩn cố định đạm

2 Phân tích ảnh hưởng kinh tế cho nông dân của các chế phẩm trong luân canh cây trồng

3 Định hướng các chương trình tiếp theo để áp dụng rộng rãi chế phẩm vi sinh cố định đạm cho các vùng trong và ngoài dự án

án So sánh giữa hai điều tra này sẽ xác định sự sẵn có chế phẩm rhizobium tăng lên sau hoạt động của dự án hay không (mục tiêu 1 của dự án) và chương trình khuyến nông có hiệu quả không trong việc tăng hiểu biết và đòi hỏi chế phẩm (mục tiêu 2 của dự án)

Phương pháp

Điều tra ban đầu thực hiện trong suốt thời gian từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2007 và cuộc điều tra lần thứ hai trong thời gian tháng 3 đến tháng 8 năm 2009 Đối tượng của điều tra là nông dân, cán bộ khuyến nông cũng như kỹ thuật viên nông nghiệp tại địa phương, là những người chịu trách nhiệm cho việc mở rộng các ứng dụng kỹ thuật mới, như là sử dụng chế phẩm rhizobium cho cây họ đậu

So sánh các số liệu của cả hai điều tra chỉ ra các thay đổi về hiểu và ứng dụng các chế phẩm rhizobium

Điều tra này (phiếu điều tra trong phụ lục 1) bao gồm 9 câu hỏi:

1 Anh chị có nghe nói về chế phẩm vi khuẩn cố định đạm cho cây họ đậu?

2 Anh, chị có biết chế phẩm làm gì không? Đưa ra các chi tiết

3 Nếu có, ai cho các anh, chị biết về thông tin này?

4 Anh hay chị có sử dụng chế phẩm này cho canh tác cây lạc hay đậu tương của mình?

5 Nếu không, Tại sao?

6 Anh hay chị có thể mua chế phẩm này trên thị trường?

7 Anh hay chị có sử dụng chế phẩm nếu anh hay chị có thể mua trên thị trường? Đưa ra các lý do

8 Anh hay chị có sử dụng phân bón hoá học N cho cây lạc hay đậu tương?

9 Nếu có, sử dụng ở liều lượng bao nhiêu?

Các câu hỏi này được thiết kế để thu thập thông tin cả về số lượng và chất lượng liên quan đến hiểu biết và thái độ đối với chế phẩm Số liệu về số lượng cung cấp thông tin về mức độ hiểu biết và nhu cầu cho chế phẩm trong khi thông tin về chất lượng cung cấp thông tin về

Trang 4

hiểu biết chức năng của chế phẩm, nguồn thông tin, lý do không sử dụng, các mong muốn và vấn đề liên quan đến sử dụng chế phẩm mà nông dân thấy là quan trọng

Khi kết thúc dự án, nông dân và cán bộ khuyến nông, những người đã từng tham gia trong 36 thí nghiệm đồng ruộng và 181 điểm trình diễn, cũng như các thành viên tham gia các hội thảo đầu bờ và các lớp đào tạo đã được phỏng vấn lại để xác định ảnh hưởng của đào tạo và chương trình khuyến nông vê hiểu biết và thái độ

Phỏng vấn thực hiện tại các vùng trồng lạc và đậu tương đã xác định của dự án tại Việt nam (bảng dưới đây) Đó là tại các tỉnh Sơn La (Vùng cao miền bắc), Nghệ An (Vùng ven biển miền bắc), Bình Định (Duyên hải Nam Trung bộ), DakLak, DakNong (Cao nguyên Nam Trung bộ), Bình Thuận và Tây Ninh (Đông Nam bộ), Đồng Tháp, An Giang (Đồng bằng Sông Cửu Long) Các điểm điều tra được lựa chọn trên cơ sở thảo luận với cán bộ thuộc Trung tâm Khuyến nông để mà phù hợp với các vùng mở rộng canh tác đậu tương và lạc trong mỗi tỉnh được điều tra

Số CB khuyến nông

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải nam Trung

bộ Bình Định 24 154 12 82

12 72 4 12

Cao nguyên Nam

20 50 20 25 20 25 3 4 Dak Nong 20 50 20 25 20 25 0 4

Tây Ninh 28 113 28 113 0 0 5 21

Đồng bằng Sông Cử

An Giang 54 110 0 0 51 110 8 8 Trà Vinh 24 125 24 125 0 0 3 6

Nông dân tham gia trong điều tra này là những người đã từng trồng cây họ đậu trong thời gian đáng kể và có nhiều kinh nghiệm trong canh tác Các nông dân tham gia vào điều tra này được giới thiệu bởi các cán bộ khuyến nông và những người làm công tác nông nghiệp tại địa phương Trong số 281 người được điều tra năm 2007 có 153 (54%) trồng lạc, 168 (60%) trồng đậu tương và trong số 1021 người tham gia điều tra trong năm 2009, có 454 (44.5%) trồng lạc và 607 (59.5%) trồng đậu tương

Trang 5

dự án năm 2009 hầu hết nông dân vẫn sử dụng phân N hoá học cho cây lạc và đậu tương của

họ và liều lượng sử dụng thì không thay đổi so với năm 2007 Điều này cho thấy sự phụ thuộc vào phân bón hoá học N sẽ không giảm cho tới khi chế phẩm vi khuẩn cố định đạm trở nên có sẵn trên thị trường

Bảng sau đây mô tả phản hồi đối với mỗi câu hỏi của điều tra Bộ dữ liệu được chỉ ra trong Phụ lục 2

Câu hỏi 1 Anh/Chị có bao giờ nghe nói về chế phẩm vi khuẩn cố định đạm cho cây họ đậu?

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải nam Trung

bộ

Bình Định 8 88 92 12 100 100 0 0

Cao nguyên Nam

Trong cuộc điều tra trước khi dự án đi vào hoạt động, chỉ có 12% nông dân có hiểu biết về chế phẩm, so với 69% cán bộ khuyến nông Hầu hết các nông dân biết về chế phẩm là ở Đồng bằng Sông Cửu Long, có thể điều này phản ánh ảnh hưởng của nghiên cứu về

Rhizobium tại Đại học Cần Thơ Dresearch at Cantho University Gây ngạc nhiên là hiểu biết

Trang 6

của cán bộ khuyến nông về vấn đề này thay đổi lớn giữa các vùng, từ 100% ở một số vùng (An Giang và Trà Vinh ở Đồng bằng sông Mekong) cho đến 0%ở các vùng khác (Nghệ An ở vùng Ven Biển miền Bắc) Tại điều tra sau dự án , sau khi thực hiện các đào tạo, hội thảo đầu

bờ, hội thảo và thực hiện các điểm trình diễn, hiểu biết về chế phẩm rhizobium tăng lên Tỷ

lệ nông dân (85%) và cán bộ khuyến nông (100%) đã nghe nói/biết về chế phẩm nhiều hơn

so với lúc ban đầu chỉ có 12% nông dân và 69% cán bộ khuyến nông

Câu hỏi 2 Anh/chị có hiểu chế phẩm rhizobium làm được những gì?

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải nam Trung

bộ

Bình Định 4 88 96 12 0 100 100 0

Cao nguyên Nam

Tổng

80 83 56 55 47

Trang 7

Kiểu phản hồi của nông dân và cán bộ khuyến nông đối với câu hỏi này thì tương tự với câu hỏi số 1 Hầu hết các câu trả lời liên quan đến nốt sần và tăng N/cdinh dưỡng cho cây như là kiếu vai trò đối với tăng trưởng của cây họ đậu Một nông dân và và hai cán bộ khuyến nông

có nghe nói về chế phẩm rhizobium nhưng không biết chúng có vai trò gì ở cuộc điều tra năm 2007 Năm 2009, 82% nông dân và 100% cán bộ khuyến nông hiểu về nó, so với chỉ có 11% nông dân và 61% ở điều tra ban đầu

Câu hỏi 3 Nếu có biết về chế phẩm, ai nói cho anh/chị biết?

Nông dân phản hồi đối với nguồn thông tin về chế phẩm

Duyên Hải Nam

Nguồn thông tin chính về chế phẩm chủ yếu từ hội thảo (86%), trình diễn đồng ruộng (79%)

và thí nghiệm đồng ruộng được tổ chức thông qua hoạt động của dự án Kết quả này cho thấy thực tế là hầu hết các phản hồi từ điều tra là từ những người đã tham gia hội thảo và trình diễn đồng ruộng Một số nguồn thông tin khác là từ truyền thông, hàng xóm và bạn bè

Câu hỏi 4 Anh/Chị có dùng chế phẩm rhizobium cho cây đậu nành hay đậu phộng?

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải nam Trung

Trang 8

Cao nguyên Nam

0

0

100

100 Dak Nong 0 32 100 68 0 0 100 100

Tây Ninh 0 7 100 93 25 0 75 100

Đồng bằng Sông Cử

An Giang 2 14 98 94 0 0 100 100 Trà Vinh 0 18 100 90 0 0 100 100

Câu hỏi 5 Nếu không sử dụng chế phẩm, thì tại sao không?

Phả hồi từ câu hỏi này như sau:

% Nông dân % Cán bộ khuyến nông Phản hồi

2007 2009 2007 2009 Không biết về chế phẩm 88 17 49 0 Không có để mua 11 83 51 100

Ban đầu, lý do mà nông dân không sử dụng chế phẩm là do bởi họ thiếu hiểu biết về nó trong

klhi đó cán bộ khuyến nông, là nhóm hiểu hơn về chế phẩm và tác dụng của nó nhưng họ đã

không khuyên nông dân sử dụng bởi vì hai lý do: thiếu kiến thức và chế phẩm thì không có

sẵn trên htị trường Lý do dẫn tới không sử dụng chế phẩm trong năm 2009 thì hầu như bởi

vì không có chế phẩm Hiểu biết về chế phẩm tăng lên đáng kể là do đào tạo và công tác

khuyến nông thực hiện bởi dự án

Các phản hồn này hơn nữa chỉ ra rằng chế phẩm chưa sẵn có trên thị trường cho nông dân ở

tại các vùng điều tra Một số nông dân có thể mua chế phẩm Một số phản hồi là đã sử dụng

chế phẩm (câu hỏi 4), cơ bản là họ có từ hai công ty ở Sơn La và Nghệ An, là hai công ty bán

chế phẩm này trên địa bàn

Câu hỏi 6 Anh/Chị có thể mua chế phẩm trên thị trường?

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải nam Trung

bộ Bình Định 0 0 100 100 0 0 100 100

Cao nguyên Nam

0

0

100

100 Dak Nong 0 0 100 100 0 0 100 100

Trang 9

Câu hỏi 7 Anh/Chị có dùng chế phẩm nếu anh/chị có thể mua nó trên thị trường ?

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải Nam Trung

bộ Bình Định 100 100 0 0 100 100 0 0

Cao nguyên Nam

100

100

0

0 Dak Nong 100 94 0 6 100 100 0 0

Tây Ninh 100 100 0 0 100 100 0 0

Đồng bằng Sông Cửu

An Giang 96 95 4 5 100 100 0 0 Trà Vinh 100 98 0 2 100 100 0 0

Có sự quan tấm lớn của nông dân và cán bộ khuyến nông về sử dụng chế phẩm một khi có chế phẩm này (chỉ có rất ít nông dân trong số 1021 nông dân điều tra trong năm 2009 và trong số 281 nông dân điều tra trong năm 2007 nói rằng họ không sử dụng chế phẩm)Sự quan tâm này phụ thuộc vào lợi ích sinh học và kinh tế đã được trình diễn Tuy nhiên, vơi sự quan tâm cao như vậy thì sản xuất thương mại và kinh doanh tại Việt nam sẽ khả thi về mặt kinh tế

Phản hồi từ cả hai điều tra 2007 và 2009 chỉ ra rằng mong muốn của nông dân về chế phẩm rhizobium thì khác nhau giữa các vùng Đối với lợi ích của chế phẩm, chỉ có 1% nông dân vùng Núi phía Bắc là mong muốn có lợi ích về môi trường so với 44% nông dân tại Đồng bằng Sông Cửu Long (22% tính trung bình) Nông dân tổng quát được thuyết phục bởi năng suất tăng và lợi ích kinh tế (79 và 97%) bao gồm cả tiết kiệm phân bón N so với chế phẩm rhizobium rẽ tiền, mang lại kết quả thu nhập cao hơn

Tuy nhiên, nông dân rất tích cực về chế phẩm, quan tâm để hiểu biết hơn nữa về chế phẩm,

họ tin tưởng vào bản chất của chế phẩm (có thể phản ánh niềm tin đối với cán bộ khuyến nông) và hầu hết muốn áp dụng chế phẩm (99%) Nông dân cho rằng họ cần có các điểm trình diển, hội thảo và tài liệu khuyến nông ví dụ như các tờ bướm và một hệ thống phân phối tốt (nghĩa là để nông dân có thể mua chế phẩm một cách dễ dàng) Họ cũng cần hướng dẫn

sử dụng chế phẩm Trung bình, 80% nông dân xem kỹ thuật nhiễm (nghĩa là dễ áp dụng) là

Trang 10

quan trọng đối với việc chấp nhận công nghệ này Họ cũng quan tâm đến học hỏi từ các công nghệ mới/hiện đại, d0ặc biệt là nông dân tại Đồng bằng Sông Cửu Long

Nông dân phản hồi về những vấn đề họ quan tâm về lợi nhuận từ chế phẩm và các vấn

đề sử dụng chế phẩm trong tương lai (%)

Vùng Năng suất LợI ích về

năng suất LợI ích về kinh tế LợI ích về môi

trường

Phương pháp Khuyến nông Khác

Câu hỏi 8 Anh/Chị có áp dụng phân bón N khi canh tác đậu tương hay lạc?

2007 2009 2007 2009 2007 2009 2007 2009

Duyên Hải nam Trung

bộ Bình Định 100 100 0 0 100 100 0 0

Cao nguyên Nam

100

100

0

0 Dak Nong 80 76 20 24 100 100 0 0

Tây Ninh 100 100 0 0 100 100 0 0

Đồng bằng Sông Cử

An Giang 98 100 2 0 100 100 0 0 Trà Vinh 100 100 0 0 100 100 0 0

Trang 11

Phân bón hoá học N được sử dụng rộng rãi tại Việt nam trong canh tác đậu tương và lạc, với 94% nông dân và 100% cán bộ khuyến nông Một điểm hấp dẫn là ở hai vùng cao khi mà áp dụng phân bón N không phổ biến, chỉ ra rằng có thể có khó khăn về cung cấp và giá cả, hoặc

là cả hai đối với phân bón N

Câu hỏi 9 Nếu có sử dụng phân bón N, anh/chị sử dụng bao nhiêu cho 1 ha?

Liều lượng trung bình áp dụng phân bón N thay đổi từ 25 kg N/ha ở vùng Núi phía Bắc cho đến 80 kg N/ha tại Đồng bằng Sông Cửu Long

Vùng Lượng phân bón sử dụng trung bình (kg/ha)

và lạc trong tương lai ở các vùng trọng điểm của Việt nam phần lớn do các lý do về hiệu quả kinh tế mà chế phẩm mang lại và do nônmg dân mong muốn áp dụng kỹ thuật mới và tiên tiến Sử dụng chế phẩm ít tại thời điểm điều tra lần thứ hai phản ánh thiếu sản phẩm trên thị trường Điều tra này chỉ ra rằng chế phẩm rhizobium cho cây họ đậu sẽ được chấp nhận nhanh chóng tại Việt nam nếu nó sẵn có và dễ dàng sử dụng Tăng cường sản xuất và áp dụng chế phẩm rhizobium tại Việt nam, đi đôi với chương trình khuyến nông hiệu quả, sẽ dẫn đến kết quả là sự áp dụng rộng rãi Chương trình khuyến nông tiếp theo vẫn cần phải nhấn mạnh đến thay thế phân bón N đầu vào, mà nó chiếm phần đáng kể trong đầu tư sản xuất hai cây này Một chương trình bao gồm đầy đủ các yếu tố đó sẽ dẫn đến tăng thu nhập cho nông dân và giả nghèo tại nhiều vùng nông nghiệp

Trang 12

Phần 2 Phân tích ảnh hưởng kinh tế của chế phẩm cho nônmg dân trong luân canh cây trồng

Như đã đề cập trong Bác cáo Kỹ thuật (Tháng 9/2009) của dự án, tăng lợi ích kinh tế bằng việc giảm phân bón N đầu vào đã rõ ràng, trung bình lợi nhguận tăng 4.500.000VNÐ/ha đối với cả hai cây trồng này

Xác định lợi nhuận đối với cây lúa trong canh tác luân canh với cây họ đậu không thực hiện trong khuôn khổ các thực nghiệm của dự án này bởi vì mục tiêu chính của dự án là sản xuất, phân phối và tiếp cận thị trường, đào tạo nông dân Tuy nhiên, lợi ích từ các cây họ đậu trong

hệ thống trồng luân canh với cây ngũ cốc đã được nghiên cứu kỹ lưỡng

Cây họ đậu một cách tổng quát tăng N của đất bằng cách cung cấp tàn dư giàu N và bởi sự để dành nitrate cho các cây trồng sau đó Sự cung cấp N thông qua tàn dư của cây họ đậu một cách cơ bản giảm đòi hỏi phân bón N cho cây trồng sau đó do đó giảm chi phí đầu vào cho cả một hệ thống cây trồng Tài liệu khoa học cũng đã chỉ rõ rằng các cây trồng luân canh có thể làm giảm tỷ lệ bệnh và do đó tăng lợi nhuận kinh tế thông qua tăng năng suất do nguồn bệnh

bị năn chặn

Phần 3 Chiến lược về chương trình mở rộng sự chấp nhận chế phẩm rhizobium trong

và ngoài các vùng trồng đậu tương và lạc tham gia trong dự án

Đã kết luận trong chương trình điều tra nông dân và cán bộ khuyến nông về áp dụng chế phẩm rhizobium ở Việt nam rằng tăng sản xuất và cung cấp chế phẩm chất lượng cao tại Việt nam, đi đôi với thực hiện chương trình khuyến nông hiệu quả sẽ dẫn đến sự chấp nhận rộng rãi chế phẩm

Thị trường cho chế phẩm này tại Việt nam vào khoảng 500 ngàn tấn/năm, giả sử rằng liều lượng sử dụng là 1 kg chế phẩm/ha và khoảng 50% diện tích cây họ đậu được áp dụng chế phẩm Số lượng sản phẩm này vượt quá sự cung cấp từ các viện nghiên cứu tham gia trong

dự án (nhỏ hơn 20 tấn/năm) Do đó, sự tham gia của công ty tư nhân là cần thiết để đáp ứng thị trường

Komix là một công ty sản xuất phân bón với một hệ thống phân phối rộng lớn, là công ty có nhiều khả năng áp dụng sản xuất chế phẩm trong tương lai Komix đồng hành với dự án, thực hiện các thí nghiệm đồng ruộng, các điểm trình diễn, tham gia hội thảo đầu bờ và hội thảo nông dân Cán bộ của Komix đã được đào tạo về sản xuất chế phẩm qui mô nhỏ tại IOOP Sản xuất ban đầu tại Komix sẽ ở qui mô trung bình và với kế hoạch tăng sản xuất khi đạt được sự thành thạo trong sản xuất Năng lực sản xuất hiện tại là 2 tấn/tháng (24 tấn/năm) đủ cung cấp cho 24.000 ha diện tích trồng đậu tương và lạc

ISF hợp tác với 2 công ty tư nhân ở Nghệ An và Sơn La có thể sản xuất 12 tấn/năm Năng lực sản xuất hiện tại tại IAS và IOOP là 5 tấn/năm Do đó, sản xuất chế phẩm hiện tại tại Việt nam là 46 tấn/năm., đáp ứng khoảng 10% tiềm năng thị trường Thị trường sẽ tăng lên bởi cả tăng năng suất chất lượng Nếu lượng áp dụng cho 1 ha giảm xuống 250 g/ha thì 40% thị trường sẽ được đáp ứng với tiềm năng sản xuất hiện tại

Trong lúc sản xuất chế phẩm tăng lên từ từ thì công nghệ cần thiết tiếp tục phát triển để hấp dẫn công ty tư nhân hơn nữa đến sản xuất, tăng sản xuất chế phẩm Điều này có thể có được

Trang 13

thông qua sự phát triển chế phẩm đa chủng để áp dụng cho lúa trong hệ thống lúa-cây họ đậu

do đó tăng tiềm năng thị trường bằng cách tăng diện tích áp dụng Kinh phí cho khám phá ý tưởng này đang được xem xét bởi Bộ Khoa học và Công nghệ Việt nam Chứng cứ đã được xuất bản cho thấy lúa trồng trong hệ thống luân canh với cây họ đậu có thể mang lại lợi ích cho rhizobium (ví dụ như luân canh một loại đậu và lúa tại Ai Cập) Cũng có một số tài liệu chứng minh tăng sự hình thành nốt sần thông qua nhiễm cho cây đậu tương và lạc với cả hai loại rhizobium và PGP

Các công ty tư nhân có hệ thống phân phối riêng của họ, thông thường được sắp xếp thông qua các đại lý Một cách khác được nẩy sinh khi đoàn đánh giá của chương trình CARD và IOOP nói chuyện với nông dân tại Đồng Tháp Đó là nông dân tham gia trong dự án có thể trở thành người phân phối chế phẩm hữu hiệu Điều này được đề xuất bởi một nông dân rằng anh ta có thể phân phối ít nhất chế phẩm tương đương 50 ha cho hàng xóm Rất nhiều nông dân giỏi như vậy tham gia trong dự án và đây có thể là hệ thống phân phối hữu hiệu cho sự phân phối chế phẩm ở thời gian đầu khi các viện nghiên cứu sản xuất chế phẩm

Chương trình quản lý chất lượng rất quan trọng để duy trì sản xuất ổn định và phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm đã được xây dựng bởi dự án sẽ được chuyển giao cho nhà sản xuất để phục vụ kiểm tra chất lượng nội bộ trong quá trình sản xuất và phân phối Hơn nữa, nên có một phòng thí nghiệm kiểm tra chất lượng độc lập để kiểm tra chất lượng chế phẩm được sản xuất ra bởi nhà sản xuất và cung cấp giống mẹ cho sản xuất lớn IOOP có thể làm nhiệm vụ này bởi vì nó đã được trang bị cơ sở vật chất thông qua dự án và tiếp tục được trang bị bởi Bộ Công thương

Đào tạo và chương trình khuyến nông trong tương lai sẽ cần tiếp tục nhấn mạnh rằng chế phẩm rhizobium có thể thay thế phân bón N đầu vào, phần đáng kể trong chi phí sản xuất của đậu tương và lạc Điều này sẽ dẫn đến tăng thu nhập cho nông dân và đóng góp vào việc giảm nghèo ở nông thôn Chức năng của các Trung tâm Khuyến Nông tỉnh rất quan trọng Điều này đã được chứng minh thông qua hoạt động của dự án trong 3 năm qua Chương trình khuyến nông sẽ đạt hiệu quả cao khi cán bộ khuyến nông tham gia vào chương trình nhiều hơn

Khi dự án khởi đầu vào năm 2007 có 10 Trung tâm Khuyến nông được mời tham gia trong

dự án Họ đã được đào tạo để đào tạo lại nông dân về cố định đạm sinh học, áp dụng chế phẩm rhizobium và cách sử dụng Họ đã nhận chuyển giao tài liệu đào tạo và khuyến nông Các trung tâm Khuyến nông trở nên ngày càng độc lập hơn thông qua sự phát triển của dự

án Ví dụ, Trung Tâm Khuyến Nông Đồng Tháp tham gia vào dự án từ năm 2007, thực hiện các điểm trình diễn đồng ruộng, hội thảo nông dân, hội thảo đầu bời dưới sự hướng dẫn của IOOP Đến năm 2009, với sự trợ giúp của dự án, họ đã hoàn thành trình diễn diện rộng 61.5

ha đậu tương, có sự tham gia của 120 nông dân Đến năm 2010, họ đã xây dựng một trình diễn trên 100 ha đậu tương với sự tham gia của 150 hộ dân, chưa kể các nông dân hàng xóm Chính quyền địa phương đã hỗ trợ kinh phí cho trình diễn sau này và cán bộ khuyến nông đã đóng vai trò cho tất cả các hoạt động trình diễn, đào tạo nông dân và tổ chức hội thảo IOOP theo dõi các hoạt động mà không còn đòi hỏi chịu trách nhiệm thực hiện nữa Một trình diễn diện rộng khác nữa đã được lên kế hoạch thực hiện ở một huyện khác của tỉnh Đồng Tháp vào vụ tới (bắt đầu vào tháng 2/2011) và kinh phí đã được duyện từ nguồn kinh phí địa phương

Trang 14

Tình trạng tương tự như vậy đối với Trung tâm Khuyến nông huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Năm 2010 tỉnh đã hỗ trợ kinh phí cho Trung tâm thực hiện trình diễn 14 ha lạc áp dụng nhiễm chế phẩm với sự tham gia của 13 hộ gia đình và cung cấp kinh phí cho một trình diễn lớn đã được đồng ý thực hiện vào vụ Đông/Xuân 2010/2011

Trong tương lai, mối liên kết giữa cán bộ khuyến nông, chính quyền địa phương và nhân sự của dự án sẽ được duy trì để tiếp tục thực hiện một chương trình khuyến nông hiệu quả Cũng

dự định rằng mối quan hệ mới giữa cán bộ khuyến nông và cán bộ dự án sẽ được phát triển trong các vùng trồng cây đậu tương và lạc khác Gần 12.000 tờ bướm đã được xuất bản và

5000 cuốn sách bỏ túi đang trong quá trình in ấn sẽ được gởi tới các tỉnh tham gia trong dự

án và cả một số các tỉnh khác

Trang 15

Phụ lục 1

Phiếu điều tra

1 Thông tin chung

Tỉnh :

Huyện :

Xã :

Ngày điều tra:

Tên người điều tra

Tên nông dân/cán bộ khuyến nông

2 Câu hỏi:

Câu hỏi 1: Anh/Chị có nghe nói về chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu?

Câu hỏi 2: Anh/Chị có biết chế phẩm này làm gì không? Nêu chi tiết

Câu hỏi 3: nếu có biết, ai cho anh/chị biết các thông tin này?

Câu hỏi 4: Anh/Chị có áp dụng chế phẩm này cho cây lạc và đậu tương?

Câu hỏi 5: nếu không, tại sao?

Chi phí lao động thêm vào đáng kể khi áp dụng nhiễm?

Thay đổi tập quán canh tác?

Không dễ bảo quản chế phẩm?

Gợi ý để cải thiện hơn nữa kỹ thuật nhiễm

Câu hỏi 6: Anh/Chị có thể mua chế phẩm này trên thị trường?

Câu hỏi 7: Anh/Chị có sử dụng chế phẩm nếu sản phẩm này có trên thị trường? Nếu vậy, đưa ra lý do

- Lợi ích

+ Lợi ích sinh học

Năng suất tăng?

Năng suất duy trì so với áp dụng phân bón N hóa học?

+ lợi ích kinh tế

Tiết kiệm phân bón N?

Giá cả chê phẩm hợp lý?

Tăng thu nhập?

+ Lợi ích môi trường

Sản phẩm sinh học thân thiện với môi trường

Trang 16

- Kỹ thuật nhiễm

Tính khả thi của kỹ thuật/dễ dàng sử dụng?

Chi phí công lao động thêm vào không đáng kể?

Không làm thay đổi tập quán canh tác?

Câu hỏi 8: Anh/Chị có áp dụng phân bón N hóa học cho cây lạc và đậu tương?

Câu hỏi 9: nếu có, liều lượng bón là bao nhiêu?

Trang 17

2008-2009

Coastal North

2007

2009

Trang 18

Central Coastal South

2007

2009

82 72 136 18 136 18 10 144 0 154 154 0 154 0 37 Central Highlands

2007

2009

South East Upland

2007

Trang 19

2009

Binh

Tay Ninh

Trang 20

Tra Vinh My Long Nam Cau Ngang Tra Vinh 8 0 3 5 3 5 0 8 0 8 8 0 8 0 79

An Giang

Trang 21

Tra Vinh

Trang 22

2009

7 7 0 7 0 0 7 0 7 0 7 0 7 Coastal North

2007

2009

Trang 23

2009

Central Highlands

2007

2009

Trang 24

South East Upland

2007

2009

Tinh Thoi

Ngày đăng: 22/06/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình  thành  nốt sần nhiều hơn - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Thay thế phân bón hoá học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường " pptx
2. Hình thành nốt sần nhiều hơn (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm